Viết Lại Lịch Sử (Secret Army Secret War) by kimau

 

 

 LTS:Tuần trước "Những Người Lính Một Thời Bị Lăng Quên" đă hoàn thành tâm nguyện "Viết Lại Lịch Sử". Ngày 18-6-1996, đoàn quân "The Lost Commandos" từ Georgia đă khởi hành đi Hoa Thịnh Đốn để chứng kiến một sự kiện không tiền khoáng hậu liên quan đến Vietnam War - lần đầu tiên trong lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ,một người không mang quốc tịch Hoa Kỳ được Ủy Ban T́nh Báo Thượng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ - Senate Intelligence Committee mời vào điều trần trước Quốc Hội Hoa Kỳ về một vấn đề liên quan đến cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội - cả Khu Hội CTNCT và Cộng Đồng Việt Nam tại Georgia xôn xao, nửa lo, nửa mừng- Và vinh dự thay. người đại diện của "The Lost Commandos" không ai xa lạ chính là đương kim Tổng Thư Kư Cộng Đồng Việt Nam Georgia, Tổng Thư Kư Ṭa Soạn Nguyệt San Tự Do, Đại Diện Gia Đ́nh BKCT Atlanta, Georgia, Cựu Biệt Kích Lôi Hổ Hà văn Sơn tức Kim Âu là người chính thức được mời vào điều trần.

 

Hồi tưởng lại cách đây tám tháng, vào ngày 29-10-1995, cử tọa hơn ba trăm người tham dự buổi ra mắt của "Những Người Lính Một Thời Bị Lăng Quên" đă được nghe bài diễn văn tràn đầy quyết tâm, hào khí Viết Lại Lịch Sử do chính Kim Âu Hà văn Sơn tuyên đọc.

Những lời văn để lại ấn tượng sâu sắc đó, đến nay đă trở thành hiện thực.

Qủa thực "Lịch Sử đă được Viết Lại". Xứng đáng thay! "Con người chỉ có thể làm được lịch sử khi thực sự có tâm t́nh với lịch sử".

Chúng tôi kính mời quư chiến hữu, đồng bào, độc giả theo dơi bài viết đầy cảm xúc về một sự kiện lịch sử không tiền khoáng hậu của người lính - đă Viết Lại Lịch Sử - Kim Âu Hà văn Sơn.

 

Nguyệt San Tự Do

 

 

 

 

 

 

"Nh́n vẻ mặt hân hoan của đồng đội, ḷng tôi dậy lên một niềm vui khôn tả và tôi cũng biết rằng tại Georgia có rất nhiều người thân yêu của chúng tôi đang chờ đón tin lành. Và tin lành đó lại đến đúng vào ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Ngẩng nh́n trời tôi thấy ḷng ḿnh rạng rỡ. Ánh nắng làm tôi hoa mắt. H́nh ảnh bố mẹ tôi hiển hiện nh́n tôi với ánh mắt từ ái, bao dung... vây quanh song thân của tôi là những người đồng đội đă khuất. Họ cũng mỉm cười nh́n tôi đầy t́nh thương mến...

 

Những h́nh ảnh đó được bao trùm trong vầng hào quang rực rỡ của năm sắc cầu vồng. Tôi tin rằng những linh hồn đó đă hiển thánh và bao lâu nay vẫn theo phù trợ tôi trên bước đường tranh đấu v́ danh dự quốc gia, dân tộc, v́ một Việt Nam Tự Do - Dân Chủ - Nhân Quyền.

 

Cuối cùng, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đă chọn lấy đạo đức và vinh quang cho nước Mỹ bằng cách dũng cảm và trung thực nh́n nhận sự hy sinh cao cả của những người Biệt Kích Cảm Tử Việt Nam cho Tổ Quốc và Lư Tưởng Tự Do...

 

Bước chân vào nhà sau chuyến đi quyết định đă 1:10 ngày 20 - 06 - 1996. Đúng như dự liệu, luật sư đă “fax” tới báo tin toàn thể Thượng Viện đă thông qua Tu Chính Án công nhận danh dự và trả lại quyền lợi cho lực lượng Biệt Kích Việt Nam.

Quyết định này được tính vào ngân sách quốc pḥng tài khóa 1997. Thượng Viện c̣n lên tiếng là việc này cần phải thực hiện sớm và được coi như một hành động chuộc lỗi.

 

Việc bỏ phiếu công nhận Biệt Kích Cảm Tử Việt Nam của Thượng Viện Hoa Kỳ là một hành động chính thức đầu tiên nh́n nhận sự hiện diện của đội quân này.Chiến thắng vẻ vang này chính là một cột mốc của lịch sử đă chứng minh ḷng dũng cảm, chí hy sinh và sự kiên cường của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa trong cuộc chiến Diệt Cộng tại Việt Nam đồng thời minh định với toàn thể thế giới về sự hiện diện của người Việt Nam tại hải ngoại hoàn toàn không phải v́ lư do kinh tế, không phải v́ tham sinh úy tử, không dám chiến đấu để bảo vệ đất nước mà do chính hành xử sai lầm của người Mỹ trong quá khứ.

Chiến thắng này chắc chắn sẽ triệt tiêu mặc cảm tự ti dân tộc của một số người vong bản bấy lâu nay chối bỏ cội nguồn, mở lối cho họ trở về với niềm tự hào và kiêu hănh Việt Nam./.

 

 

 

 

 

 

Tiếng Nói Công Lư

 

 

 

Giữa trời Bắc Mỹ hiên ngang

Viết Lại Lịch Sử vẻ vang giống ṇi

Ngược gịng mệnh nước nổi trôi

Khí Hùng Lạc Việt ngút trời tự do

 

Kim Âu Hà Văn Sơn

 

  

 

Tôi nhận được lá thư của luật sư vào chiều ngày 14 tháng Sáu chuyển thư của Uỷ Ban Đặc Cử T́nh Báo Thượng Việt Hoa Kỳ mời tôi đi tham dự buổi điều trần tại Thượng Viện Hoa Kỳ. Luật sư khuyến khích tôi nên cố gắng rủ thêm một số anh em Commandos cùng đi để hỗ trợ, lập tức tôi thông báo đến toàn thể đồng đội của ḿnh mở một cuộc họp khẩn cấp để chuẩn bị tinh thần đối phó với sự việc. Theo truyền thống đoàn kết của những Commandos : “Nhục cùng chia. Vinh cùng hưởng” nhưng trong cuộc đối đầu này phần chính yếu là hàng chục chuyến ra trước pháp đ́nh đối diện với những đại diện của Bộ Quốc Pḥng và CIA tự tôi đă bỏ bao tiền bạc, công sức làm hết nên khi tôi yêu cầu toàn thể anh em tại Atlanta xin nghỉ việc hai ngày để đi Washington DC chứng kiến buổi điều trần mang tính chất quyết định này hầu như không ai dám thoái thác kiểu “ngồi chờ sung rụng” như trước đây. Ngoại trừ một số người v́ lư do cá nhân buộc phải ở lại không thể tham dự vào chuyến đi đặc biệt này.

Sáng 18- 6 -1996, chiếc xe Van 15 chỗ khởi hành đúng 9 giờ sáng dưới ánh nắng vàng rực rỡ như tín hiệu khải hoàn, trên xe ngoài 14 cựu biệt kích có thêm hai bà vợ của hai người trong đoàn. Tôi cầm lái khoảng hơn một tiếng; sau đó nhường lại tay lái cho Quách Hinh v́ đầu óc bề bộn những suy tư về cuộc điều trần. Vốn đă quen với những bất ngờ nên ít khi tôi phải bận tâm trong công việc nhưng lần này quả t́nh tôi có hơi lo ngại.  

Ứng khẩu để nói trước Thượng Viện của siêu cường thế giới bằng chính ngôn ngữ của họ đúng là cả một vấn đề nan đối. An tâm sao được. Sơ sẩy một chút là thất bại không phương cứu văn.

Thành công th́ lắm người ghen tỵ. Thất bại lại lắm chuyện cười chê.... miên man suy nghĩ.... bỗng nhiên tôi thấy lại tất cả... gần 30 mươi năm luân lạc, mài sắc ư chí chờ phút giây Viết Lại Lịch Sử này sao lại âu lo?....

Phải thắng, phải đại định... phải tự tín, tự hào. Lẽ phải ở về phía ḿnh, hơn nữa theo dơi và giúp sức cho ḿnh c̣n hàng ức triệu anh hồn, tử sĩ của Tổ Quốc và Dân Tộc...

 

 

 

Cuộc chiến này là cuộc chiến v́ Danh Dự và Công Lư không phải chỉ riêng cho những người Biệt Kích Việt Nam mà đây chính là cho cả Dân Tộc Việt Nam. Ngẫm nghĩ, tôi thấy tủi ḷng, thương thân ḿnh và thương yêu đồng đội của ḿnh vô bờ bến. Mắt tôi bỗng cay cay, xúc động bỗng trào dâng.

 

Mẹ Việt Nam! Mẹ có biết không? Những người con yêu dấu của mẹ lại một lần nữa tiến hành cuộc chiến đấu không cân sức và vô cùng cô đơn v́ Danh Dự và Phẩm Giá Việt Nam. Một cuộc chiến không người hậu thuẫn. Một cuộc chiến mà những kẻ có chức quyền cùng với lũ chính khách xôi thịt trước đây và đám trọc phú “ ngụy trí thức” háo danh, tham tước hiện nay ngoảnh mặt làm ngơ.

Một lần nữa “ Những người anh hùng của Thế Kỷ” “ Những Hiệp Sĩ của Tự Do”, những người con yêu của mẹ lại nằm giữa những ṿng vây và áp lực qúa nặng nề.

 

Tổ Quốc ơi!

Mẹ Việt Nam ơi!

Hăy cho con đủ nghị lực và sáng suốt để đạt tới thắng lợi cuối cùng...

 

Nh́n lại những khuôn mặt thân yêu của những đồng đội trong chuyến đi quyết định. Những mái đầu muối trắng, những khuôn mặt đầy nét tàn phá của thời gian và nhục h́nh, những tấm gương của phẩm giá làm người. Tôi càng cảm thấy t́nh nghĩa đồng đội của chúng tôi bao la, cao quư vô ngần. Đă bao năm qua chúng tôi là niềm an ủi của nhau, d́u dắt nhau, bảo bọc nhau đi qua mọi gian nan, khốn khó, đọa đày. Kẻ ngă người nâng tất cả kết lại thành một khối kim cương bất hoại để mạnh hơn cái Ác của con người...

Trên đường đi, trong lúc hướng dẫn cho Hinh lái, tôi gọi điện thoại tới những trung tâm Commandos khác để trao đổi thông tin. Theo thông báo của đồng đội ở các bang th́ chuyến đi của chúng tôi không hề được các trung tâm khác biết đến tới.

Tôi điện thoại lại cho Tourrison, anh ta vừa đi tham dự ngày kỷ niệm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa tại Chicago về và cũng không nhận được thông tin nào khác . Khi biết tôi và các bạn đang trên đường về Washington DC anh nói hăy ngừng để khi tới nơi sẽ bàn..

Xe vẫn bon bon trên đường thiên lư. Hết xa lộ 85 chuyển qua xa lộ 95 hướng về Richmond thủ phủ bang Virginia, quê hương của người anh hùng lập quốc George Washington.

Từ sớm, tôi đă gọi cho bạn bè tại Virginia nhờ đặt chỗ tại khách sạn và đón xe của chúng tôi để dẫn đường vào Washington DC. Theo thói quen công tác luôn phải dự pḥng nhằm tránh bất trắc. Tôi gọi thêm cho chị Phạm Lệ Trinh, Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Cử Tri Việt Nam để chị sẵn sàng trợ giúp khi cần. Qua điện đàm thấy chị rất vui vẻ và sẵn sàng đón tiếp chúng tôi.

Sau lần nghỉ dùng bữa dọc đường cuối ngày tại một địa điểm c̣n cách Washington DC 146 MILES. Tôi bắt liên lạc với anh Quách Thọ- một người bạn thân của mấy anh em trong gia đ́nh Biệt Kích. Anh Thọ lại giành phần lo lắng ăn ở cho cả đoàn chúng tôi.

Ưu thế là nhà anh Thọ chỉ cách văn pḥng Thượng Viện có 7 phút xe. Hơn nữa các cháu đă lớn, lại quen đường. Cuối cùng sau mấy phút phân vân suy tính, tôi quyết định chọn điểm trú chân tại nhà anh Thọ.

Gần tới Richmond trời đổ mưa đúng như mọi người đă dự đoán từ sớm. Không gian mịt mờ, hơi nước đọng trên kiếng xe làm hạn chế tầm nh́n. Tốc độ xe chạy chỉ c̣n khỏang 50 miles/ giờ làm tôi nóng ruột bồn chồn. Ḷng tôi chỉ muốn tới nơi thật nhanh chóng để được tận dụng chút thời gian c̣n lại hầu chuẩn bị cho buổi điều trần ngày mai. Ngồi trên xe nhưng tôi ngầm ấn định thời gian biểu của mọi công việc cho thật khớp để nghỉ ngơi, lấy lại b́nh tĩnh, đặng chu toàn trách nhiệm. Mải lo tính toán, tôi quên cả việc gọi lại cho chị Trinh và bạn tôi để nói rơ lư do không đến với họ như đă hẹn.

Tới cửa ngơ Thủ Đô đă 10 giờ đêm, lạ đất, trời lại tối, không xem rơ bản đồ.Tôi bảo Quách Hinh rẽ vào exit dẫn tới Pentagon City và đậu tại trạm xe điện ngầm rồi gọi điện thoại tới anh Thọ để cho người nhà ra dẫn đường.

Anh em chúng tôi xuống xe, tỏa ra trên ngă tư đường Hayes và đường 12th chờ người nhà. Phần tôi, khi chỉ cho Hinh lái xe vào đây cũng có ư riêng. Tôi muốn nh́n thấy cái nơi mà 30 năm trước đây người ta đă lạnh lùng phản bội, khai tử chúng tôi. Sau đó lại cố t́nh bưng bít và mượn tay Cộng Sản để vùi chôn tội ác của ḿnh.

 

Không thể có thứ Công Lư nào được tạo nên bằng sự dối trá và phản bội. V́ không có sự dối trá và bội phản nào được vĩnh viễn dấu kín.

 

Để xem những lập luận trơ trẽn dựa vào một án lệ lạc hậu, lỗi thời từ năm 1875 của các luật gia Ngũ Giác Đài, CIA, Bộ Tư Pháp có thể đứng vững nổi trước sự phán xét của lương tri hay không?

 

Những nhà tư pháp bảo thủ, những luật gia duy lư của Hoa Kỳ đă thể hiện cao độ sự dốt nát, tính thực dụng lưu manh, sự ấu trĩ và thiển cận của những tên trí thức khoa bảng vô luân.

 

Trước đây trong một truyện ngắn đầy ẩn dụ, đại văn hào Kafka đă chỉ rơ tính bất nhân và sự áp đặt phi lư của hệ thống tư pháp thế giới đối với con người:

 

“ Công Lư chỉ có với người chết”

 

Nếu như thế th́ lần này Công Lư sẽ có thực. Một thứ Công Lư cho người chết nhưng người chết ở đây đă đội mồ sống dậy quyết tâm đ̣i lại món nợ năm xưa đồng thời dạy cho những kẻ đang nuôi dă tâm trên khắp thế giới một bài học về Danh Dự và Phẩm Giá làm người.

 

Tự do là một khái niệm động. Là tiến hóa. Lịch sử của nhân loại cũng là một tiến tŕnh thường có những đột biến vũ băo nên cơ chế già nua của hệ thống tư pháp nhiều lúc không thể đáp ứng kịp thời ngay cả đến những vấn đề đạo đức b́nh thường nhất là SỰ CÔNG BẰNG chứ nói ǵ đến Công Lư...!!.

 

Tôi đứng giữa bạn bè, ḷng nặng trĩu ưu tư, phẫn nộ khi nhớ lại những ngày tháng trầm luân trong luyện ngục. Tôi muốn ǵ? Tất nhiên là thắng lợi. Chỉ có thắng lợi mói thỏa măn ḷng phẫn hận của những người c̣n sống.

Nhưng khi thắng lợi, Công Lư đến với người c̣n sống th́ có ǵ và c̣n ǵ cho những đồng đội đă vĩnh viễn ra đi..?..

 

Cuối cùng, người nhà đă t́m ra chúng tôi. Tới nhà anh Thọ, tôi vội vă điện cho Tourrison. Anh ta vẫn đợi, qua điện đàm thấy anh có vẻ lo lắng v́ suốt thời gian qua h́nh như quá bận rộn với những chuyến đi nói chuyện về cuốn sách “Secret Army Secret War” do đó việc trao đổi thông tin với luật sư bị đứt quăng.

Anh hỏi tôi:“ Ai là người thay mặt anh em điều trần trước Thượng Viện”.

Tôi trả lời:

-” Sơn sẽ làm nhiệm vụ đó. Ngày mai lúc 7:45 sáng, tôi sẽ gặp luật sư tại văn pḥng của Thượng Nghị Sĩ John Kerry, ông ấy sẽ cho biết thêm chi tiết”.

 

Sau khi trao đổi với nhau một số vấn đề nữa, tôi và Tourrison tạm ngưng v́ đă quá khuya. Hẹn gặp lại vào lúc 9:00 sáng tại buổi điều trần...

Tôi ngồi nói chuyện với anh em mà đầu óc vẫn theo đuổi những suy nghĩ riêng tư... Tourison nói tôi sao không yêu cầu luật sư trả chi phí vận chuyển theo như thông tục của Hoa Kỳ. Thật ra nếu tôi chỉ đi một ḿnh th́ có vé phi cơ khứ hồi nhưng đó lại là điều tôi không muốn và cũng không thích.

Điều tôi muốn là nhiều anh em chứng kiến tận mắt sự kiện không tiền khoáng hậu này: Chỉ một nhóm nhỏ người Việt Nam trở về từ địa ngục trần gian đẩy lương tri nước Mỹ đến trước ranh giới của : “Đạo Đức với Vô Luân, Vinh Quang và Ô Nhục, Trung Thực và Giả Dối, Dũng Cảm với Hèn Nhát” mà chắc chắn họ phải chọn những chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức xuất phát từ yêu cầu của những chiến sĩ Biệt Kích Việt Nam.

 

Sau khi cơm nước, chuyện văn tới gần 3:30 sáng ngày 19 - 6 - 96 chúng tôi mới cố gắng t́m một giấc ngủ qua quưt...

Trở dậy lúc 5:30, tôi đánh thức anh em dậy, sửa soạn đến văn pḥng Thượng Nghị Sĩ Kerry. Tuy dậy rất sớm nhưng lục tục măi đến khi khởi hành cũng đă 7:00. Cho xe vào băi đậu xong đă 7:20..

 

Từ chỗ đậu xe lên đến Thượng Viện là một quăng đường khá dài. Đứng trước văn pḥng Thượng Viện chờ những người chậm bước đi sau. Nh́n xuống tôi thấy Lê Ngung đang đi trong đám anh em. Thoắt đó đă mười mấy năm. Bè bạn gặp nhau tay bắt mặt mừng nhưng cũng không tránh khỏi ngậm ngùi, chua xót cho nhau.

Thời gian độc ác, vô t́nh hủy hoại tất cả..

Nói chuyện với nhau vài câu, tôi đưa ư kiến:“Không gặp th́ thôi, bây giờ gặp Ngung ḿnh muốn bạn thay ḿnh làm công tác điều trần v́ dù sao bạn cũng đă qua đây trước ḿnh cả chục năm rồi”

Ngung thoái thác và thú nhận :

-”Sơn đảm nhiệm việc điều trần đi. Ḿnh cũng có nhiều chữ không chắc hiểu được, vả lại Sơn lư luận vững vàng, tự tin và hoạt bát hơn ḿnh nhiều đừng đẩy qua, đẩy lại hỏng việc”...

 

Tôi nh́n lại những khuôn mặt già nua, khô héo của đám anh em. Ai biết được chính những con người này ba thập kỷ trước đă xem núi Thái tợ lông Hồng đă từng giă biệt gia đ́nh cất bước lên đường một cách hết sức hào hùng, lăng mạn:

 

Đi để đến những vùng đầy bất trắc.

Đi để đương đầu với những gian nguy.

Đi dấn sâu vào những vùng tử địa.

Nhịp súng ngâm câu chinh chiến mấy ai về.

Trai thời loạn có sá ǵ sống chết

Đi ngăn thù chẳng tiếc đời xuân

 

Kim Âu

 

Họ đă ra đi với ước mong trả nợ non sông, đem mùa Xuân về cho dân tộc:

 

“ Nặng trĩu hai vai nợ đấu tranh.

Con nguyền dâng trọn tuổi xuân xanh.

T́m vào cơi chết nuôi mầm sống.

Nuôi mộng tương lai mộng trưởng thành.

 Hoàng Ngọc Chính

 

Và giờ đây, cuộc chiến sau cùng để khẳng định Danh Dự - Phẩm Cách Việt Nam một lần nữa lại trao cho những người Biệt Kích, và thật sự trĩu nặng trên vai tôi... Định mệnh của Lịch Sử.......

 

Sau khi những nhân viên an ninh Thượng Viện làm việc xong, chúng tôi lên văn pḥng Thượng Nghị Sĩ John Kerry. Tuy đă sắp đến giờ hẹn nhưng không thấy ai. Anh em đứng trước văn pḥng chuyện văn khoảng vài phút th́ thư kư riêng của TNS John Kerry tới. Anh ta cho chúng tôi biết, luật sư John Mattes đang t́m xem chúng tôi đă tới chưa. Nói xong vừa quay lại th́ luật sư cũng vừa lên tới. Ông chào hỏi anh em rồi cùng thư kư riêng của TNS John Kerry đưa chúng tôi xuống pḥng ăn của Thượng Viện.

Tại đây, chúng tôi điểm lại nhân số lần cuối và trao đổi t́nh h́nh với luật sư. Tôi trách luật sư tại sao ông cho tôi biết việc này quá muộn. Tôi không chuẩn bị được kỹ lưỡng.

Luật sư mỉm cười và nói: “Tôi đă nghe anh trả lời phỏng vấn nhiều lần; đồng thời cũng nói chuyện thường xuyên với anh nên tôi tin anh sẽ điều trần thắng lợi.”

Tôi thố lộ ưu tư của ḿnh:“ Về bằng chứng luật sư có t́m ra thêm  ǵ không?”

Luật sư đột nhiên vui vẻ:

-”Mọi việc về hồ sơ đă có tôi. Phần anh cứ nói bằng trái tim như anh vẫn thường nói lúc trước. Tôi tin ở anh. Hôm nay, tôi sẽ chứng minh cho tất cả mọi người biết rằng Sơn Văn Hà chính là một Biệt Kích Cảm Tử, một Chiến Sĩ của Tự Do. Ông Hà, ông ngồi gần lại đây tôi cho ông xem cái này.”

Tôi ghé vào gần; luật sư mở va li nhỏ đựng hồ sơ. Ông lật tờ b́a rồi hỏi tôi:

-” Ông nh́n thấy chữ kư này có quen không?”

Tôi bàng hoàng xúc động thầm nói một ḿnh:

-” Bố linh thiêng yêu kính! Lúc nào bố cũng theo phù hộ chúng con. Khi bố mất rồi con nghĩ rằng bố đă yên nghỉ ngàn thu. Thế mà hôm nay, anh linh của bố vẫn không xa rời con nửa bước. Tạ ơn bố thương yêu.”

Chưa xuống pḥng điều trần, thắng lợi đă rơ ràng. Luật sư đă t́m được toàn bộ hồ sơ của tôi với những dấu mộc của cơ quan hữu trách Hoa Kỳ từ văn khố quốc gia Hoa Kỳ và quan trọng hơn cả là chữ kư của bố tôi trong bản lănh tiền tử tuất của con chết trong khi đang công tác với chính phủ Hoa Kỳ.

Sau tuần cà phê, chúng tôi kéo xuống pḥng điều trần. Chị Tourison cười rất tươi chào chúng tôi. Anh em ngồi vào hàng ghế thứ hai dự khán. Anh Tourison, Lê Ngung và tôi ngồi hàng đầu tiên, trước mặt chúng tôi có ba ghế cho những người ngồi điều trần đối diện với các Ủy Ban của Thượng Viện Hoa Kỳ ngồi trên mấyhàng ghế bố trí ṿng cung từ thấp lên cao. Trong pḥng có khá nhiều phóng viên báo chí và có đến gần chục máy truyền h́nh. Phóng viên nhiếp ảnh ḅ lê la trên sàn để chụp ảnh nhằm tránh che khuất các ống kính.

 

Khai mạc buổi điều trần,

Chủ tịch SPECTER phát biểu:" Sáng nay, Ủy ban T́nh báo Thượng viện sẽ tiến hành một phiên điều trần về một vấn đề liên quan đến cách đối xử của Hoa Kỳ đối với người Việt Nam được kêu gọi hỗ trợ đất nước chúng ta trong chiến tranh Việt Nam, trong một câu chuyện nhiều lần xuất hiện trên mặt báo chí, truyền h́nh là một câu chuyện thực sự đáng kinh ngạc về sự đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo và thực sự, dă man của Hoa Kỳ, nếu những sự thật được xác minh trong quá tŕnh điều trần....."..

Chỉ ngày hôm qua, sau khi lên lịch cho phiên điều trần này, chúng tôi đă không có bất kỳ lời chính thức nào từ CIA. Trong một bức thư nhận được ngày 18 tháng 6, từ Quyền Giám đốc George Tenet, nói rằng lập trường của chúng tôi là những tuyên bố của họ không chính đáng và thực tế trong diễn đàn là sai. Có một sự nhượng bộ, trích dẫn "việc nhiệm vụ của những người biệt kích này có phải là một sai lầm không liên quan đến nghĩa vụ đạo đức của chúng ta đối với họ bây giờ hay không."

Thật khó hiểu làm thế nào trong một đoạn, Giám đốc Quyền của CIA có thể nói về nghĩa vụ đạo đức và sau đó nói về các thủ tục từ chối thanh toán, để lại vấn đề cho Quốc hội. Và tôi nghĩ rằng Quốc hội có thể xử lư vấn đề này, nhưng thực sự gây sốc cho tôi, rằng Bộ Tư pháp, Bộ Quốc pḥng và CIA sẽ có một vị trí trước ṭa để bác bỏ những tuyên bố này không hợp lệ .

Nó thực sự khó có thể phụ thuộc vào các ủy ban giám sát của Quốc hội và chính Quốc hội để giải quyết cho những bất công có thể sờ thấy, nghiêm trọng này. Và Ủy ban này dự định sẽ đi đến tận cùng của nó. Và chúng tôi đang tiến hành phiên điều trần hôm nay và bất kỳ phiên điều trần tiếp theo nào khác có thể cần thiết để xóa hồ sơ và thanh trừng những bất công này.

Bây giờ tôi chuyển sang Phó Chủ tịch xuất sắc của chúng tôi, Thượng nghị sĩ Robert Kerrey.

Phó chủ tịch Kerrey. Xin cảm ơn Chủ tịch rất nhiều. Tôi phải nói ngay từ đầu, tôi không dự đoán phiên điều trần này với niềm vui lớn. Chiến tranh Việt Nam là một trong những tập phim đau đớn nhất trong lịch sử nước ta. Như chúng ta sẽ được nhắc nhở ngày hôm nay, điều đó thậm chí c̣n đau đớn hơn đối với người Việt Nam so với chúng ta. Ngay cả khi đấu tranh cho tự do của người Việt Nam, một số người Mỹ đă làm những điều làm tăng sự đau khổ của họ. Và sự phản bội lại những biệt kích  “ Những Chiến Sĩ Của Tự Do” này dường như là một trường hợp như vậy.

Thời gian thực hiện chức năng chữa bệnh bằng cách làm mờ kư ức đau đớn. Và khi chúng ta chọn nghiên cứu các sự kiện của cuộc chiến từ 30 năm trước trở đi, chúng ta đang mở lại mô sẹo và điều đó thật đau đớn.

Nếu làm như vậy chúng ta có thể giúp sửa chữa một sai lầm đă xảy ra với những người chịu rủi ro lớn cho tự do của đất nước họ, th́ chúng ta hăy làm điều đó. Tôi là người đồng bảo trợ cho dự luật của Thượng nghị sĩ John Kerry để trả yêu sách của các nhân viên hợp tác Việt Nam. Theo quan điểm của tôi, Hoa Kỳ chỉ đơn giản là nợ họ tiền. Tôi không yêu cầu một buổi điều trần, tuy nhiên, để tôi đi đến kết luận đó. Nhưng tôi hy vọng những ǵ tôi nghe được hôm nay sẽ khiến tôi vững chắc hơn trong quan điểm của ḿnh rằng những người đàn ông này đă bị lạm dụng tồi tệ. Tôi cũng nhận ra những khó khăn trong việc tập hợp các nhân chứng có thể nói chuyện với chính quyền về các sự kiện của 30 năm trước.

Thưa ngài Chủ tịch, tôi cũng lưu ư công khai rằng trong khi hoạt động này được báo cáo là bắt đầu từ một hoạt động của CIA, các bài báo nói rằng nó đă được bàn giao cho Bộ Quốc pḥng vào năm 1964. Nếu chúng tôi phân bổ trách nhiệm sáng nay cho việc lạm dụng những người đàn ông này phải chịu, tôi hy vọng chúng tôi sẽ ghi nhớ khi lạm dụng xảy ra.

Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ bang Massachusetts - John Kerry lên nói về mục đích của buổi điều trần là nhằm làm sáng tỏ sự việc bỏ rơi những người Biệt Kích Việt Nam mà ông gọi là “ Những Chiến Sĩ Của Tự Do” đă từng cùng sống, cùng chết với những người lính Mỹ trong việc giải trừ tai họa Cộng Sản cho toàn thế giới trong thập kỷ sáu mươi.

Thượng nghị sĩ Kerry của Massachusetts. Ông chủ tịch, cảm ơn rất nhiều. Cảm ơn bạn đă cho phép tôi làm chứng ở đây ngày hôm nay. Và tôi rất vui khi có thể chia sẻ trong lời khai sáng nay với bạn bè của tôi, Bob Kerrey và Chuck Robb, cả hai đều phục vụ đặc biệt ở Việt Nam và hiểu chính xác ư nghĩa của câu chuyện này đang diễn ra.

Như Bob Kerrey vừa nói, đó là một di sản đau đớn khác của Chiến tranh Việt Nam, theo nghĩa là chương tŕnh Phượng hoàng quan liêu của chính chúng ta. Astory của hàng trăm lính đặc nhiệm Việt Nam đă phục vụ chúng tôi một cách trung thành trong chiến tranh. Và chiều nay, như đă đề cập, tôi sẽ đề nghị sửa đổi cùng với Thượng nghị sĩ McCain, Thượng nghị sĩ Bob Kerrey, Thượng nghị sĩ Chuck Robb, Thượng nghị sĩ Bob Smith, Larry Pressler, Tom Daschle và Pat Leahy, và những người khác để hoàn trả cho các chỉ huy ngồi đằng sau tôi và những người khác trong nhiều năm giam cầm trong các nhà tù Bắc Việt và cho những năm phục vụ của họ trong sự nghiệp chung của chúng tôi trong chiến tranh.

Ba mươi năm trước, như Bob Kerrey đă ám chỉ, Việt Nam đă tŕnh bày cho chúng ta những mâu thuẫn và câu hỏi để tồn tại suốt đời. Và bây giờ một lần nữa, Việt Nam chứng tỏ là cuộc chiến không chịu đi xa. Một tác giả mạnh mẽ, vô h́nh tiếp tục phục vụ một chương khác ngay khi chúng tôi nghĩ rằng toàn bộ câu chuyện đă được kể. Theo nhiều cách, chương này là cả mới và cũ cùng một lúc. Cũ, bởi v́ chúng ta biết rằng Neil Sheehan đă đúng khi ông mô tả một "Lời nói dối sáng ngời" và mới bởi v́ sự tính toán nghiêm khắc, táo bạo, lạnh lùng của chính phủ và sự phản bội đối với những người yêu nước làm choáng váng chúng ta trong thời đại hoài nghi này. Cũ bởi v́ chúng ta đă học được qua nhiều thế kỷ rằng chiến tranh là tàn khốc và mới bởi v́ như người Mỹ, chúng ta không bao giờ nghĩ rằng chúng ta sẽ tấn công hoặc làm giảm ư thức danh dự của chính chúng ta. Sự thật là chúng tôi đă gửi các chỉ huy Việt Nam anh hùng dưới biểu ngữ của chúng tôi, trong các nhiệm vụ của chúng tôi, trong biên chế của chúng tôi, vào Bắc Việt Nam để thực hiện đấu thầu của chúng tôi, mạo hiểm cuộc sống của họ và thậm chí cả cuộc sống của gia đ́nh họ. Và sau đó chúng tôi để chúng ở đó, phủ nhận sự tồn tại của chúng và bỏ đi khiến chúng bị cầm tù, bị tra tấn hoặc bị giết.

V́ vậy, chúng tôi ở đây hôm nay để sửa lại cho  đúng một sai lầm của quá khứ. Để t́m kiếm sự thật và trả lại công bằng cho một sự bất công vốn là một di sản đáng lo ngại khác của Chiến tranh Việt Nam và để nghỉ ngơi. Và tôi nghĩ như các đồng nghiệp của tôi đă nói, đó không phải là quá nhiều để hỏi.

Đây là những sự thật. Trong những ngày đầu của cuộc chiến, Hoa Kỳ và chính phủ Nam Việt Nam đă khởi xướng một hoạt động thu thập thông tin t́nh báo chung chống lại Bắc Việt. Các quan chức chính phủ Nam Việt Nam tuyển mộ các chỉ huy trong số dân thường Việt Nam và QLVNCH, Quân đội Việt Nam Cộng ḥa, và Hoa Kỳ thông qua CIA, và sau đó là Bộ Quốc pḥng, cung cấp đào tạo, tài trợ, bao gồm tất cả tiền lương, phụ cấp, tiền thưởng, và lợi ích tử vong. Các quan chức Hoa Kỳ và Nam Việt Nam cùng nhau xác định vị trí và thời điểm các biệt kích, được tổ chức thành các đội, sẽ được đưa vào Bắc Việt Nam. Nhiều người đă bị rơi dù, nhưng một số được gửi bằng đường biển hoặc trên đất liền.

ARIES, đội đầu tiên, được đưa vào đầu năm 1961. Đến đầu những năm 1970, năm mươi hai đội gồm khoảng 500 lính biệt kích đă bị chèn sau hàng ngũ kẻ thù. Ban đầu, nhiệm vụ chỉ giới hạn trong việc thu thập thông tin t́nh báo, nhưng chẳng bao lâu sau, nó được mở rộng để phá hoại và chiến tranh tâm lư. Ngay từ đầu, rơ ràng, ít nhất là đối với một số người, những người có trách nhiệm, rằng hoạt động này là một thất bại. Các tài liệu của Bộ Quốc pḥng được giải mật gần đây cho thấy các đội đă bị giết hoặc bị bắt ngay sau khi hạ cánh. Và rằng CIA và Bộ Quốc pḥng, đă tiếp quản hoạt động vào đầu năm 1964, đă biết điều đó vào thời điểm đó.

Bây giờ rơ ràng là các nhiệm vụ đă bị xâm phạm. Và rằng Hà Nội đă tiến hành một chiến dịch phản công chống lại chúng tôi và các đồng minh miền Nam Việt Nam bằng cách buộc các đặc công phát thanh lại cho chúng tôi chính xác những ǵ Hà Nội muốn chúng tôi biết và nghe. Việc chuẩn bị bằng chứng được đưa ra ánh sáng trong năm ngoái khiến người ta nghi ngờ rằng Hoa Kỳ tiếp tục chèn các chỉ huy Nam Việt Nam sau hàng ngũ kẻ thù biết rơ kết quả của những nhiệm vụ đó sẽ ra sao. Và những cơ hội của suc-cess là ǵ. Bộ Quốc pḥng sau đó đă kết thúc thảm kịch đó bằng cách đơn giản là viết ra các biệt kích bị mất. Vẽ một ḍng thông qua tên của họ là đă chết, rơ ràng để tránh trả lương hàng tháng.

Ví dụ, một đội gồm sáu người tên là ATTILA đă được thả xuống tỉnh Nai Am vào ngày 25 tháng 4 năm 1964. Đội ngay lập tức bị bắt. Hai tháng sau, ngày 16 tháng 7 Đài phát thanh Hà Nội đă công bố tên và địa chỉ của sáu thành viên trong nhóm, ngày họ bị bắt và bắt đầu thử nghiệm. Các tài liệu của Bộ Quốc pḥng được giải mật chỉ ra rằng chúng tôi biết rằng đội đă được bảo vệ. Tuy nhiên, vào đầu năm 1965, Bộ Quốc pḥng đă tuyên bố toàn bộ đội đă chết và đă trả những lợi ích rất nhỏ cho người thân của họ.

 Quá tŕnh tuyên bố các biệt kích này chết trên giấy đă được xác nhận lại vào năm 1969 bởi nhân viên hoạt động cho một thứ gọi là OPLAN 34A trong Lầu năm góc. Và viên cảnh sát đó đă nói vào lúc đó và tôi trích dẫn anh ta: "Chúng tôi giảm dần số người chết bằng cách tuyên bố rất nhiều người trong số họ chết mỗi tháng cho đến khi chúng tôi xóa hết chúng và xóa chúng khỏi bảng lương hàng tháng."

Sau khi gửi những người đàn ông dũng cảm này, theo phán quyết của bất kỳ ai bên cạnh các nhiệm vụ tự sát, và sau khi cắt tiền lương của họ, chúng tôi đă phạm phải lỗi nghiêm trọng nhất - chúng tôi đă không nỗ lực để có được sự phóng thích của họ cùng với tù binh Mỹ trong các cuộc đàm phán ḥa b́nh ở Paris. Kết quả là, nhiều người trong số những người đàn ông dũng cảm này, những người đă chiến đấu bên cạnh chúng ta v́ cùng một lư do, đă phải ngồi tù nhiều năm -hơn 20 năm trong một số trường hợp.

Sau khi ra tù vào cuối những năm 1970 hoặc 80, một số lính đặc nhiệm đă đến Hoa Kỳ và hiện đang t́m kiếm sự thừa nhận về dịch vụ và thanh toán của họ từ chính phủ Hoa Kỳ trong thời gian thực tập .

Trong một vụ kiện pháp lư đang chờ xử lư, đă được đề cập, họ đă yêu cầu 2.000 đô la một năm - không phải là một khoản rất đáng kể - trung b́nh 20 năm bị giam cầm. Hoa Kỳ nợ những người đàn ông này một khoản nợ mà có thể thẳng thắn không bao giờ trả được , nhưng ít nhất chúng ta có thể cho họ sự công nhận rằng họ xứng đáng và số tiền bồi thường nhỏ mà họ đă hứa ba thập kỷ trước.

 Thưa ngài Chủ tịch, tôi muốn nhấn mạnh rằng hôm nay chúng ta không ở đây, tôi chắc chắn không có mặt ở đây hôm nay, để chỉ tay bất cứ ai một cách cá nhân. Tôi chắc chắn không ở đây để t́m kiếm vật tế thần hoặc da đầu. Tôi không nghĩ rằng bất kỳ mục đích nào được phục vụ bởi điều đó. Chúng tôi biết những khó khăn của thời gian đó. Chúng tôi biết những ǵ nó đă làm cho đất nước. Chúng tôi biết con đường và hành tŕnh chúng tôi đă đi từ đó. Và tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta đều lo lắng để tiếp tục quá tŕnh chữa bệnh. Và điều đó quan trọng hơn trong nhiều khía cạnh, và theo nhiều cách, đó chính xác là những ǵ nỗ lực này hướng tới.

Nhưng chúng ta nên hiểu những ǵ đă xảy ra để một lựa chọn như vậy không bao giờ được thực hiện lại. Chúng tôi ở đây chỉ đơn giản là để làm điều đúng đắn. Và điều quan trọng là không gộp các phán quyết đă được thực hiện trong những năm 1960 bằng cách tránh một phán quyết tốt hơn và khả năng đáp ứng của chúng ta ngày nay. Chúng tôi không thể đưa bất cứ ai trở lại với cuộc sống. Chúng ta không thể bù đắp cho sự đau khổ phi thường hoặc cho sự tra tấn hoặc trong những năm đă quay lưng lại với những chiến binh này. Nhưng chúng tôi có thể tôn vinh dịch vụ của họ và chúng tôi có thể nói rơ với những người muốn tham gia cùng chúng tôi trong cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ trong tương lai, rằng chúng tôi là một đất nước đủ lớn để thừa nhận sai lầm, và đủ mạnh để không hiểu được ư thức trách nhiệm và nghĩa vụ rơ ràng của chúng tôi và di chuyển để sửa chữa sai lầm khi chúng được thực hiện. Và rằng đôi khi cá nhân có thể phạm sai lầm, với tư cách là một quốc gia, chúng ta là một dân tộc có ḷng quảng đại phi thường, một đất nước tuyệt vời, sẽ luôn tôn vinh và cảm ơn những người chiến đấu với chúng ta v́ sự nghiệp chung.

Tôi cũng muốn nhấn mạnh, v́ tôi tin tưởng Bob Kerrey và Chuck Robb sẽ, rằng ngay cả khi chúng ta ngồi đây hôm nay nói về một khoản nợ cho những người tham gia với chúng tôi như một đồng minh trong một cuộc chiến, chúng tôi, tôi biết, đặc biệt như Các cựu chiến binh, muốn nhớ rằng vẫn c̣n quá nhiều anh em của chúng ta ở đất nước này đang phải đối phó với hậu quả khủng khiếp của cuộc chiến đó ngay cả vào năm 1996. Và việc trả nợ cho các chỉ huy này không nên làm giảm nghĩa vụ của chúng ta đối với đồng loại các cựu chiến binh ở đất nước này để duy tŕ tiêu chuẩn chăm sóc và sự chú ư đă được hứa với họ và tôi phải nói một cách thẳng thắn, ngày nay bị đe dọa bởi một số lựa chọn được đưa ra ở Washington.

Tôi cảm ơn ông, Chủ tịch, đă lắng nghe.

 Chủ tịch SPECTER. Cảm ơn bạn rất nhiều, Thượng nghị sĩ Kerry.

Dịch vụ riêng của tôi là trong Chiến tranh Triều Tiên, v́ vậy tôi không có cuộc gọi ở Việt Nam như bạn đă làm và Thượng nghị sĩ Robert Kerrey và Thượng nghị sĩ Chuck Robb. Và khi tôi nghe lời khai của bạn và xem xét al-

Đối với tôi, hành vi này dường như hoàn toàn không thể bảo vệ được và tôi nghi ngờ rằng tiền là đủ. Và khi bạn nói rằng chúng ta không thể khiến mọi người sống lại, điều đó chắc chắn là đúng, nhưng tôi có ư thức mạnh mẽ rằng cần phải làm nhiều hơn là trả các khoản bồi thường thiệt hại nếu chúng ta có một ví dụ rằng hành vi này sẽ không được dung thứ trong tương lai.

Và tôi biết làm thế nào là khó khăn để đánh giá đổ lỗi cá nhân, nhưng tôi có cảm giác rằng cuộc điều tra đó nên được thực hiện. Những ǵ chúng tôi làm điều đó, tôi không chắc chắn chính xác. Nhưng hành vi này như bạn đă mô tả nó, và như tôi đă thấy, là tội phạm. Đó là hành vi phạm tội. Trường hợp có một nghĩa vụ đối với những người lính đặc nhiệm Việt Nam, những người sẽ thực hiện nhiệm vụ của chúng tôi, khi chúng tôi bị giam cầm để bị tra tấn và bị cắt xén và không làm ǵ về điều đó, đó là giết người, đó là hành vi giết người. Và khoản thanh toán từ chính phủ dường như là đủ.

Chà, đó là những ǵ chúng ta phải vật lộn với. Và nó không chính xác vào ngày hôm qua. Đó là ngày hôm nay. CIA không thể có mặt ở đây hôm nay, v́ họ sợ phải làm chứng trong một vụ kiện tại Thượng viện v́ họ có thể làm phương hại đến một vụ kiện tại Ṭa án Yêu cầu. Tôi, thành thật mà nói, không thấy trường hợp của họ có thể định kiến ​​nhiều hơn ngày nay. Và tôi khen bạn v́ luật pháp mà bạn đă giới thiệu. Và tôi dự định đưa ra luật để lật ngược phán quyết của Ṭa án Tối cao năm 1875 nói rằng môi bị niêm phong và bạn không thể thực hiện một thỏa thuận bí mật. Đó là một quyết định khủng khiếp mà ngày nay không nên nhận bất kỳ trọng lượng nào từ bất kỳ ai, kể cả Bộ phận Tư pháp đang đấu tranh với vụ kiện đó.

Nhưng đây không phải là những sai lầm đă được thực hiện ngày hôm qua, một thập kỷ trước, hoặc hai thập kỷ trước, hoặc ba thập kỷ trước; họ đang diễn ra hôm nay Chính phủ của chúng tôi không phải đối mặt với sự thật. Không phải đối mặt với nhân loại cơ bản.

Thượng nghị sĩ Kerry của Massachusetts. Thưa ngài Chủ tịch, nếu tôi có thể nói rằng tôi đồng ư với hầu hết những ǵ bạn đă nói liên quan đến đặc tính của bạn, nhưng tôi nghĩ rằng điều quan trọng là phải ghi vào hồ sơ rằng chúng tôi đă làm việc chặt chẽ với Chính quyền; Điều đó ngay lập tức khi nó biết về điều này, cho thấy mong muốn cố gắng khắc phục nó và cố gắng làm những ǵ là chính xác. Và Tony Lake, thay mặt cho Tổng thống và Nhà Trắng đă giúp đưa ra một phương tiện để làm điều đó theo cách không vượt quá trường hợp này đến các trường hợp mà chúng ta thậm chí không nhận thức được hoặc t́nh huống chúng ta ' lại không nhận thức được. Chúng tôi đă cố gắng bao gồm toàn bộ vũ trụ của con người.

Tôi tin rằng vụ kiện này bao gồm khoảng 281. Chúng tôi đă bao gồm toàn bộ vũ trụ từ 400 đến 500, đó là lư do tại sao có sự khác biệt giữa số tiền mà chúng tôi đang yêu cầu trong luật của chúng tôi so với vụ kiện là ǵ yêu cầu. V́ vậy, trong thực tế, tôi nghĩ rằng trong khi một cuộc tranh luận có thể được đưa ra về giá trị ở đây, th́ những ǵ chúng ta đang làm là tôn trọng những ǵ mà các biệt kích đă yêu cầu cho Và tôi nghĩ rằng đó là tuyên bố của riêng ḿnh về các giá trị có mức độ hợp lư. Và theo một nghĩa nào đó, một trong những điều mà họ đă chỉ ra rằng họ muốn nhiều hơn có lẽ là tiền, đây là quá tŕnh công nhận cho những ǵ họ đă trải qua và cho dịch vụ mà họ đă cung cấp. Và tôi nghĩ đó là một phần của những ǵ đang xảy ra ở đây.

 Nhưng tôi đồng ư - những quyết định nghiêm trọng cơ bản đă được đưa ra, đă được đưa ra một số năm trước. Có một mô h́nh của câu đố tiếp tục? Câu trả lời là có. Và tôi nghĩ chúng ta luôn cố gắng vượt qua rào cản đó.

 Chủ tịch Spectre.Thượng nghị sĩ Kerry, chúng tôi chỉ c̣n năm phút để bỏ phiếu, và các phiếu sẽ được thực thi nghiêm ngặt theo thời gian. Tôi đồng ư với bạn rằng Chính quyền đă hành động đúng đắn đối với việc hợp tác với bạn trong hóa đơn của bạn. Tôi có một câu hỏi là Bộ Tư pháp đang làm ǵ, Bộ phận Quốc pḥng và CIA đang làm ǵ, nhưng các tuyên bố của tôi không nhằm mục đích đưa ra bất kỳ đề nghị nào về việc Phân phối không hoạt động trong một cách thẳng thắn trong việc xử lư vấn đề cụ thể này. Và tôi đánh giá cao sự thật rằng nó có thể là tiền lệ, và nó có thể được mở rộng, và nó có thể là thứ mà họ không muốn đưa ra phán xét hay đưa ra cam kết trước khi họ nh́n thấy những sự thật khác. Và đó là những ǵ chúng ta phải theo đuổi.

Thượng nghị sĩ Kerry của Massachusetts. Xin cảm ơn ông Chủ tịch.

 

Chủ tịch Spectre. Cảm ơn bạn rất nhiều, Thượng nghị sĩ Kerry.

Chúng tôi sẽ đứng trong một vài giờ cho đến khi chúng tôi kết thúc cuộc bỏ phiếu, và chúng tôi sẽ tiếp tục phiên điều trần trong khoảng 10 đến 15 phút.

 Cảm ơn bạn.

 

[Một giờ giải lao đă được thực hiện từ 9:33 sáng đến 9:59 sáng]

 

Chủ tịch SPECTER. Bây giờ chúng tôi sẽ được nghe từ ông Hà Văn Sơn, cựu đặc công, người đang nói không chỉ cho ḿnh mà c̣n cho những người khác; và ông Sedgwick Tourison, tác giả của "Quân đội bí mật, Chiến tranh bí mật." Hăy để chúng tôi bắt đầu với bạn, ông Tourison.

 Cảm ơn bạn đă tham gia với chúng tôi và chúng tôi mong muốn lời khai của bạn.

TUYÊN BỐ DU LỊCH SEDGWICK, TÁC GIẢ

"BÍ MẬT BÍ MẬT, CẢNH BÁO BÍ MẬT"

 

Ông Tourison. Thượng nghị sĩ Spectre, Thượng nghị sĩ Kerrey, thành viên xuất sắc của Ủy ban T́nh báo Thượng viện, cảm ơn bạn v́ cơ hội thực sự độc đáo này xuất hiện trước bạn hôm nay để nói về các biệt kích đă mất.

Chủ tịch Spectre. Chúng tôi sẽ yêu cầu bạn giới hạn lời khai của bạn trong 5 phút nếu bạn có thể. Tuyên bố của bạn sẽ được thực hiện một phần của hồ sơ. Chúng tôi có thể sử dụng ánh sáng xin vui ḷng.

Ông Tourison. Tôi là tác giả cuốn sách "Quân đội bí mật, Chiến tranh bí mật" do Nhà xuất bản Học viện Hải quân xuất bản vào tháng 7 năm 1995. Cuốn sách của tôi là một câu chuyện bi thảm về hơn 450 lính đặc nhiệm Việt Nam làm việc cho cả Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng ḥa. Tất cả được tuyên bố là đă chết sau khi hạ cánh bên trong miền Bắc Việt Nam. Vào tháng 12 năm 1988, một trong những đặc vụ c̣n sống đă yêu cầu tôi viết về lực lượng đặc công sống sót sau 15 năm hoặc hơn khi lao động khổ sai trong khi

số 8

 

bị kết tội gián điệp. Và tôi biết rằng tôi sẽ được thử thách tŕnh bày thực tế chứ không phải ư kiến; Sự thật, không phải tuyên truyền. Người đàn ông yêu cầu tôi làm điều đó ngồi phía sau tôi bên trái, Le Van Ngung, cựu chỉ huy của Đội HADLEY, hạ cánh ở miền Bắc Việt Nam, ngày 25 tháng 1 năm 1967; tuyên bố chết vào tháng 6 năm 1967. Ông là ngày hôm nay, như lúc đó, c̣n sống rất nhiều.

Vào tháng 1 năm 1993, lịch sử giải mật của các hoạt động bí mật thời chiến của chúng tôi đă xác nhận sự thật lạnh giá khủng khiếp. Chúng tôi tuyên bố tất cả các đặc vụ bí mật của chúng tôi đă chết, ngay cả với kiến ​​thức nhất định rằng gần như tất cả đă bị bắt làm tù binh và được biết đến lần cuối c̣n sống trong tù. Tướng William C. Westmoreland, chỉ huy thời chiến của chúng tôi ở miền Nam Việt Nam, đă tuyên bố những điều sau đây về hồ sơ liên quan đến hành động của một số sĩ quan chỉ huy các đặc vụ Việt Nam của chúng tôi. "Nếu tôi đă biết sau đó, những ǵ tôi tin là sự thật, tôi sẽ sa thải rất nhiều trong số họ."

Tại Philadelphia, Pennsylvania là tượng đài của Stephen Girard, một người yêu nước Mỹ gốc Pháp. Tượng đài mà tôi giới thiệu là Girard College, trường cũ của tôi, một tổ chức giáo dục trẻ em không có cha. Đăng kư bên trong ṭa nhà chính của Girard là lời của người sáng lập: "Hành động của tôi phải là cuộc sống của tôi. Khi tôi chết, hành động của tôi phải nói lên cho tôi." Những ǵ tôi đă viết về các đặc vụ thời chiến Việt Nam của chúng tôi là hành động của tôi. Những người khác sẽ đo lường giá trị của nó. Con cái của những người hợp tác xă thời chiến Việt Nam của chúng ta bị mất ở miền Bắc Việt Nam lớn lên không có cha, gia đ́nh mất một đứa con trai và anh chị em mất một người anh em. Tôi chia sẻ với họ niềm tự hào về những hành động sai trái của chúng tôi.

Một vấn đề mà nhiều bạn đang vật lộn là một vấn đề đơn giản. Ai chịu trách nhiệm cho những ǵ đă xảy ra trong chiến tranh, và trách nhiệm của chúng ta hôm nay là ǵ? Tôi có thể trả lời đầu tiên. Những người khác phải

Trả lời thứ hai.

Một chút nền tảng. Vào tháng 1 năm 1993, tôi đă liên lạc với một luật sư, John Mattes, về các đặc vụ. Ông Mattes đă không nhận thức được những chỉ huy này và Tham mưu trưởng liên quân nghiên cứu về các hoạt động bí mật của chúng tôi. Vào mùa thu năm 1993, ông Mattes đă đồng ư t́m kiếm sự hợp tác cho các đại lư này. Tôi đă định vị và giới thiệu với anh ta hơn 350 đặc vụ c̣n sống và là thân nhân tiếp theo của những người đă thiệt mạng. Một số các đại lư đang ở đây ngày hôm nay. Trước khi ông Mattes kư hợp đồng với bất kỳ khách hàng tiềm năng nào, tôi đă kư một thỏa thuận với ông ta ngăn tôi nhận một xu bất kỳ khoản bồi thường nào cho các dịch vụ pháp lư của ông ta. Trong tâm trí của tôi, ngày đó và vẫn là tiền máu mà tôi không muốn có.

Cuộc chiến bí mật có liên quan đến các đặc vụ này được giữ lại từ Lầu năm góc từ một người đàn ông trong Lầu năm góc, người biết sự thật và giữ im lặng, Daniel Ellsberg. Tại sao cuộc chiến bí mật này được giữ từ quan điểm của công chúng trong nhiều thập kỷ? Lời khai của tôi có thể cung cấp một số cái nh́n sâu sắc về điều này.

Ví dụ, vào ngày 8 tháng 11 năm 1995, tôi được Viện Cựu chiến binh Việt Nam mời đến nói chuyện tại Câu lạc bộ Quân đội-Hải quân ở Washington trong một hội nghị chuyên đề để phê b́nh hồi kư của Bộ trưởng Quốc pḥng Rob- ert McNamara. Tôi yêu cầu một bản sao các nhận xét của tôi tại hội nghị chuyên đề WI phải được đưa vào hồ sơ của bạn v́ nó chứa các kết luận của tôi về ảnh hưởng của hoạt động bí mật thảm khốc của chúng tôi đối với Bắc Việt Nam.

 Thất bại của CIA trong hoạt động bí mật đă được thừa nhận bởi cố Giám đốc CIA William Colby cho Mike Wallace trong chương tŕnh "60 phút" ngày 5 tháng 5 năm 1996. Ông Colby đồng ư rằng chúng tôi có nghĩa vụ bồi thường cho các đặc công này và chúng tôi chưa hoàn thành nghĩa vụ đó. Tôi biết rằng Tướng Westmoreland lặp lại t́nh cảm của ông Colby.

Đối với câu hỏi ai là người chịu trách nhiệm từ 30 năm trước trở lên, khoản thanh toán quyền lợi tử vong được xác nhận đầu tiên xảy ra trong thời gian quản lư của CIA. Vợ của Đinh Như Khoa, một điệp viên bị bắt đă được báo cáo rộng răi trên báo chí quốc tế và đặc biệt trong phiên ṭa công khai tại Hà Nội vào tháng 12 năm 1961, đă được Lực lượng Vũ trang Việt Nam Cộng ḥa trả tiền vào tháng 1 năm 1962. Tôi có bằng chứng tài liệu rằng Công chúng Việt Nam đă trả trợ cấp tử vong cho đến tháng 12 năm 1963 cho vợ của các đặc vụ khác, và có bằng chứng giai thoại rằng CIA là nguồn gốc của các khoản thanh toán này.

Tôi phải làm rơ một điểm từ bên ngoài. Đây là những công dân lớn của Việt Nam Cộng ḥa. Tuy nhiên, các hoạt động của họ được chỉ đạo bởi Hoa Kỳ.

Thiếu tướng John Singlaub, chỉ huy MACSOG trong giai đoạn 1966-68, được trích dẫn trên tạp chí Time số ra ngày 24 tháng 6 năm 1996 như sau: "Tôi không nghĩ có một biện minh pháp lư hay đạo đức nào để nói ai nên chấp nhận trách nhiệm với họ. Họ không phải là người Mỹ. " Với tất cả sự tôn trọng dành cho Thiếu tướng Singlaub, cộng đồng t́nh báo quốc gia của chúng tôi luôn thanh toán cho các đại lư. Và các khoản thanh toán như vậy thường phù hợp với hợp đồng dịch vụ của đại lư. Và tôi nói điều này từ vị trí một cựu sĩ quan t́nh báo, bao gồm một sĩ quan trường hợp, người đă xử lư các đại lư, bao gồm cả biên chế đại lư, trong 4 năm tôi ở Lào.

Cho phép tôi mô tả hợp đồng mà MACSOG có với các đại lư mà nó đă gửi theo cách gây hại. Để bắt đầu, House of Repentent ủy quyền tài trợ cho các hoạt động bí mật này để bao gồm tiền trả cho đại lư. Các quỹ đă được Hải quân Hoa Kỳ cung cấp và quản lư thông qua ngân sách hàng năm. Hồ sơ tài chính 8 năm của Navy về các hoạt động bí mật của MACSOG, khoảng 240.000 trang, đă được giải mật bắt đầu từ ngày 5 tháng 6 năm 1996.

Hoạt động bí mật là theo thỏa thuận theo mô tả của Thượng nghị sĩ Kerry. Hội đồng Bảo an Quốc gia đă phê duyệt một chương tŕnh mở rộng vào tháng 11 năm 1960 để bao gồm các đội đặc vụ vũ trang. Kể từ tháng 1 năm 1966, Dịch vụ Công nghệ Chiến lược Nam Việt Nam đă nhận được các khoản thanh toán tiền lương hàng tháng từ đối tác Mỹ. Đối tác là Nhóm Nghiên cứu và Quan sát Hỗ trợ Quân sự, MACSOG, sau đó do Đại tá Donald Blackburn đứng đầu. Theo Đại tá Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ John Windsor, Cán bộ Điều hành tại MACSOG trong giai đoạn này, mong muốn của Đại tá MACSOG Đại tá Blackburn là những người thân của các đặc vụ ở Bắc Việt Nam phải được trả tiền tử vong và hàng tháng trả cho người thân của họ. Sài G̣n bị ngưng. 

 Khi tôi nói với Đại tá Nam Việt Nam Chun Van Ho, ông muốn làm ǵ th́ họ đă hợp tác hết ḿnh. Họ giảm dần số người chết dần dần, tuyên bố rất nhiều người trong số họ đă chết mỗi tháng cho đến khi chúng tôi xóa hết chúng, trả tiền cho họ và xóa họ khỏi bảng lương hàng tháng. Đại tá Hồ không muốn các đặc vụ Việt Nam và người thân biết rằng chúng tôi đă mất rất nhiều. Tuy nhiên, ông đă đồng ư với đề xuất của chúng tôi. 

10

Đề nghị của Đại tá Blackburn, với vai tṛ của Hoa Kỳ trong chiến dịch không phải là một yêu cầu, đó là một mệnh lệnh. Sau đó, khi MACSOG, thông qua người miền Nam, đang loại bỏ các đại lư của ḿnh, các đại lư mới đă được tuyển dụng vào chương tŕnh với lời hứa rằng các khoản trợ cấp được trả của họ sẽ tiếp tục cho đến khi họ quay trở lại từ nhiệm vụ.

Tôi muốn nộp hồ sơ, báo cáo bảng lương tháng 1 năm 1966 từ trụ sở Nam Việt Nam đă cung cấp các đại lư cho MACSOG. Bảng lương xác định, theo tên, 28 đại lư đầu tiên bị xóa sổ và tuyên bố đă chết từ 1 10 đại lư phía Bắc Việt Nam.

Chủ tịch Spectre. Ông Tourison, khi các thỏa thuận được thực hiện với các chỉ huy Nam Việt Nam này, liệu có một sự hiểu biết rơ ràng hay bất kỳ sự hiểu biết nào rằng đây là một giao dịch se-cret, sẽ không thể thực hiện được tại một ṭa án Mỹ?

Ông Tourison. Không, thưa ngài; nó không phải là. Trên thực tế, như lịch sử của Tham mưu trưởng liên quân chứng minh, an ninh hoạt động rất cẩu thả - tên nhóm bị bỏ ngỏ. Vi phạm các quy tắc thú vị về bảo mật tài liệu, bảo mật nhân sự, đó là một cơn ác mộng.

Chủ tịch Spectre. Chà, vấn đề đă được nêu ra trong vụ kiện, đó là những sự sắp xếp bí mật, đôi môi bị bịt kín, và do đó không thể thực hiện được. V́ vậy, câu hỏi của tôi đi đến các sự kiện cơ bản ở đây, về việc đó có phải là sự sắp xếp hợp đồng giữa các bên không.

Ông DU LỊCH. Không theo sự hiểu biết tốt nhất của tôi, từ việc nói chuyện với hơn 300 - gần 300 đại lư. Và đă nói chuyện với các sĩ quan Việt Nam đă chỉ đạo họ. Có, giữa người miền Nam và người Mỹ đang quản lư chương tŕnh, một sự hiểu biết về nhu cầu bí mật. Tuy nhiên, MACSOG đă thỏa hiệp rằng khi, vào cuối năm 1963, đầu năm 1964, nó đă mang tất cả các đặc vụ lại với nhau tại một trung tâm đào tạo khổng lồ cho các điệp viên.

Chủ tịch Spectre. Chà, khi bạn đang nói về bí mật, có thể có bí mật về nhiệm vụ của các chỉ huy Nam Việt Nam, nhưng điều đó không đi đến vấn đề cốt lơi là liệu các thỏa thuận hợp đồng có bí mật và không thể ép buộc ở một người Mỹ không ṭa án.

Ông DU LỊCH. Các thỏa thuận mà người Việt Nam đă kư, theo các tuyên bố của họ với tôi, không được đóng dấu, cũng không được nói rằng họ không bao giờ có thể nói cho ai biết họ đang làm ǵ, họ cũng không nói ǵ với chúng tôi ngoài việc chúng tôi sẽ chăm sóc bạn , chỉ cần đi đến Bắc Việt Nam.

Chủ tịch SPECTER. Trong phần mở đầu cho cuốn sách của bạn, "Đội quân bí mật, Cuộc chiến bí mật", bạn nhận xét về việc gần như cảm thấy giống như một kẻ say mê tṛ chuyện, phân biệt giữa các quyền của Nam Việt tương phản với vị trí của Chính phủ Hoa Kỳ, công dân Hoa Kỳ. Điều cốt lơi, như tôi hiểu, như những ǵ bạn đang nói ở đây là bằng cách nào đó, một số người coi nghĩa vụ đối với người miền Nam là một hành vi thấp kém, không có nghĩa vụ, bởi v́ họ không phải là người Mỹ. Đúng không?

Ông Tourison. Tôi tin rằng đó là một tuyên bố công bằng, Thượng nghị sĩ Spectre.

11

Nếu tôi có thể chỉ ra rằng liên quan đến các thỏa thuận tài chính với các đại lư, có nhiều bằng chứng từ các đại lư c̣n sống rằng tiền mà chúng tôi đă trả cho phía Nam Việt Nam trong hoạt động có thể, trong nhiều trường hợp, không bao giờ đến được với các bà vợ và cha mẹ mà nó đă được trả tiền.

 

Chủ tịch Spectre. Tiền đă đi đâu mất?

Ông DU LỊCH. Tôi không biết, Thượng nghị sĩ.

Chủ tịch Spectre. Hăy để tôi chuyển điểm này đến cựu danh thủ Hà Văn Sơn. Chúng tôi chào đón bạn ở đây, ông Sơn. Bạn có quan tâm để đưa ra một tuyên bố mở đầu?

TUYÊN BỐ HÀ HÀ SƠN,

CÔNG CỤ NAM VIỆT NAM

Anh Sơn. Đầu tiên tôi đánh giá cao tất cả mọi người chúng tôi đă làm (rất vui) được ở đây để nói về câu chuyện của tôi. Đó không phải là câu chuyện của tôi, nhưng tôi nghĩ đó là sự thật về lịch sử của Chiến tranh Việt Nam. Được tuyển dụng bởi người Mỹ và được đào tạo bởi người Mỹ. Và khi tôi đi hoạt động theo kế hoạch (e), của Amer- ican. Và trong hoạt động của tôi, người lănh đạo nhóm của tôi là người Mỹ.

Chủ tịch Spectre. Khi nào bạn được tuyển dụng, ông Sơn?

 

Anh Sơn. 1967.

 

Chủ tịch Spectre. Và theo đuổi tuyển dụng đó, chính xác bạn đă làm ǵ?

 

Anh Sơn. Tôi không biết ai tuyển tôi, nhưng đó là người Mỹ. Và sau khi tôi được đào tạo và v́ tôi nghĩ đây là một cuộc chiến bí mật, nên tôi đă không hỏi mọi thứ về nhiệm vụ và mọi thứ của ḿnh.

Chủ tịch SPECTER. Điều ǵ đă xảy ra với bạn trong dịch vụ mà bạn trở thành một đặc công Nam Việt Nam?

Anh Sơn. Không; Tôi không phải là một đặc công Nam Việt Nam. Chỉ v́

Chủ tịch Spectre. Làm thế nào bạn sẽ phân loại hoặc phân loại bản thân của bạn? Bạn sẽ gọi ḿnh là ǵ?

Anh Sơn. Tôi chưa - tôi chỉ là một thành viên trong nhóm.

Chủ tịch Spectre. Một thành viên trong nhóm?

Anh Sơn. Đúng.

Chủ tịch Spectre. Được rồi, bạn đă làm ǵ với tư cách là một thành viên trong nhóm?

Anh Sơn. Thành viên của đội. Tôi nhận được lệnh của trưởng nhóm của tôi là ông Jim Ronald Dexter. Đi hoạt động sang Lào. Ở biên giới Lào và Bắc Việt. Và một bi kịch. Khi chúng tôi kết thúc hoạt động của ḿnh với chiếc trực thăng đă đến đón chúng tôi, khi chiếc trực thăng đến đón chúng tôi, chiếc trực thăng đă bị bắn hạ. Và sau khi tôi bị bắt cùng với ông Vernon Dexter và Frank Curst. Ông Jim Ronald Dexter đă chết ở tỉnh Tangh Wa, miền Bắc Việt Nam, v́ Cộng sản đánh ông. Và một, GI khác là Frank Cius. Anh ấy đă trao đổi khi thỏa thuận Paris được kư vào năm 1973. Và tôi ở trong tù.

Chủ tịch Spectre. Bạn đă ở tù?

Anh Sơn. Vâng.

Chủ tịch Spectre. Bạn ở tù bao lâu

Anh Sơn. Hai mươi năm.

Chủ tịch SPECTER. Hai mươi năm.

Anh Sơn. Hai mươi năm.

Chủ tịch Spectre. Gần hai mươi năm?

Ông SƠN. Đúng. Đó là bi kịch của tôi.

12

Chủ tịch Spectre. Và những ǵ đă xảy ra với bạn khi bạn ở trong tù. Bạn đă được điều trị như thế nào?

 Anh Sơn. Tôi đă có một thời gian dài. Nhưng tôi nghĩ, và tôi tin rằng tất cả thời gian trong tù, tôi tin rằng chính phủ Hoa Kỳ và chính phủ Cộng ḥa Việt Nam sẽ đưa chúng tôi ra khỏi nhà tù. Bởi v́ tôi ước ai đó đến và lấy tôi. Không ai đưa tôi ra ngoài.

 Chủ tịch Spectre. Bạn biết ông Sơn bao nhiêu tuổi?

Anh Sơn. Bôn mươi tam.

Chủ tịch Spectre. Và bạn bao nhiêu tuổi khi mới vào tù?

Anh Sơn. Mười chín.

Chủ tịch Spectre. Anh Sơn, tôi được biết là hôm nay anh vừa xem một tài liệu được dán nhăn là tiền thưởng tử thần. Mà nói rằng tôi, Hà Văn Cầu, số ID 06935, nhận được từ liên lạc

cục số tiền 41.200 $ VN.

 

Anh Sơn. Đó là ba tôi.

Chủ tịch Spectre. V́ cái chết của Hà Văn Sơn.

Anh Sơn. Vâng. Tên của tôi.

Chủ tịch Spectre. Đó là bạn. Ai đă thiệt mạng khi làm nhiệm vụ với FOB # 1 Phú Bài. Để số tiền trên được trả là lợi ích tử vong c̣n sống. Khoản thanh toán này phản ánh toàn bộ việc giải quyết tiền thưởng tử vong và Chính phủ Hoa Kỳ được giải phóng khỏi mọi khiếu nại trong tương lai phát sinh từ sự cố này. Trả tiền tính toán 5.100 lần thanh toán hàng tháng 12 tháng, 61.200.

Anh Sơn. Vâng.

Chủ tịch Spectre. Bạn có phiền bước về phía trước? Tôi muốn cho bạn thấy điều này. Hăy tiến về phía trước và xác định những ǵ thể thao là chữ kư của cha bạn. Hăy nh́n vào đó.

Anh Sơn. Đây thực sự là chữ kư của cha tôi.

 Chủ tịch Spectre. Đây là chữ kư của cha bạn.

Anh Sơn. Bố tôi

Chủ tịch Spectre. Bạn có chắc chắn về điều đó?

Anh Sơn. Vâng. Ông đă chết vào năm 1993 trước khi tôi đến Mỹ.

Chủ tịch Spectre. Chúng tôi có mặt hôm nay, tôi được thông báo, Mr.John Mattis, người đại diện cho các biệt kích. Bạn là Mr.Mattis? Bạn có phiền bước về phía trước?

 Ông Mattis, bạn sẽ nói ngắn gọn về phạm vi đại diện của các đặc công?

Ông Mattis. Thượng nghị sĩ, tôi đă đại diện cho các đặc công từ năm 1993 trong cuộc điều tra về yêu sách của họ.

Chủ tịch Spectre. Bạn là một luật sư?

Ông Mattis. Đúng vậy, thưa ngài.

Chủ tịch Spectre. Và bạn được cấp phép hành nghề ở đâu?

Ông Mattis. Tôi được cấp phép tại ṭa án yêu cầu liên bang ở đây tại Washington và tại các ṭa án liên bang trong và xung quanh Hoa Kỳ.

Chủ tịch Spectre. Bạn có văn pḥng tại Washington không?

Ông Mattis. Không. Văn pḥng của tôi có trụ sở tại Miami, Florida.

Chủ tịch Spectre. Và nói ngắn gọn, t́nh trạng của vụ kiện trong ṭa án yêu cầu là ǵ?

Ông Mattis. T́nh trạng - chúng tôi là - chúng tôi đă theo đuổi khám phá trong nhiều năm qua. Chúng tôi đă t́m kiếm chính phủ chuyển cho chúng tôi các tài liệu mà chúng tôi tin là tồn tại và độc lập 13 phụ thuộc vào quá tŕnh ṭa án, chúng tôi có thể có được 500.000 tài liệu tuyệt mật. Mặc dù

Chủ tịch Spectre. Không phải thông qua khám phá liên bang mặc dù?

Ông Mattis. Đúng rồi.

Chủ tịch Spectre. Làm thế nào bạn có được chúng? Hành động tự do thông tin?

Ông Mattis. Đúng vậy thưa ngài. Chúng tôi đă nhận được chúng thông qua một yêu cầu FOIA liên bang mà chúng tôi đă gửi đến Lưu trữ Quốc gia.

Chủ tịch Spectre. Bạn đại diện cho bao nhiêu biệt kích?

Ông Mattis. Khoảng 300.

Chủ tịch Spectre. Và bạn có khá nhiều biệt kích ở đây hôm nay?

Ông Mattis. Đúng rồi.

Chủ tịch SPECTER. Bạn có thể xác định những biệt kích đang có mặt trong pḥng nghe.

Ông Mattis. Thưa ông, chúng tôi đă nhận được các biệt kích từ vùng Atlanta và một số thời gian giam giữ của các đặc công trong khoảng từ 15 đến 25 năm với thời gian bị giam giữ lâu nhất cho đến năm 1988. Vợ ông, các con ông vẫn ở Việt Nam. Chúng tôi không thể lấy chúng ra.

Chủ tịch Spectre. Đó là ai? Người đàn ông đó sẽ làm ơn đứng lên. Và tên của anh ấy là ǵ?

Ông DU LỊCH. Anh ấy tên là Thắng Văn Thu.

Ông SƠN . Vợ và hai con vẫn ở Việt Nam. Họ đă không chấp thuận.

Chủ tịch SPECTER. Tôi muốn tất cả các đặc công Việt Nam hoặc các thành viên của đội sẽ đứng nếu họ muốn.

[Những tên biệt kích trong pḥng đứng để nhận ra.]

Chủ tịch SPECTER . Cảm ơn rât nhiều. Cảm ơn bạn. Tôi muốn gọi vào lúc này Thiếu tướng Singlaub. Nếu các quư ông sẽ ngồi lại một lát.

 Thiếu tướng Singlaub xin vui ḷng bước tới.

 Thiếu tướng Singlaub, chúng tôi rất trân trọng việc bạn tham gia với chúng tôi hôm nay để giúp chúng tôi giải đáp thắc mắc về vấn đề này. Tuyên bố đầy đủ của bạn sẽ được thực hiện một phần của hồ sơ. Trong phạm vi mà bạn có thể tóm tắt nó trong ṿng năm phút, chúng tôi sẽ đánh giá cao nó. Nếu bạn mất nhiều thời gian hơn, chúng tôi hiểu điều đó. Và sàn là của bạn.

TUYÊN BỐ CỦA JOHN SINGLAUB CHUNG CHÍNH, Hoa Kỳ (RET),

NGƯỜI LỰA CHỌN, MACSOG

Đại tướng Singlaub. Xin cảm ơn Chủ tịch rất nhiều. Tôi chắc chắn đánh giá cao cơ hội để giải quyết Ủy ban này về chủ đề rất quan trọng này của cái gọi là đặc công Việt Nam. Ngay từ đầu tôi muốn nói rơ rằng tôi rất ngưỡng mộ cá nhân dũng cảm và ḷng can đảm, và ḷng yêu nước của phần lớn những người tham gia chương tŕnh đó. Họ là những người t́nh nguyện. Và đây là những nhiệm vụ rất nguy hiểm vào miền Bắc Việt Nam do Cộng sản kiểm soát. Tôi đă được yêu cầu giải thích mối quan hệ của tôi với các biệt kích này và tôi sẽ làm điều đó nhanh nhất có thể.

Tôi vào Bộ Tổng tham mưu Quân đội năm 1965 và được chọn là Tham mưu trưởng Quân đội, lúc đó Harold K. Johnson

37-433 - 97 - 2

14

Chủ tịch Spectre. Tướng Singlaub, bạn đă tham gia nghĩa vụ quân sự bao lâu?

Đại tướng Singlaub. Tôi đă phục vụ một chút ít hơn 35 V2 năm hoạt động.

Chủ tịch SPECTER. Và khi nào bạn chấm dứt nhiệm vụ tích cực?

Đại tướng Singlaub. Năm 1978.

Chủ tịch SPECTER. Cảm ơn rât nhiều.

Đại tướng Singlaub. Tôi được chọn bởi Tham mưu trưởng để nắm quyền chỉ huy tổ chức MACVSOG, lúc đó do Đại tá Don Blackburn chỉ huy. Lúc đó tôi là đại tá. Tôi bắt đầu cuộc họp giao ban vào tháng 2 năm 1966 và rời Hoa Kỳ vào tháng 4 năm đó và thực sự nắm quyền vào tháng 5 năm 1966. Và tôi đă giữ lại chỉ huy MACSOG cho đến tháng 8 năm 1968. Tôi nghĩ rằng việc tham khảo MACSOG là phù hợp. - MACVSOG thực sự là. Dường như có một số nhầm lẫn về chủ đề đó. MACVSOG là một doanh nghiệp do DOD thành lập lực lượng đặc nhiệm chiến tranh độc đáo. Nó là thành phần của Hoa Kỳ trong một lực lượng đặc nhiệm chiến tranh độc đáo kết hợp để tiến hành các hoạt động bí mật tại các khu vực do kẻ thù kiểm soát ở Đông Nam Á. Đó là Việt Nam, Lào và Campuchia. MACVSOG thực sự là một lệnh chung. Nó có tất cả các dịch vụ được tŕnh bày trong bảng phân phối chung. Và nó có các đơn vị mặt đất, trên biển và trên không đặc biệt của Hoa Kỳ được giao cho MACSOG để thực hiện các hoạt động bí mật của nó.

 Khái niệm cơ bản của hoạt động là chính phủ Việt Nam sẽ cung cấp nhân viên vận hành trong khi Hoa Kỳ sẽ cung cấp tư vấn, hỗ trợ đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật và cuối cùng, tất nhiên, tài trợ, như đă làm cho tất cả các lực lượng tham gia vào cuộc xung đột đó.

Các biệt kích thuộc về một trong những bộ phận của tổ chức đó, được gọi là OP34 ALPHA. Đó là một phần tương đối nhỏ trong tổng số chương tŕnh SOG. Chương tŕnh đặc biệt này được khởi xướng vào năm 1960, như đă được CIA chỉ định, và được chuyển đến Bộ Quốc pḥng vào tháng 1 năm 1964 khi MACSOG được thành lập. Và các hoạt động bí mật này trái ngược với các hoạt động bí mật đă được chuyển đến Bộ Quốc pḥng.

Và nhiệm vụ là giới thiệu những tài sản t́nh báo này vào Bắc Việt Nam để thực hiện cơ bản ba nhiệm vụ. Đầu tiên, là thu thập thông tin t́nh báo tích cực về Bắc Việt ở Bắc Việt. Thứ hai là tiến hành các hoạt động phá hoại hạn chế và rất cụ thể. Và cuối cùng, nhiệm vụ của họ là trở thành một cán bộ cho một chiến dịch kháng chiến chống lại chế độ cộng sản Bắc Việt.

Bây giờ, giai đoạn thứ ba, hoặc nhiệm vụ thứ ba không bao giờ được thực hiện đầy đủ bởi các nhóm OP34.

Chủ tịch Spectre. Tướng Singlaub, có bao nhiêu người đàn ông miền Nam tham gia? Trong các hoạt động tổng thể?

 Đại tướng Singlaub. Đếm tất cả các hoạt động của chúng tôi?

Chủ tịch Spectre. Đúng.

Đại tướng Singlaub. Có vài ngàn.

Chủ tịch Spectre. Vài ngàn?

Đại tướng Singlaub. Đúng. Có - tối đa, tôi tin có khoảng 500 người Mỹ

 Chủ tịch SPECTER. Và vài ngàn người Việt?

Đại tướng Singlaub. Đúng.

15

Chủ tịch Spectre. Có đúng là khi họ bị bắt làm tù binh, rằng chính phủ Hoa Kỳ không có nỗ lực nào để đảm bảo việc thả họ?

Đại tướng Singlaub. Tôi không thể nói rằng đó là chính xác.

Chủ tịch Spectre. Bạn có biết bất kỳ nỗ lực nào của chính phủ Hoa Kỳ để đảm bảo việc phát hành của họ không?

Đại tướng Singlaub. Đây không phải là trách nhiệm của Chính phủ Hoa Kỳ. Hăy để tôi chỉ ra cách kiểm soát đă nằm trong tay người Việt Nam. Đây là một phần rất quan trọng trong số này v́ tôi đă nghe các cáo buộc về hành vi tội phạm và cố t́nh cố gắng đưa họ ra khỏi các cuộn để tiết kiệm tiền.

Chủ tịch Spectre. Có phải họ không cố t́nh gỡ bỏ các nghĩa vụ thanh toán của Hoa Kỳ?

Đại tướng Singlaub. Không phải để tiết kiệm tiền.

Chủ tịch Spectre. Chà, họ đă lấy ra khỏi cuộn?

Đại tướng Singlaub. Khi họ được xác định hoặc được cho là đă - nằm dưới sự kiểm soát của những người cộng sản, họ đă bị đưa ra khỏi danh sách như những tài sản đang hoạt động ở miền Bắc Việt Nam.

Chủ tịch Spectre. Nhưng họ không chết vào lúc đó, phải không?

Đại tướng Singlaub. Họ đă được tuyên bố là một tài sản không thể tồn tại. Bây giờ sắp xếp

Chủ tịch Spectre. Bây giờ hăy đợi một phút. Khi họ được tuyên bố là một tài sản không có khả năng, bởi v́ họ đang bị giam giữ, thực hiện một nhiệm vụ mà chính phủ Hoa Kỳ yêu cầu họ thực hiện

Đại tướng Singlaub. Không, điều đó không đúng. Bạn đang bắt đầu với một giả định cơ bản là sai. Chính phủ Hoa Kỳ đă không hỏi họ. Chính phủ Hoa Kỳ đă không tuyển dụng họ. Chúng tôi đă hỗ trợ cho một hoạt động t́nh báo cơ bản của Việt Nam.

Chủ tịch Spectre. Chúng ta đă đào tạo họ?

 Đại tướng Singlaub. Chúng tôi hỗ trợ đào tạo.

 Chủ tịch Spectre. Chúng ta hỗ trợ đào tạo?

Đại tướng Singlaub. Đúng rồi.

 Chủ tịch Spectre. Chúng ta đă trả tiền cho họ.

SINGLAUB chung. Chúng tôi đă trả tiền cho họ thông qua người Việt Nam, nhưng điều đó đúng với mọi thành viên của tất cả các lực lượng. Người Hàn Quốc và Thái Lan và tất cả những người khác đă tham gia vào cuộc chiến đó.

Chủ tịch Spectre. Vâng, chúng ta có thể đă hành động không đúng trong rất nhiều trường hợp khác. Điều đó không biện minh cho việc chúng ta trả tiền cho họ giống như cách chúng ta trả cho họ ở Hàn Quốc và Thái Lan và những nơi khác.

Đại tướng Singlaub. Không, tôi đang nói về

 Chủ tịch Spectre. Xin lỗi. Chúng tôi đă có một thỏa thuận với chính phủ Nam Việt Nam để các đặc công này thực hiện một chức năng mà cả chính phủ Hoa Kỳ và Nam Việt Nam muốn thực hiện. Điều đó không đúng.

Đại tướng Singlaub. Không hẳn.

Chủ tịch SPECTER. Vâng, điều ǵ là không chính xác về nó?

Đại tướng Singlaub. Các hoạt động được bắt đầu bởi người Việt Nam. Ban đầu, đó là một linh mục đă ra khỏi miền Bắc Việt Nam và anh ta muốn được hỗ trợ trong việc tuyển người trở về Bắc Việt Nam. Nhưng điều này đă được thực hiện bởi CIA.

16

Chủ tịch Spectre. Được rồi, do người miền Nam khởi xướng, nhưng được Hoa Kỳ đồng ư.

 Đại tướng Singlaub. Vâng, đồng ư hỗ trợ, điều đó là chính xác.

 Chủ tịch SPECTER. Trên một mục đích v́ lợi ích chung của chính phủ Việt Nam và chính quyền Hoa Kỳ.

Đại tướng Singlaub. Đúng rồi. Nhưng, tôi tiếp tục nói rằng họ được người Việt tuyển dụng. Họ đă được người Việt sàng lọc và xem xét kỹ lưỡng.

Chủ tịch Spectre. Chính phủ Hoa Kỳ có ít hơn một đối tác đầy đủ trong hoạt động này không, Tướng Singlaub?

Đại tướng Singlaub. Đúng. Chúng tôi ít hơn một đối tác đầy đủ trong phần hoạt động cụ thể này - của toàn bộ hoạt động MACSOG. Đây là một hoạt động có nguồn gốc Việt Nam. Nó được điều hành bởi Vi-etnamese. Chúng tôi không nói ǵ về phương pháp lựa chọn đại lư của họ. Tôi đă thực hiện - nhiều lần tôi đă cố gắng để họ thay đổi hoặc giới thiệu một số đánh giá tâm lư để cố gắng cải thiện chất lượng của đại lư. Nhưng tôi không nói ǵ. Họ đă chạy một phần của nó.

 Chủ tịch Spectre. Vâng, Tướng Singlaub, với tất cả sự tôn trọng, tôi nghĩ rằng khi bạn nói về phương pháp lựa chọn, bạn đang ở ŕa của hoạt động. Khi bạn nói về sự khởi đầu, đó là một điểm quan trọng, nhưng sau đó Hoa Kỳ tham gia. Hoa Kỳ là một người tham gia. Hoa Kỳ đang t́m kiếm sự hỗ trợ của họ cho một mục đích v́ lợi ích của Hoa Kỳ cũng như Nam Việt Nam. Và Hoa Kỳ đang cam kết trả cho họ một khoản tiền nhất định.

SINGLAUB chung. Phù hợp với hợp đồng được kư bởi các đại lư với đại diện của Việt Nam Cộng ḥa. Chủ tịch Spectre. Khỏe. V́ vậy, Việt Nam Cộng ḥa có liên quan. Những người đàn ông cá nhân này có liên quan, nhưng chính phủ Hoa Kỳ có liên quan. Và phải có một khoản thanh toán hàng tháng cho những người đàn ông này làm những việc nhất định. Hoạt động cam kết đằng sau các ḍng Bắc Vi-etnamese. Bây giờ họ bị bắt giam để họ không c̣n có thể thực hiện một nhiệm vụ tích cực. Nhưng họ đang bị giam giữ, họ đang ở trong tù, họ phải chịu sự tra tấn

SINGLAUB chung. Bạn phải biết

 Chủ tịch Spectre. Hăy để tôi hoàn thành câu hỏi của ḿnh, Tướng Singlaub - v́ đă thực hiện một công việc mà Hoa Kỳ cùng yêu cầu họ đảm nhận. Làm thế nào bạn có thể, trong bất kỳ lương tâm nào, nói rằng nghĩa vụ trả tiền cho họ kết thúc tại thời điểm họ bị giam giữ hoàn toàn ngoài tầm kiểm soát của họ, thực hiện một nhiệm vụ cho chính phủ Hoa Kỳ và Nam Việt Nam.

Đại tướng Singlaub. Chúng tôi đă trả tiền cho họ - trả tiền cho người Việt Nam để thực hiện các hợp đồng mà họ đă kư với các đại lư này. Và các điều khoản của các hợp đồng là khá rơ ràng. Họ không giống nhau. Họ thay đổi v́ những ưu đăi được người Việt đưa vào để thay đổi theo thời gian. Nhưng nó đă ghi trong hợp đồng, rằng nếu họ bị bắt hoặc bị giết, một số điều sẽ xảy ra. Và người Việt Nam thực hiện điều đó.

Chủ tịch Spectre. Có được quy định trong hợp đồng rằng nếu họ bị bắt thực hiện một nhiệm vụ chung cho Nam Việt Nam và Hoa Kỳ th́ nghĩa vụ của chính phủ Hoa Kỳ phải trả cho họ sẽ chấm dứt?

17

Đại tướng Singlaub. Không có nghĩa vụ trong hợp đồng đó với Hoa Kỳ. Hợp đồng không nằm giữa Hoa Kỳ, hoặc MACSOG và các đại lư. Đó là giữa dịch vụ t́nh báo Việt Nam Cộng ḥa và đại lư đă tuyển dụng. Họ đă kư hợp đồng. Họ điều chỉnh hợp đồng. Và họ đă đến với chúng tôi với một danh sách những người được hưởng các khoản thanh toán khác nhau.

 Chủ tịch Spectre. Chà, nếu chính phủ Hoa Kỳ không có nghĩa vụ theo hợp đồng, General Singlaub, tại sao khoản thanh toán tiền thưởng tử vong này lại cụ thể "khoản thanh toán này phản ánh toàn bộ việc giải quyết tử vong và chính phủ Hoa Kỳ được giải phóng khỏi mọi khiếu nại trong tương lai phát sinh từ sự cố này. . " Nếu không có nghĩa vụ, tại sao chính phủ Hoa Kỳ t́m cách giải phóng?

Đại tướng Singlaub. Bởi v́ chính phủ Hoa Kỳ đă trả tiền.

Chủ tịch Spectre. Bởi v́ chính phủ Hoa Kỳ kết luận rằng họ có nghĩa vụ.

 Đại tướng Singlaub. Vâng, nghĩa vụ là hợp đồng giữa hai yếu tố của Việt Nam Cộng ḥa - các nhân viên t́nh báo của họ và cơ quan t́nh báo và chúng tôi đă trợ cấp cho điều đó. Như chúng tôi đă làm hầu hết các hoạt động khác.

Chủ tịch Spectre. General Singlaub, bởi tất cả các phiên dịch pháp lư, Hoa Kỳ là một bên trong hợp đồng đó, ít nhất là người thụ hưởng bên thứ ba, có nghĩa vụ, có lợi ích.

Tướng SlNGLAUB. Đúng rồi. 

 Chủ tịch Spectre. Chính phủ Hoa Kỳ công nhận rằng trong bản phát hành tiền thưởng tử vong này nói rằng họ muốn được miễn trừ khỏi mọi khiếu nại v́ họ có nghĩa vụ; khác ngôn ngữ này sẽ là vô nghĩa.

Đại tướng Singlaub. Vâng, đó là để thiết lập một thực tế rằng chúng tôi không có nghĩa vụ. Đó là lư do tại sao nó được kư theo cách đó.

Chủ tịch Spectre. Đó là để thiết lập một thực tế rằng sẽ không có nghĩa vụ sau khi có một bản phát hành bởi

Đại tướng Singlaub. Đúng rồi.

Chủ tịch Spectre [tiếp tục]. Các bên đă nhận được số tiền này, thừa nhận rằng có một nghĩa vụ trước khi phát hành. Quan điểm của việc giải phóng khỏi một nghĩa vụ là ǵ nếu không có nghĩa vụ?

Đại tướng Singlaub. Đó là một yêu cầu bỏ thuốc lá. Đó là để thiết lập một thực tế rằng Hoa Kỳ không có nghĩa vụ.

Chủ tịch Spectre. Chà, chính phủ Hoa Kỳ đang trả tiền để giải thoát họ khỏi một nghĩa vụ mà họ công nhận. Tướng Singlaub, bạn có nghĩ rằng Chính quyền đang trả tiền ở đây mà họ không có nghĩa vụ phải trả, như Thượng nghị sĩ Kerry đă làm chứng ở đây sớm hôm nay không? Hoặc nếu chính phủ Hoa Kỳ đi trước và trả số tiền này cho những người này, rằng họ đang trả tiền th́ họ không có nghĩa vụ pháp lư phải trả.

Đại tướng Singlaub. Chà, tôi nghĩ rằng có một số nhầm lẫn xảy ra trong này. Sự hài ḷng về cái chết mà bạn đang nói ở đây không liên quan ǵ đến OP35. Cá nhân đă tiến lên - ư tôi là OP34 ALPHA. Ông là thành viên của OP35. Và OP35 trên thực tế là một tổ chức chỉ huy của Mỹ đă thực hiện các hoạt động xuyên biên giới ở Lào.18

Chủ tịch Spectre. V́ vậy, bạn đang nói với ông Sơn, Hoa Kỳ đă có nghĩa vụ đối với ông.

Tướng SlNGLAUB. Đúng. Đúng. Bởi v́ anh ấy làm việc trong OP35. Tôi không biết tại sao anh ta được đưa vào nhóm này.

 Chủ tịch SPECTER. Chà, vậy là có một số người miền Nam nơi Hoa Kỳ đă có nghĩa vụ ngay cả dưới sự giải thích của bạn.

Tướng SlNGLAUB. Ồ, vâng.

Chủ tịch Spectre. Chà, có bao nhiêu người?

Tướng SlNGLAUB. Tôi không có một con số chính xác. Nhưng nó là nhiều hơn đáng kể so với số lượng hạn chế trong OP34 pro-gram. Những cá nhân này là một phần của các hoạt động xuyên biên giới, tổ chức theo đội 12. Ba người Mỹ và chín người bản địa. Một số đội là người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Hầu hết trong số họ là những bộ lạc khác nhau của người Thượng. Và một số là Cam-Bodian. Nhưng đó là hoạt động khác nhau và là một hoạt động trong thực tế được điều hành bởi và được chỉ huy bởi người Mỹ.

Chủ tịch SPECTER. Chà, tôi đă hiểu từ lời khai trước đó của bạn rằng những người như ông Sơn, không được hưởng bất kỳ khoản thanh toán nào từ Hoa Kỳ v́ đó là một hoạt động của Nam Việt Nam. Nhưng bây giờ bạn đang nói rằng một số chỉ huy hoặc thành viên trong đội Nam Việt Nam, bất kể bạn gọi họ là ǵ, đang hoạt động dưới sự bảo trợ của Hoa Kỳ và đă có yêu sách chống lại Hoa Kỳ.

Tướng SlNGLAUB. Đúng rồi.

Chủ tịch Spectre. Tại sao trong trường hợp của ông Sơn?

Tướng SlNGLAUB. Khi bạn đọc điều đó, tôi nghĩ đó là từ một trong những biệt kích. Đó không phải là từ một trong những biệt kích. Đó là từ ông Sơn. Ai, theo tuyên bố của ḿnh, là một thành viên của OP35, đó là một chương tŕnh hoàn toàn khác. Và có - đó là một chương tŕnh lớn hơn nhiều so với OP34.

Chủ tịch SPECTER. Chà, giao dịch với đơn vị của ông Sơn chỉ trong chốc lát, chúng tôi đă nghe ông ta làm chứng về việc ở tù gần 20 năm. Và bạn có một đại diện của chính quyền Hoa Kỳ ở đây rằng anh ta đă chết, bởi v́ họ đang phải trả một khoản tiền tử vong. Và họ đang trả anh ta trong mười hai tháng. Đó có phải là một điều công bằng để làm? Đó có phải là toàn bộ nghĩa vụ của Hoa Kỳ để loại bỏ anh ta như

chết khi anh ta c̣n sống

 Tướng SlNGLAUB. Chúng tôi không biết rằng anh ta c̣n sống.

 Chủ tịch SPECTER. Vâng, bạn có biết rằng anh ấy đă chết?

Tướng SlNGLAUB. Đúng.

 Chủ tịch Spectre. Làm thế nào bạn có thể biết anh ta đă chết khi c̣n sống?

Tướng SlNGLAUB. Ông được coi là đă chết

 Chủ tịch Spectre. Đó là một cách thuận tiện để đưa anh ta ra khỏi cuộn.

Tướng SlNGLAUB. Ân xá?

Chủ tịch Spectre. Đó là một cách thuận tiện để đưa anh ta ra khỏi cuộn. Làm thế nào để bạn đoán anh ta đă chết khi không có nỗ lực để t́m hiểu những ǵ đă xảy ra với anh ta hoặc anh ta đang ở đâu?

Tướng SlNGLAUB. Tôi từ chối ư tưởng rằng không có nỗ lực nào để t́m ra anh ta ở đâu. Nếu như anh ấy đă

 Chủ tịch Spectre. Đă có nỗ lực ǵ để t́m hiểu chuyện ǵ đă xảy ra với ông Sơn?19

Tướng SlNGLAUB. Những đội đó sẽ gửi tuần tra trở lại và nh́n, t́m kiếm khu vực. Ông không bao giờ đưa ra bất kỳ danh sách bị bắt. Và thế là anh ta được cho là đă bị giết trong trận chiến diễn ra khi đội của anh ta - chạm trán kẻ thù.

Chủ tịch SPECTER. Chà, Tướng Singlaub, những danh sách bị bắt hầu như không thể kết luận về những ǵ đă xảy ra với các cá nhân. Nó không loại trừ việc anh ta bị bắt làm tù binh và ở trong tù mà thực tế anh ta là như vậy. Phải không?

Đại tướng Singlaub. Ồ không; đúng. Điều tương tự cũng áp dụng cho người Mỹ. Một trong những chương tŕnh trong MACSOG đă được triển khai với E & E. Các hoạt động trốn tránh và trốn thoát. Chúng tôi đă có Trung tâm phục hồi nhân sự chung, như là một phần của hoạt động. Và chúng tôi theo dơi mọi người Mỹ bị bắt hoặc được liệt kê là mất tích trong hành động. Và chúng tôi đă nỗ lực để lấy một số trong số đó. Và chúng tôi chắc chắn đă làm điều đó trên những người OP35. Bởi v́ họ đă ở gần. Và chúng tôi đă chạy các hoạt động để xác định vị trí của họ tại thời điểm đó. Chúng tôi đă chạy các hoạt động cứu hộ.

Bây giờ, tôi không biết lư do chính xác, nhưng trong hầu hết các trường hợp, nhưng khi ai đó được tuyên bố là đă chết, đó là v́ một thành viên trong đội được giải cứu nói rằng anh ta thấy anh ta chết hoặc bị thương nặng và họ không thể đưa anh ta ra ngoài.

Chủ tịch Spectre. Nhưng tất nhiên bạn không biết liệu điều đó có xảy ra trong trường hợp của ông Sơn không.

Tổng SlNGLAUB. Không, tôi không biết điều đó.

 Chủ tịch Spectre. Tướng Singlaub, bạn có nghĩ ông Sơn được đối xử công bằng.?

Đại tướng Singlaub. Trước thực tế là anh ta bị bắt và dành nhiều thời gian trong tù, tôi không thể nói rằng anh ta được đối xử công bằng.

Chủ tịch SPECTER. Bạn có nghĩ rằng Chính phủ Hoa Kỳ có nghĩa vụ phải làm nhiều hơn là trả cho anh ta trong 12 tháng được trả theo khoản tiền thưởng tử vong này không?

Đại tướng Singlaub. Tôi nghĩ rằng Hoa Kỳ là một xă hội rất hào phóng và từ bi và chúng tôi cố gắng làm những ǵ là chính xác. Không chỉ những ǵ hợp đồng chỉ định.

Chủ tịch SPECTER. Câu hỏi của tôi cho bạn là bạn có nghĩ rằng chính phủ Hoa Kỳ có nghĩa vụ phải trả cho anh ta hơn mười hai tháng dưới cái chết này không?

 Đại tướng Singlaub. Theo quan điểm về việc anh ta không bị giết, vâng.

 Chủ tịch Spectre. Bây giờ tôi sẽ nhường cho Thượng nghị sĩ Kerrey. Tôi có một nghĩa vụ, rằng tôi sẽ phải tự bào chữa trong khoảng 15 hoặc 20 phút nhưng tôi sẽ quay lại ngay khi có thể. 

 Phó chủ tịch Kerrey. Tôi sẽ quản lư trong 20 phút. Nói chung, trước khi tôi nhận được một số câu hỏi, tôi có thể, v́ tôi hiện đang chịu trách nhiệm, yêu cầu một trong những nhân chứng khác quay lại rằng tôi không có cơ hội đặt câu hỏi khi vắng mặt.

Nhưng một trong những điều tôi nghĩ là quan trọng để đặt ra ở đây là vào năm 1972, cả hai nền tảng của đảng Cộng ḥa và Dân chủ đều tán thành các nền tảng nói rằng Hoa Kỳ nên rời khỏi Việt Nam. Và năm 1975 chúng tôi đă ra khỏi Việt Nam. Và hầu hết các tờ báo ở Mỹ và nhiều người, tôi sẽ nói rằng phần lớn người Mỹ nói hăy ra ngoài, đừng quay lại, quay lưng lại, quên nó đi.

 Ư tôi là, đó là bối cảnh lịch sử như tôi thấy. Chúng tôi bỏ qua những ǵ đang xảy ra ở Campuchia. Chúng tôi bỏ qua các cam kết mà chúng tôi đă thực hiện.20

đến người Mông ở Lào. Chúng tôi bỏ qua đặc biệt là cam kết mà chúng tôi đă thực hiện với người miền Nam để ở lại với họ bất kể chuyện ǵ xảy ra. Ư tôi là đó là bối cảnh chính trị của '72. '73. '74. '75. Tôi nghĩ người ta phải cẩn thận một chút khi chỉ kéo một sự kiện lịch sử này đến đây, hoàn toàn ra khỏi bối cảnh. Ư tôi là, tôi đă đến thăm Việt Nam vào năm 89 và 90. Và vào năm 90, tôi có dịp hỏi các nhà lănh đạo cộng sản ở miền Bắc về những người miền Nam Việt Nam, những người lính VNCH, và cách đối xử của họ với những người lính VNCH, điều đó thật tàn bạo. Mà đă tàn bạo. Việc ḥa giải đă không xảy ra. Sự từ chối nhân quyền. Việc từ chối quyền công dân. Việc từ chối tất cả các cơ hội việc làm, cho giáo dục,

V́ vậy, tôi đă hỏi họ điều này, về việc họ sẽ ḥa giải hay không. Và họ nói, chúng tôi có một người đàn ông đang ở trong hội đồng khi bạn xuống thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi sẽ thiết lập một cuộc họp. Và tôi đă gặp người đàn ông này trong văn pḥng của anh ta ở Sài G̣n và anh ta nói với tôi ra khỏi văn pḥng của anh ta, một cái ǵ đó không hoàn toàn là một bản hùng ca đối với tôi. nhưng chắc chắn nó mở mắt tôi với những ǵ chúng tôi đă làm. Và anh ấy nói, khá đơn giản, chúng tôi tin bạn. Chúng tôi tin bạn khi bạn nói rằng bạn sẽ ở lại với chúng tôi.

Ư tôi là, cửa sổ đă đóng. Cánh cửa đă đóng từ '75 trở đi. Và v́ vậy, để chúng tôi quay lại bây giờ và nói rằng đây là CIA đă làm tất cả những điều này, hoặc Bộ Quốc pḥng đă làm tất cả những điều này, Mỹ đóng cửa lại. Có một cuộc diệt chủng ở Campuchia mà chúng tôi bỏ qua v́ chúng tôi không muốn quay lại Đông Nam Á. Chúng tôi không muốn tham gia vào tất cả điều đó. Có những cuộc biểu t́nh cho phép thuyền nhân để đến Hoa Kỳ. Họ không luôn được chào đón ở nhiều cộng đồng. Và vẫn. Tôi nghĩ rằng có một sự bất đắc dĩ phải đối mặt với sự đau khổ chung của người dân miền Nam.

 Dù sao, tôi chỉ đặt nó xuống dưới dạng một phân tích rất ngắn gọn, hoặc tuyên bố về bối cảnh cho cuộc thảo luận cụ thể này. Một trong những điều mà tôi muốn hỏi và điều đó có thể yêu cầu ông Sơn cũng phải quay lại, tôi không chắc chắn, hoặc ít nhất nó có thể yêu cầu một số câu trả lời, và nếu có. Tôi sẽ rất vui khi có anh ấy và ông Tourison đến. Dường như các hoạt động này - bạn là người đứng đầu MACSOG, khi bạn tiếp quản người đứng đầu MACSOG, bạn đă nói °

Tổng SlNGLAUB. Vào tháng 5 năm 1966.

 Phó chủ tịch Kerrey. Vào tháng 5 năm 1966. V́ vậy, tôi không thể - Tôi đang xem danh sách các biệt kích đang tham dự phiên điều trần hôm nay và họ quay trở lại, tôi cho rằng, có một hoạt động vào năm 64, tôi đoán trước ngày ngày giam giữ là ngày hoạt động. Tôi đoán đó là trường hợp. Tôi thấy ai đó gật đầu lại đây.

Tướng Senglaub. Trong nhiều trường hợp đó là sự thật, nhưng nhiều đội đă kéo dài hàng tuần hoặc hàng tháng nên nó không chính xác.

 Phó chủ tịch Kerrey. V́ vậy, tôi thấy một hoạt động trong năm 64, ví tiền được triển khai vào năm 1964, nhiệm vụ thất bại; '65 cũng bị bắt, tống giam; '66 bị bắt, bị giam giữ, hai người nữa, ba người nữa, '64, người khác '65. '62. '62. Câu hỏi là tôi có, số một, cái ǵ đă xảy ra? Tại sao họ bị bắt? Có phải họ đă từ bỏ bởi chính người của họ? Đây có phải - những nhiệm vụ đă bị xâm phạm? Có phải họ chỉ đơn thuần được tiếp xúc khi họ đi ở miền Bắc?21

 Và thứ hai, tại sao họ lại làm thế - nếu họ thất bại mọi lúc, tại sao họ không dừng lại? Tại sao họ không dừng lại? Tại sao chúng ta lại tiếp tục đối mặt với sự thất bại này?

 Tướng Singlaub. Đó là những câu hỏi hay. Và chắc chắn là những câu hỏi mà tôi đă hỏi khi tôi nhận lệnh và hỏi nhiều lần sau đó. Và tôi tin rằng đó là sau khi tôi trở lại và thông báo.

Tham mưu trưởng liên quân vào mùa hè năm 1968, rằng họ đă cho phép chúng tôi chấm dứt họ. Có áp lực rất lớn từ Chính quyền để giữ cho những tài sản đó tồn tại. Họ muốn chỉ ra rằng chúng tôi có lực lượng t́nh báo ở miền Bắc Việt Nam. Khi tôi được thông báo vào đầu năm 1966 tại trụ sở của CIA, chúng tôi đă đi qua tất cả các đội. Họ đưa ra quan điểm của họ về việc họ có khả thi hay không. Trong hầu hết các trường hợp họ không. Nhưng, khi phân tích những ǵ đă sai, giả định đă có một số vấn đề với tính bảo mật hoạt động. An ninh hoạt động đă được thay đổi.

Phó chủ tịch Kerrey. Ông Son và ông Tourison, bạn có phiền khi quay trở lại để tôi có thể hỏi vài người - tôi xin lỗi. Tôi không ở đây khi ông Sơn cung cấp lời khai. Liệu anh ta lại yêu cầu một thông dịch viên?

Ông Tourison. Anh ấy nói tiếng Anh. Nếu bạn giữ các câu hỏi đơn giản và trực tiếp, Thượng nghị sĩ, anh ta sẽ nhận .

Phó chủ tịch KERREY. Ông Sơn, bạn có thể mô tả các vấn đề mà bạn đă bị bắt vào năm 1967. đó có phải là vấn đề không?

Anh Sơn. Xin lặp lại.

 Phó chủ tịch KERREY. Bạn là một phần của một hoạt động - bạn đă đi vào một hoạt động vào năm 1967.

Anh Sơn. Đúng.

Phó chủ tịch Kerrey. Và bạn đă bị bắt bởi các lực lượng Bắc Việt.

Anh Sơn. Đúng.

Phó chủ tịch KERREY. Bạn có thể mô tả các trường hợp chụp của bạn và lư do tại sao bạn tin rằng bạn đă bị bắt?

Anh Sơn. Tôi đă đi hoạt động với đội của tôi . 

Phó chủ tịch KERREY. Có bao nhiêu người đàn ông trong đội?

 Ông SƠN. Tám thành viên. Ba người Mỹ. Ba người Mỹ, là trưởng nhóm, phó nhóm và một, người đàn ông khác tôi nghĩ anh ta đă truyền.

Phó chủ tịch Kerrey. Và bạn - chỉ để trả lời trước đó, Tướng Singlaub, ông là thành viên của OPLAN 35?

Tướng SlNGLAUB. Đúng rồi. Hoạt động xuyên biên giới là một hoạt động hoàn toàn riêng biệt mà-

Phó chủ tịch Kerrey. Bạn sẽ nhận ra

 Tướng Singlaub [tiếp tục]. Đă xử lư.

 Phó chủ tịch Kerrey. Bạn sẽ nhận ra anh ta là một nhân viên Mỹ. Nếu anh ấy OPLAN 35 anh ấy là nhân viên Mỹ?

Tướng Singlaub. Điều đó đúng .

 Phó chủ tịch Kerrey. Tại sao anh ta không được yêu cầu trong hội nghị Paris năm '73? 

Đại tướng Slnglaub. Ông được coi là đă chết. Một trong những thành viên trong nhóm của anh ta đă sống sót, dường như đă chỉ ra rằng - cho rằng anh ta đă chết. 

 "Phó chủ tịch KERREY. Ông Tourison, vou đang lắc đầu không?"

 22

Ông Tourison. Tôi đă nói chuyện với - người phiên dịch nhóm sẽ đến California. Vụ việc ông Sơn bị mất là một sự cố đau khổ và rất đau khổ cho gia đ́nh của Trung sĩ Ronald Dexter, một trong những NCO của chính MACSOG. Họ bị mất máy bay trực thăng đầu tiên, họ phải chuyển qua một giây.

 Phó chủ tịch Kerrey. Họ chèn bằng trực thăng?

 Ông Tourison. Vâng thưa ngài.

 Phó chủ tịch KERREY. Hai máy bay trực thăng?

 

 Ông DU LỊCH. Chúng được chèn bằng trực thăng. Và đă tham gia vào một cuộc chữa cháy trong ṿng 24 giờ đầu tiên. 

Phó chủ tịch Kerrey. Bạn có biết đủ chi tiết? Khi nào nó ở '67?

 

Ông Tourison. Tháng 7 năm 1967.

 

Phó chủ tịch Kerrey. Họ đă đi vào ban đêm, vào ban ngày?

 

 Ông Tourison. Họ đă đi vào ban ngày. Thiết lập căn cứ tuần tra của họ dọc theo đường sườn núi. Sáng hôm sau đă vào trận chiến.

 

Phó chủ tịch Kerrey. Và chính xác họ đă hạ cánh ở đâu?

 

Ông DU LỊCH. Tôi tin rằng đó là ở tỉnh Savannahkhet, Lào. Ngày hôm sau họ kêu gọi khai thác không khí. Chiếc trực thăng đầu tiên không thể lấy chúng ra. Họ mang theo một chiếc trực thăng khác. Chiếc trực thăng bị bắn hạ. Họ bị rơi ở trung tâm của một kho đạn dược của Bắc Việt. Trong số 11 người Việt Nam trên máy bay trực thăng, và họ là người Việt Nam duy nhất trên máy bay trực thăng, 10 người bị bắt làm tù binh, số 11 bị nghiền nát dưới đường dốc phía sau của Chinook. Hai người Mỹ bị bắt làm tù binh. Ronald Dexter, Trung sĩ chủ lực, Quân đội Hoa Kỳ, Lực lượng đặc biệt và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ Lance Corporal Frank Cius. 

 Phó chủ tịch Kerrey. Và hai người đàn ông này có phải là một phần của việc thả tù nhân không? 

Ông DU LỊCH. Hạ sĩ Cius đă được hồi hương, Ronald Dexter không được tính đến lúc đó và tôi tin rằng cho đến ngày nay chưa bao giờ được tính đến. Văn pḥng tùy viên quốc pḥng 

 Phó chủ tịch Kerrey. Nhưng cả hai đều có tên trong danh sách ở Paris. 

Ông Tourison. Vâng thưa ngài.

 

 Phó chủ tịch Kerrey. Và tại sao theo đánh giá của bạn là ông Sơn không có trong danh sách?

 

Ông DU LỊCH. Tôi không hiểu tại sao, đặc biệt với tuyên bố của Tướng Singlaub, rằng những điều này rơ ràng, trong trường hợp của OPLAN 35, những người bị mất trong các hoạt động xuyên biên giới ở Lào - và họ đă mất hàng trăm người - và bằng chứng về cái chết không có ở đó. Không ai bị bắt, không ai trở về từ chiếc trực thăng bị bắn rơi đó. Ronald Dexter đă được liệt kê là mất tích trong hành động. Giữ trên những cuốn sách. Tên đă ở đó. Frank Cius. Giữ trên những cuốn sách, tên đă ở đó. Frank Cius trở về sống. Ronald Dexter vẫn chưa được, vẫn chưa được trả lại. Nhưng tất cả những người Việt Nam trong đội đó sống sót, trong số mười người, chỉ có Hà Văn Sơn được giữ ở Bắc Việt. Các đặc vụ khác đă được hồi hương vào mùa xuân năm 1973 với tư cách là tù nhân chính trị. Đại tá "Bull" Simons đă đến Ṭa án Liên bang Hoa Kỳ tại Honolulu, Hawaii và được trả lại tiền. Từ ngày bắt cho đến ngày trở về. Điều đó đă được trả bởi một sĩ quan quân đội Hoa Kỳ tại Sài G̣n. Một thông dịch viên của quân đội Hoa Kỳ, Bill Bell, người mà bạn có thể

 

 

 

23

 

 

 

làm quen với dịch vụ của ḿnh sau đó tại Hà Nội, đă thực hiện dịch thỏa thuận yêu cầu nghỉ việc ở Honolulu, Hawaii vào mùa xuân năm 1973, sau khi Bộ Tư lệnh Thái B́nh Dương cai trị Đại tá Bill Simons nhận tiền từ Ṭa án Liên bang Hoa Kỳ. Trả lại tiền. Nhóm dân sự và quốc pḥng thường xuyên. Ngày chụp đến ngày trở về. Nhưng không dành cho Hà Văn Sơn. Bởi v́ anh ta là thành viên duy nhất trong nhóm mười người đàn ông của ḿnh sống sót mà không được hồi hương.

 

Phó chủ tịch Kerrey. Ai phụ trách đội?

 

 Ông Tourison. Trung sĩ Ronald Dexter bên phía Hoa Kỳ. Anh ta bị đánh đến chết, bằng chứng là chúng tôi có, khi anh ta ở Bắc Việt Nam trước khi họ đến Hà Nội Hilton.

 

 Phó chủ tịch Kerrey. V́ vậy, một Trung sĩ Lực lượng Đặc biệt của Quân đội Hoa Kỳ phụ trách đội?

 

Ông DU LỊCH. Vâng thưa ngài. Frank Cius là một xạ thủ cửa trên trực thăng.

 

Phó chủ tịch Kerrey. Và bạn xem điều ǵ là nguyên nhân khiến họ bị xâm phạm? Có phải họ vừa bay vào một khu vực

 

Ông DU LỊCH. Trong trường hợp này, Thượng nghị sĩ, họ đă vào một khu vực nóng. Nó đă xảy ra nhiều, nhiều lần. Họ không nhất thiết phải biết họ đang đến. Ngoại trừ một điều. Có một nốt ruồi. Và Tướng Singlaub t́m kiếm nốt ruồi. Hồ sơ trên đó là rơ ràng. Tướng Singlaub đă cố gắng trong 2 năm. Người tiền nhiệm của ông đă cố gắng. Nốt ruồi là ai? Những người ở bên trong là ai? Và họ không thể t́m thấy chúng. Một tháng sau khi cuốn sách của tôi được phát hành, Bộ Nội vụ Việt Nam đă đặt nốt ruồi trên truyền h́nh quốc gia Việt Nam. Cựu Đại tá Quân đội miền Nam Việt Nam, Trung tá Đỗ Văn Tiến, Phó trưởng pḥng hoạt động bí mật vào Bắc Việt Nam, được tuyển dụng bởi Nam Việt Nam vào năm 1956. Ông thừa nhận rằng trong suốt thời gian của toàn bộ chương tŕnh đă thỏa hiệp với Bắc Việt Nam '

 

 Phó chủ tịch Kerrey. Có bất cứ cơ hội nào trong tâm trí bạn rằng những người mà chúng ta đang xem xét để trả một yêu cầu bồi thường có thể là nốt ruồi đó không?

 

Ông Tourison. Không, thưa ngài.

 

Phó chủ tịch KERREY. tại sao bạn nói như vậy? Bằng chứng của kết luận đó là ǵ?

 

Ông Tourison. Đại tá Gilbert Layton, người đă qua đời, đă tham gia vào các hoạt động bí mật ở miền Nam Việt Nam và luôn cảm thấy trong thời gian ở Nam Việt Nam vào đầu những năm 1960 làm việc cho Bill Colby, rằng 10% có thể đă làm việc cho Bắc Việt. Nhưng anh cảm thấy ḿnh có lợi thế từ chín đến một. Tôi đă nói chuyện với tất cả các đại lư đang ở đây ngày hôm nay. Tôi đă nói chuyện với gần như mọi người sống sót và bên cạnh 100 người thân thích. Tôi biết những ǵ những người này đă trải qua. Tôi đă theo dơi từng người trong số họ hàng năm thông qua hệ thống nhà tù. Tôi biết ai đă ở đó, tôi biết ai không. Nếu Bộ Nội vụ Việt Nam đă tuyển một trong số những người này và gửi họ đến Hoa Kỳ sau khi họ ra tù. Thượng nghị sĩ bất cứ điều ǵ là có thể. Tôi nghĩ rằng nó không thể.

 

 Phó chủ tịch Kerrey. Nhưng không có bằng chứng cứng. Tôi có nghĩa là một cuộc tṛ chuyện, và một ước tính. Không có bằng chứng sẽ đứng lên trong một cuộc đánh giá, điều tra phản gián nghiêm trọng.

 

 

 

24

 

 

 

Ông DU LỊCH. Có hai, một trong những điệp viên đầu tiên mà William Colby gửi đến Bắc Việt Nam, Đặc vụ ARIES là một điệp viên hai mang.

 

 Phó chủ tịch Kerrey. Quan điểm của bạn là ǵ - Tôi cho rằng bạn có một số kiến ​​thức về sự tham gia của Hoa Kỳ trong việc đào tạo người Mông.

 

Ông Tourison. Không, thưa ngài. Tôi là sĩ quan liên lạc t́nh báo với các nhân viên t́nh báo của Quân đội Hoàng gia và về cơ bản giống như Tướng Singlaub làm việc với Nam Việt Nam trong các hoạt động bí mật, tôi đă xử lư các hoạt động thẩm vấn của Quân đội Hoàng gia ở Viêng Chăn về cơ bản từ năm 1971 đến 1974, mặc dù thời gian thực sự của tôi đến là tháng ba năm 71. Tôi cũng đă xử lư hai khu vực quân sự ở Lào: khu vực quân sự một, khu vực quân sự năm và được tài trợ lại để giám sát việc sản xuất tất cả các báo cáo thẩm vấn mà chúng tôi, trong một nhóm rất nhỏ, Đội Khai thác Lào, đă làm trong khoảng thời gian 1971-1974 quản lư của tôi.

 

 Phó chủ tịch Kerrey. Tôi cho rằng khi dự luật này được thực hiện và được chuyển đến Dịch vụ Tư pháp hoặc Vũ trang rằng họ có thể đưa ra câu hỏi về cả tính hợp pháp của khiếu nại và khả năng mở rộng khiếu nại. Ư tôi là đó là một nỗi sợ hăi lớn mà chúng tôi đă có ở đây. Và tôi nghĩ rằng điều rất quan trọng đối với chúng tôi là phản ứng ở đây một cách rất thẳng thắn và không bị cuốn vào vũng bùn tội lỗi mà chúng tôi cảm thấy dễ hiểu về thiệt hại gây ra cho những cá nhân này. Tôi nghĩ điều rất quan trọng là chúng tôi hiểu rằng chúng tôi có luật pháp Hoa Kỳ mà chúng tôi đang giải quyết và giải quyết nó, như tôi đă nói, theo một cách rất thẳng thắn, ư thức được những ǵ có thể tuân theo nếu những giải thưởng này được thực hiện và có ư thức như cũng là những ǵ công dân muốn chúng ta làm.

 

 Tôi chỉ muốn khám phá nếu tôi có thể, ư tưởng này là các hoạt động được tiếp tục. Bây giờ là Tướng quân, bạn nói rằng bạn đă yêu cầu họ dừng lại và như tôi thấy trên tờ chỉ có một năm 1970. V́ vậy, bạn đang nói rằng sau '68 các hoạt động biên giới đối lập

Đại tướng Singlaub. Các hoạt động xuyên biên giới đang gia tăng tại thời điểm đó, bởi v́ họ đă rất thành công. Các hoạt động vào Bắc Việt Nam đă không thành công ngay từ đầu. Bây giờ chúng ta biết rằng đó là v́ một nốt ruồi được đặt ở vị trí cao trong chính quyền Nam Việt Nam đang lật đổ Bắc Việt. Những thay đổi trong bảo mật hoạt động không có tác động đến điều đó.

 Phó chủ tịch Kerrey. Anh Sơn, tôi đă hỏi anh và tôi

 Đại tướng Singlaub. Vấn đề là ông Sơn không phải là một phần của chương tŕnh đó. Anh ấy đă tham gia một chương tŕnh tiếp tục cho đến khi chúng tôi bắt đầu rút tiền.

Phó chủ tịch Kerrey. Và nhân tiện, tôi không thể đưa ra kết luận nào khác, khi trả lời câu hỏi của riêng tôi, về lư do tại sao họ không được đưa vào và người Mỹ được đưa vào danh sách được gửi trước năm '73 ở Paris là họ là người Việt Nam và v́ vậy họ không có trong danh sách Ư tôi là nếu anh ta là một nhân viên Mỹ, chúng tôi sẽ không lấy một cá nhân nào, nói tốt, Trung úy Kerrey đă bị giết. Tôi thấy anh ta chết. Một cá nhân duy nhất làm chứng cho cái chết của tôi là thương vong sẽ không đủ để đưa tôi ra khỏi danh sách. Hoa Kỳ sẽ điều tra thêm và đảm bảo rằng họ đă xác minh bằng nhiều hơn một nhân chứng bằng mắt. Một lần nữa, tôi lấy lại điều đó với những ǵ tôi đă nói trước đó. Tôi nghĩ rằng, từ năm 1975 đến năm 1995, bạn biết đấy, bao gồm cả mea culpa khá đáng chú ư của Robert McNamara,

 

 

 

25

 

 

 

vào tháng 8 năm 1964, sau khi đến Quốc hội và nói rằng tôi có bằng chứng không thể chối căi cho thấy chúng tôi đă bị tấn công. V́ vậy, ư tôi là tôi nghĩ rằng đây là điều không thể đặt ra trước cửa nhà đàm phán của chúng tôi và cụ thể là ông Kissinger. Như tôi đă nói, tôi không thể đưa ra kết luận nào khác ngoài việc nói rằng nếu tên của ông Sơn là Bob Kerrey, số sê-ri 723089, th́ ông ta sẽ có tên trong danh sách. Họ sẽ không chấp nhận một mưu mẹo duy nhất. Và như tôi đă nói, tôi nghĩ rằng thật không may và bi thảm là một thái độ chung được giữ trong cả nước, toàn nước Mỹ, và nó làm cho chúng ta vào năm 1996 không hoàn toàn tốt về vấn đề đó.

Nói chung, bạn không chịu trách nhiệm cho hành động này, nhưng tôi phải nói rằng tôi, tôi thấy ḿnh đạt được kết luận đó và đó không phải là một kết luận rất hạnh phúc và đó không phải là một kết luận rất tự hào.

Tướng SlNGLAUB. Mặc dù vậy, tôi đưa ra quan điểm một lần nữa rằng chúng ta phải phân biệt giữa hai loại hoạt động mà chúng ta đang nói đến. Ông Sơn đang trong một hoạt động được điều hành bởi người Mỹ rơ ràng và tôi không biết tên của ông có trong danh sách hay không

Phó chủ tịch Kerrey. Không phải.

Tướng SlNGLAUB. Bạn có biết rằng?

 Phó chủ tịch Kerrey. Không có trong danh sách 72 Paris. Ông không được tŕnh bày dưới dạng tù binh. 

 Đại tướng Singlaub. Tất nhiên, tôi không biết tiêu chí nào được thiết lập để đưa chúng vào danh sách. 

Phó chủ tịch Kerrey. Đó là điểm tôi đang làm. Rơ ràng tiêu chí của một QLVNCH thấp hơn so với một lính Mỹ. 

Đại tướng Singlaub. Đúng rồi. 

Phó chủ tịch Kerrey. Anh Sơn, anh có thể nói với tôi bằng lời của anh tại sao anh nghĩ rằng cuộc hành quân thất bại mà anh tham gia - con số của tôi đúng - 1967, tháng 7 năm 67. 

 Anh Sơn. Khi tôi đi vào hoạt động năm 1967 

 Phó chủ tịch Kerrey. Anh Sơn, xin lỗi, anh có thể kéo micro lại gần hơn một chút không. 

Anh Sơn. Vào năm 1967, tôi bị bắt. Sau khi tôi bị bắt v́ hai máy bay trực thăng bị bắn hạ và khi tôi bị bắt, tôi thường tin rằng chính phủ Mỹ sẽ đón tôi ra - đón tôi trở lại. Nhưng tôi nghĩ rằng tôi giữ niềm tin của ḿnh cho đến khi phỏng vấn đi tái định cư theo chương tŕnh HO. 

Nhưng đôi khi tôi nghĩ rằng người Mỹ điều khiển kế hoạch đă không lưu tâm cho tôi, bởi v́ theo Thỏa thuận Paris, tôi nghĩ rằng chính quyền Hoa Kỳ đă đàm phán với chính quyền cộng sản. Những ǵ tôi không biết có thể là ông Singlaub. Ngay bây giờ tôi biết anh. Trước giờ tôi không biết anh ta v́ tôi chỉ là thành viên trong nhóm. Ngay bây giờ tôi biết bạn. Bạn là đại tá chỉ huy trưởng. Nhưng tôi nghĩ rằng bạn đă làm  việc thiếu tinh thân trách nhiệm. Bạn đă không nghĩ về những ǵ bạn làm. 

Và v́ vậy tôi không biết làm thế nào tôi có thể nói với bạn những ǵ. bây giờ tôi nói về cuộc sống của tôi với mọi người, và với văn pḥng Thượng nghị sĩ, bởi v́ tôi nghĩ rằng Hoa Kỳ, Hoa Kỳ là một quốc gia tốt và đó là lư tưởng của tôi khi tôi c̣n trẻ Nhưng chính thức có ai đó làm việc ǵ đó mà không chịu trách nhiệm. Vậy là khi nào. Tôi đến đây tôi liên quan với bạn của tôi. Mọi chỉ huy họ bị tống vào tù với tôi, suốt khoảng 20 năm, tôi nói với bạn tôi. Chúng tôi đă phải chiến đấu. Ngay bây giờ chúng tôi phải chiến đấu. Nhưng chính thức, chúng tôi đấu tranh cho tự do và đánh bại những người cộng sản. Ngay bây giờ chúng tôi phải chiến đấu cho danh dự của chúng tôi. 

Vấn đề không chỉ là tiền. Không có tiền có thể trả cho cuộc sống của tôi. Nhưng tôi nghĩ danh dự của tôi và danh dự bạn bè của tôi phải được công nhận, được công nhận. Và tiền tôi nghĩ (không) tất nhiên. Và tôi muốn nói chuyện với mọi người về một số nhà lănh đạo đă không nghĩ về người đàn ông đấu tranh cho tự do.

 Đó là tất cả." 

Phó chủ tịch Kerrey. Vâng, thưa ngài Chủ tịch, như bạn có thể thấy, tôi đă yêu cầu nhân chứng khác quay lại v́ tôi không ở đây sớm hơn và tôi đă thực hiện khá nhiều câu hỏi của ḿnh, và tôi nói rơ rằng những ǵ tôi đă nói trước đó, rằng các quan chức Hoa Kỳ yêu cầu các tù nhân của chúng tôi vào năm 1973 không bao gồm một nhân viên của chính quyền Hoa Kỳ rằng cả bốn bên có trách nhiệm ở đây, cũng như chính phủ Nam Việt Nam, tŕnh bày danh sách những người mà họ tin rằng họ vẫn đang bị giam giữ, và có Tôi nghĩ có lẽ một lập luận có thể được đưa ra là chính phủ Hoa Kỳ có thể đă quan tâm đến việc đối xử với các quốc gia Nam Việt Nam nếu chúng ta muốn nói với Bắc Việt Nam, đây là một danh sách những người và được đưa vào danh sách đó là các quốc gia Nam Việt Nam. Ư tôi là,

  Tuy nhiên, dường như tôi vẫn là trường hợp Hoa Kỳ nên tranh luận về việc thả các đồng minh đang thực hiện nhiệm vụ do lực lượng Hoa Kỳ lănh đạo. Dù sao, tôi đánh giá cao lời khai của các nhân chứng, ông Chủ tịch, tôi đánh giá cao phiên điều trần và cơ hội để đặt câu hỏi. Chủ tịch Spectre. Cảm ơn bạn rất nhiều, Thượng nghị sĩ Kerrey. Anh Sơn, tôi nghĩ tuyên bố cuối cùng của anh về danh dự là một điều rất, rất quan trọng, và tôi khen anh đă làm điều đó. 

Tướng Singlaub, chúng ta hăy quay trở lại điểm về sự khác biệt giữa hai loại đơn vị này. Tôi nghĩ bạn đă phân loại chúng 34 và 35?  

Đại tướng Singlaub. Đúng rồi; Vâng thưa ngài. 

 Chủ tịch Spectre. Ông Sơn đang ở Đơn vị 35, nơi chính phủ Hoa Kỳ, ngay cả dưới sự giải thích của bạn, là một bên tham gia?

 Đại tướng Singlaub. Họ được tuyển dụng, đào tạo bởi người Mỹ và được dẫn dắt bởi người Mỹ trong chương tŕnh đó trong các hoạt động xuyên biên giới, chủ yếu dọc theo đường ṃn Hồ Chí Minh. 

 Chủ tịch Spectre. Và bạn đă làm chứng rằng bạn nghĩ rằng có một nghĩa vụ đối với chính phủ Hoa Kỳ đối với những người đàn ông như ông Sơn đang ở trong một t́nh huống 35? 

 Đại tướng Singlaub. Chắc chắn rồi. Nhiều người Mỹ đă mất mạng khi cố gắng phục hồi các thành viên trong nhóm bị tách khỏi nhóm của họ trong một lần chèn hoặc trong một cuộc xung đột diễn ra sau khi chèn. Chúng tôi cảm thấy rất mạnh mẽ rằng đây là những thành viên của nỗ lực chung của chúng tôi và chúng tôi đă kiểm soát hoàn toàn chúng, và tôi không thể - chỉ v́ tôi không biết tiêu chí nào để đặt tên của Vinam và những người khác Những người bản địa Việt Nam từng làm việc trong các đội này trong danh sách tại Geneva - hoặc tại Paris, ư tôi là vậy. 

Chủ tịch Spectre. Bạn có nghĩ rằng những người đàn ông như ông Sơn trong Đơn vị 35 đáng lẽ phải là những người mà chính phủ Hoa Kỳ ép buộc phải thả ra bởi Bắc Việt Nam?

 Tướng SINGLAUB. Tôi ngạc nhiên rằng tên ông không có trên đó. Tôi chỉ có thể cho rằng anh ta được cho là đă chết và do đó không được liệt kê là MIA. 

Chủ tịch Spectre. Khi bạn đi đến câu hỏi về sự suy đoán trước cái chết, một chủ đề pháp lư phức tạp trong một số khu vực tài phán - đó là vấn đề thời gian, 7 năm không được nghe từ; câu hỏi về các giả định có thể bác bỏ - các quan điểm, giả định ai đó như ông Sơn đă chết là ǵ? 

 Đại tướng Singlaub. Tôi không biết. Điều đó thường được xử lư bởi người Việt Nam và họ có các cố vấn pháp lư của họ về điều đó.

 Chủ tịch Spectre. Chà, nó c̣n hơn cả người Việt. Đó là một kết luận được tham gia bởi Hoa Kỳ dưới sự hài ḷng về cái chết này. Có một kết luận của Hoa Kỳ 

Chính phủ mà ông Sơn đă chết - tiền thưởng tử vong. 

 Đại tướng Singlaub. Vâng, nhưng đó là một trường hợp không phải - sau một thời gian dài. Bản chất của hành động mà cuối cùng anh ta bị bắt là mọi người đă mất, khi tôi học được từ ông Tourison, và tôi vẫn không biết tên của đội này, có thể có 

 Ông Tourison. Đội Illinois. 

 Đại tướng Singlaub. Illinois. 

 Chủ tịch Spectre. Nhưng tại sao mọi người lại kết luận rằng mọi người đă mất? Ở đâu có chiến đấu, một số bị mất hoặc bị giết, những người khác bị bắt. 

Tướng SiNGLAUB. Tôi tin rằng bạn đă ra khỏi pḥng khi ông Tourison tiến hành chiến dịch trong đó hai máy bay trực thăng bị bắn hạ, họ bị rơi, và cuối cùng

 Chủ tịch Spectre. Điều đó có liên quan đến ông Sơn, ông Tourison? 

 Ông Tourison. Vâng thưa ngài. Tôi sẽ rất vui khi lặp lại nó, Thượng nghị sĩ, nếu bạn muốn. 

Chủ tịch Spectre. Bạn sẽ 

 Ông Tourison. Vào tháng 7 năm 1967, sau nhiều ngày nhảy dù ở Lào, một chiếc trực thăng Chinook cố gắng triệt thoái các thành viên đội Việt Nam cuối cùng đă bị bắn hạ và rơi xuống đất liền của một kho đạn dược của Bắc Việt. 

 Chủ tịch SPECTER. Có phải ông Sơn trong chiếc trực thăng đó? 

  Ông Tourison. Anh ta ở trong chiếc trực thăng đó, cũng như phi công, đồng đội, Trung sĩ thủy quân lục chiến Ronald Dexter, và một xạ thủ cửa, Lance Corporal Cius của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. 

 Chủ tịch Spectre. Và ông Sơn có xác nhận rằng - Ông Sơn, bạn có xác nhận rằng bạn đang ở trong chiếc trực thăng đó không? Bạn là ai? 

Anh Sơn. Vâng. 

Chủ tịch SPECTER. Nhưng tất nhiên, bạn đă sống sót. 

Anh Sơn. Vâng. 

Chủ tịch Spectre. Anh Sơn, những người khác trong chiếc trực thăng đó có sống sót không? 

Anh Sơn. Hai lính Mỹ và một số lính đặc nhiệm Việt Nam. 

Chủ tịch Spectre. Chà, được rồi, tôi đă không nghe thấy điều đó, do tôi đă phải bước ra khỏi pḥng một lát. Ở đây chúng tôi có các cuộc họp diễn ra đồng thời và nghe diễn ra. Đó là một vấn đề khó khăn để bao gồm tất cả. Nhưng ngay cả với vụ tai nạn máy bay trực thăng, vẫn không có kết luận nào về việc ai đó bị giết, bởi v́ mọi người sống sót sau các vụ tai nạn máy bay trực thăng.

Nhưng Tướng Singlaub, tôi muốn quay trở lại điểm này về việc có bao nhiêu người miền Nam trong Contingency 35 và có bao nhiêu trong Contingency 34, để hồ sơ sẽ chính xác như hai loại. Bạn có thể cho tôi một con số trên sân bóng như có bao nhiêu trong Contingency 35 không?

Đại tướng Singlaub. Tôi không thể cho bạn một con số chính xác. tôi có thể nói rằng

 Chủ tịch Spectre. Vài trăm?

 Đại tướng Singlaub. Không; nó nhiều hơn con số 300 - xấp xỉ 300 mà chúng ta đă có trong Op 35 trong nhiều năm. Đó là một chương tŕnh liên tục mở rộng. Như tôi đă chỉ ra trước đó, về mặt dân tộc, những người này là người Việt Nam và sau đó là một loạt các bộ lạc người Thượng cũng như người Campuchia. Họ đă được xử lư trong các căn cứ khác nhau 

 Chủ tịch Spectre. Chà, có vài trăm. 

 Đại tướng Singlaub. Có vài trăm; Vâng thưa ngài. 

 Chủ tịch Spectre. Và tương phản với Dự pḥng 34, có vài ngàn. 

 Đại tướng Singlaub. Không. Trong số 34, ALPHA, có khoảng 300. 

 Chủ tịch Spectre. Và bạn nghĩ rằng nghĩa vụ của Hoa Kỳ khác nhau đối với người dân trong 34 tương phản với 35? 

Đại tướng Singlaub. Vâng tôi đồng ư. 

 Chủ tịch Spectre. Cũng ổn. Chiếm lấy Đơn vị 35, bạn nghĩ rằng chúng tôi - chính phủ Hoa Kỳ đă không thực hiện trách nhiệm của ḿnh đối với những cá nhân đó? 

Đại tướng Singlaub. Chà, cho đến khi vụ án này xảy ra, tôi nghĩ rằng chúng tôi đă làm rất tốt trong việc chăm sóc các thành viên trong nhóm từ các hoạt động xuyên biên giới này trong Chiến dịch 35.

 

 Chủ tịch Spectre. Giám đốc Deutch đă được trích dẫn khi nói, Tạp chí Time, ngày 24 tháng 6 năm 1996: "Tuần trước, Giám đốc CIA John Deutch cuối cùng đă chịu trách nhiệm, nhận ra những tiết lộ có thể gây nguy hiểm cho các hoạt động đang được điều hành ngày hôm nay. CIA nếu Cơ quan có tiếng là không thanh toán hóa đơn của ḿnh, "trích dẫn. "CIA cảm thấy rất sâu sắc rằng họ phải quan tâm đến những người làm việc cho nó, Luật sư chung của CIA Jeffrey Smith nói với Time." 

Đối với tuyên bố được gán cho ông Deutch, bạn có nghĩ, Tướng Singlaub, rằng như một vấn đề thực tế, các điệp viên nước ngoài có thể sẽ ít chấp nhận rủi ro cho CIA nếu những người miền Nam này không được trả tiền? 

SINGLAUB chung. Tôi nghĩ rằng đó là một mối quan tâm hợp lệ, và nếu tôi ở vị trí của ông Deutch, tôi sẽ nhận điều đó - tôi sẽ bày tỏ mối quan tâm đó. 

Chủ tịch Spectre. Tướng Singlaub, bạn có biết trường hợp nào khác mà chính phủ Hoa Kỳ đă hành động đối với những người đàn ông giống như họ đă hành động đối với ông Sơn và các đồng nghiệp của ông trong T́nh huống 35 không? 

Đại tướng Singlaub. Tôi không biết. Tôi không thể - Tôi biết rằng chúng tôi đă tiến hành các hoạt động tương tự ở các khu vực khác và tôi cho rằng có thể có một tiền lệ xấu được thành lập ở đây v́ số người đă tham gia vào các hoạt động t́nh báo của Hàn Quốc, ví dụ, trong Chiến tranh Triều Tiên .29

Chủ tịch Spectre. Bạn có gợi ư rằng có một kẻ lừa đảo tồi tệ bởi v́ chúng tôi đối xử không công bằng với những người như ông Sơn, hoặc bạn cho rằng có một tiền lệ xấu bởi v́ chúng tôi có thể đang trả tiền sẽ tạo tiền lệ cho các khoản thanh toán trong tương lai?

Tổng SlNGLAUB. Đối với các khoản thanh toán trong tương lai, có. Tôi lo ngại rằng có lẽ có hàng trăm người Hàn Quốc sẽ nói rằng họ ở trong hoàn cảnh tương tự. Họ đă được tuyển dụng bởi chính phủ Hàn Quốc, nhưng chúng tôi đă cung cấp một số hỗ trợ trong việc đào tạo các đại lư đó. Trong một số trường hợp, máy bay đă thả chúng, hoặc đưa chúng lên bờ ở Bắc Triều Tiên.

Chủ tịch Spectre. Làm thế nào về tiền lệ bắt những người đàn ông như ông Sơn dưới các hoạt động do người Mỹ kiểm soát và sau khi anh ta bị bắt, không nỗ lực để lấy lại anh ta, và thực hiện một khoản thanh toán tiền tử vong trong 12 tháng và không làm ǵ thêm cho đến phút này, bất chấp tất cả các vụ kiện tụng và du lịch này.

Tổng SlNGLAUB. Tôi phải quay lại điểm mà chúng tôi không biết t́nh h́nh thực tế của ông Sơn lúc đó. Chắc chắn nếu chúng ta biết điều đó, đáng lẽ anh ta phải được đưa vào danh sách, chúng ta nên chiến đấu hết sức để anh ta trở lại. Tại sao anh ta không có trong danh sách, tôi không thể trả lời. Tôi đă không ở đó. 

Chủ tịch Spectre. Vâng, đó chỉ là vào danh sách. Nhưng ông Sơn đă được chính phủ Hoa Kỳ biết đến từ lâu - ông đang gật đầu đồng ư - t́m kiếm sự công nhận, t́m kiếm một sự thừa nhận về sự không công bằng, và cũng đang t́m cách thanh toán tiền trong khi anh ta bị giam cầm. Bất kỳ lời biện minh nào cho hành vi đó của chính phủ Hoa Kỳ, theo đánh giá của bạn, Gen-Singalub?

 Tướng SlNGLAUB. Không; Tôi - tôi không thể hợp lư hóa điều đó. 

Chủ tịch Spectre. Được chứ. Tôi được cho biết rằng chúng tôi cũng có với chúng tôi hôm nay Tổng Cố vấn Jeff Smith của CIA và Tổng Cố vấn Mary DeRosa của Bộ Quốc pḥng. Bạn sẽ bước về phía trước trong một hoặc hai phút? 

Cảm ơn bạn rất nhiều, Tướng Singlaub; Cảm ơn rât nhiều, 

Ông Sơn; cảm ơn, ông Tourison.

Anh Sơn. Cảm ơn bạn.m ngừng.

Cuối cùng là hai đại diện của Cục T́nh Báo Trung Ương Mỹ lên đối chất với Thượng Viện.

Hai người, một nam, một nữ nhanh chóng công nhận sự thật. Họ yêu cầu chỉ giải quyết sự việc này như một biệt lệ duy nhất và chống lại việc sửa đổi luật lệ chung để việc này có thể trở thành một tiền lệ mà sau này những người cộng tác với chính phủ Hoa Kỳ trong những điệp vụ bí mật phải chịu đau khổ sẽ dựa vào để đ̣i hỏi bồi thường.

Cuộc điều trần chấm dứt vào lúc 12:30 ngày 19 - 06 -1996.

Thượng Nghị Sĩ Arlen Specter và một số Thượng Nghị Sĩ khác trong các Ủy Ban xuống thăm hỏi sức khỏe anh em Biệt Kích.

Các phóng viên truyền h́nh và báo chí vây quanh phỏng vấn số anh em trong đoàn. Anh Tourison cũng bị vây chặt. Tôi tách ra đến đứng nói chuyện với luật sư để chờ mọi người. Luật sư nói với tôi ông rất mừng và vững tin vào thắng lợi .

Ông lịch sự cảm ơn tôi về sự hợp tác chặt chẽ bấy lâu nay và ông cho rằng tôi đă thể hiện được bản lănh tuyệt vời của một Biệt Kích Cảm Tử Việt Nam. Phần tôi cũng bày tỏ:

-” Chính chúng tôi mới là những người phải mang ơn ông và anh Tourison cũng như những người đă ngấm ngầm giúp đỡ mà chúng tôi không biết mặt, biết tên.

Chính luật sư, anh Tourison và những người này đă làm cho công lư tỏa sáng trên đất nước Hoa Kỳ.”

Ngay lúc chúng tôi chào từ biệt luật sư, cựu tướng John K. Singlaugh ra về. Đi ngang qua chỗ chúng tôi đứng ông ta có lời chúc may mắn:

-” Good luck”.

Tôi cũng nhẹ nhàng :

-” Thanks! Good luck to you”

Một người anh em định chạy theo để nói vài câu cho hả giận.

Tôi kéo người đồng đội ḿnh lại:

-“Thôi! Chúng ta là những con người Việt Nam cao thượng, chúng ta đă thắng. Toàn thế giới đă thấy và đă nghe TIẾNG NÓI CÔNG LƯ rồi đó”.

Mười phút sau tôi cùng anh em từ giă luật sư để lên đường trở về Georgia. Luật sư hứa sẽ báo tin ngay khi Thượng Viện biểu quyết xong.

Tôi mỉm cười:

-” Tôi biết chắc, chúng ta đă thắng. Biểu quyết thông qua chỉ c̣n là thủ tục. Dù sao cũng mong rằng khi về tới nhà sẽ nhận được thông tin chính thức từ luật sư.”

 

 

 

Trên đường về băi đậu xe, chia tay với Ngung xong, chúng tôi chụp một số h́nh kỷ niệm tại ṭa nhà Quốc Hội.

Nh́n vẻ mặt hân hoan của đồng đội, ḷng tôi dậy lên một niềm vui khôn tả và tôi cũng biết rằng tại Georgia có rất nhiều người thân yêu của chúng tôi đang chờ đón tin lành. Và tin lành đó lại đến đúng vào ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Ngẩng nh́n trời tôi thấy ḷng ḿnh rạng rỡ. Ánh nắng làm tôi hoa mắt. H́nh ảnh bố mẹ tôi hiển hiện nh́n tôi với ánh mắt từ ái, bao dung... vây quanh song thân của tôi là những người đồng đội đă khuất. Họ cũng mỉm cười nh́n tôi đầy t́nh thương mến...

Những h́nh ảnh đó được bao trùm trong vầng hào quang rực rỡ của năm sắc cầu vồng. Tôi tin rằng những linh hồn đó đă hiển thánh và bao lâu nay vẫn theo phù trợ tôi trên bước đường tranh đấu v́ danh dự quốc gia, dân tộc, v́ một Việt Nam Tự Do - Dân Chủ - Nhân Quyền.

 

 

Cuối cùng, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đă chọn lấy đạo đức và vinh quang cho nước Mỹ bằng cách dũng cảm và trung thực nh́n nhận sự hy sinh cao cả của những người Biệt Kích Cảm Tử Việt Nam cho Tổ Quốc và Lư Tưởng Tự Do...

Bước chân vào nhà sau chuyến đi quyết định đă 1:10 ngày 20 - 06 - 1996. Đúng như dự liệu, luật sư đă “fax” tới báo tin toàn thể Thượng Viện đă thông qua Tu Chính Án công nhận danh dự và trả lại quyền lợi cho lực lượng Biệt Kích Việt Nam.

Quyết định này được tính vào ngân sách quốc pḥng tài khóa 1997. Thượng Viện c̣n lên tiếng là việc này cần phải thực hiện sớm và được coi như một hành động chuộc lỗi.

 

Việc bỏ phiếu công nhận Biệt Kích Cảm Tử Việt Nam của Thượng Viện Hoa Kỳ là một hành động chính thức đầu tiên nh́n nhận sự hiện diện của đội quân này.Chiến thắng vẻ vang này chính là một cột mốc của lịch sử đă chứng minh ḷng dũng cảm, chí hy sinh và sự kiên cường của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa trong cuộc chiến Diệt Cộng tại Việt Nam đồng thời minh định với toàn thể thế giới về sự hiện diện của người Việt Nam tại hải ngoại hoàn toàn không phải v́ lư do kinh tế, không phải v́ tham sinh úy tử, không dám chiến đấu để bảo vệ đất nước mà do chính hành xử sai lầm của người Mỹ trong quá khứ.

Chiến thắng này chắc chắn sẽ triệt tiêu mặc cảm tự ti dân tộc của một số người vong bản bấy lâu nay chối bỏ cội nguồn, mở lối cho họ trở về với niềm tự hào và kiêu hănh Việt Nam./.

 

 

Kim Âu

Đêm 20 - 6 - 1996

 

 

 

 

 

 

HR 3668 IH

 

104th CONGRESS

 

2d Session

 

H. R. 3668

 

To require the Secretary of Defense to provide back pay to the Vietnamese commandos who were employed by the United States during the Vietnam conflict to conduct covert operations in North Vietnam so as to compensate the commandos for the years in which they were imprisoned and persecuted in Vietnam .

 

IN THE HOUSE OF REPRESENTATIVES

 

June 18, 1996

 

Mr. DORNAN introduced the following bill; which was referred to the Committee on National Security

 

A BILL

 

 

 

 

To require the Secretary of Defense to provide back pay to the Vietnamese commandos who were employed by the United States during the Vietnam conflict to conduct covert operations in North Vietnam so as to compensate the commandos for the years in which they were imprisoned and persecuted in Vietnam .

 

Be it enacted by the Senate and House of Representatives of the United States of America in Congress assembled,

 

SECTION 1. PROVISION OF BACK PAY TO VIETNAMESE COMMANDOS.

 

(a) DEFINITION- In this section, the term ÀVietnamese commando' means a Vietnamese national who was employed by the United States during the Vietnam conflict to conduct covert operations to infiltrate North Vietnam and who was captured and imprisoned by the North Vietnamese during the course of such operations.

 

(b) PAYMENT OF BACK PAY- From funds available to the Secretary of Defense, the Secretary shall pay to each Vietnamese commando living in the United States who submits a timely claim under subsection (c) an amount of back pay equal to the product of the following:

 

(1) $2,000, which corresponds to the annual salary accepted by Vietnamese commandos during the Vietnam conflict; and

 

(2) The number of years in which the Vietnamese commando was imprisoned by the North Vietnamese and the number of years after such imprisonment in which the Vietnamese commando was subject to persecution in Vietnam as a result of service as a Vietnamese commando, as determined by the Secretary.

 

(c) SUBMISSION OF CLAIMS- To receive back pay under this section, a Vietnamese commando shall submit an application to the Secretary, in such form and containing such information as the Secretary considers appropriate, before the end of the two-year period beginning on the date on which the Vietnamese commando receives notice under subsection (d) of the availability of compensation.

 

(d) NOTIFICATION OF VIETNAMESE COMMANDOS- As soon as possible after the date of the enactment of this Act, the Secretary shall endeavor to notify each Vietnamese commando living in the United States on that date of the availability of back pay under this section. The Secretary shall provide notice to other Vietnamese commandos as soon as possible after they resettle in the United States.

 

(e) EFFECT OF PAYMENT- The payment of back pay to a Vietnamese commando under this section shall be in full satisfaction of any claim of the Vietnamese commando against the United States arising out of the service of the person as a Vietnamese commando. 

 

Expressing the sense of the Congress regarding the heroism, sacrifice, and service of former South Vietnamese commandos in connection with United States armed forces during the Vietnam... (Introduced in House)

 

 

HCON 269 IH

 

105th CONGRESS

 

2d Session

 

H. CON. RES. 269

 

Expressing the sense of the Congress regarding the heroism, sacrifice, and service of former South Vietnamese commandos in connection with United States armed forces during the Vietnam conflict.

 

IN THE HOUSE OF REPRESENTATIVES

 

April 30, 1998

 

Ms. SANCHEZ submitted the following concurrent resolution; which was referred to the Committee on National Security

 

CONCURRENT RESOLUTION

 

Expressing the sense of the Congress regarding the heroism, sacrifice, and service of former South Vietnamese commandos in connection with United States armed forces during the Vietnam conflict.

 

Whereas South Vietnamese commandos were recruited by the United States as part of OPLAN 34A or its predecessor or OPLAN 35 from 1961 to 1970;

 

Whereas the commandos conducted covert operations in North Vietnam during the Vietnam conflict;

 

Whereas many of the commandos were captured and imprisoned by North Vietnamese forces, some for as long as 20 years;

 

Whereas the commandos served and fought proudly during the Vietnam conflict; and

 

Whereas many of the commandos lost their lives serving in operations conducted by the United States during the Vietnam conflict: Now, therefore, be it

 

Resolved by the House of Representatives (the Senate concurring), That the Congress recognizes and honors the former South Vietnamese commandos for their heroism, sacrifice, and service in connection with United States armed forces during the Vietnam conflict.

 

 

 

H.R.3230

 

National Defense Authorization Act for Fiscal Year 1997

 

(Engrossed Amendment as Agreed to by Senate)

 

SEC. 643. PAYMENT TO VIETNAMESE COMMANDOS CAPTURED AND INTERNED BY NORTH VIETNAM.

 

(a) PAYMENT AUTHORIZED-

 

(1) The Secretary of Defense shall make a payment to any person who demonstrates that he or she was captured and incarcerated by the Democratic Republic of Vietnam after having entered into the territory of the Democratic Republic of Vietnam pursuant to operations conducted under OPLAN 34A or its predecessor.

 

(2) No payment may be made under this section to any individual who the Secretary of Defense determines, based on the available evidence, served in the Peoples Army of Vietnam or who provided active assistance to the Government of the Democratic Republic of Vietnam during the period 1958 through 1975.

 

(3) In the case of a decedent who would have been eligible for a payment under this section if the decedent had lived, the payment shall be made to survivors of the decedent in the order in which the survivors are listed, as follows:

 

(A) To the surviving spouse.

 

(B) If there is no surviving spouse, to the surviving children (including natural children and adopted children) of the decedent, in equal shares.

 

(b) AMOUNT PAYABLE- The amount payable to or with respect to a person under this section is $40,000.

 

(c) TIME LIMITATIONS-

 

(1) In order to be eligible for payment under this section, the claimant must file his or her claim with the Secretary of Defense within 18 months of the effective date of the regulations implementing this section.

 

(2) Not later than 18 months after the Secretary receives a claim for payment under this section–

 

(A) the claimant's eligibility for payment of the claim under subsection (a) shall be determined; and

 

(B) if the claimant is determined eligible, the claim shall be paid.

 

(d) DETERMINATION AND PAYMENT OF CLAIMS-

 

(1) SUBMISSION AND DETERMINATION OF CLAIMS- The Secretary of Defense shall establish by regulation procedures whereby individuals may submit claims for payment under this section. Such regulations shall be issued within 6 months of the date of enactment of this Act.

 

(2) PAYMENT OF CLAIMS- The Secretary of Defense, in consultation with the other affected agencies, may establish guidelines for determining what constitutes adequate documentation that an individual was captured and incarcerated by the Democratic Republic of Vietnam after having entered the territory of the Democratic Republic of Vietnam pursuant to operations conducted under OPLAN 34A or its predecessor.

 

(e) AUTHORIZATION OF APPROPRIATIONS- Of the total amount authorized to be appropriated under section 301, $20,000,000 is available for payments under this section. Notwithstanding section 301, that amount is authorized to be appropriated so as to remain available until expended.

 

(f) PAYMENT IN FULL SATISFACTION OF CLAIMS AGAINST THE UNITED STATES- The acceptance of payment by an individual under this section shall be in full satisfaction of all claims by or on behalf of that individual against the United States arising from operations under OPLAN 34A or its predecessor.

 

(g) ATTORNEY FEES- Notwithstanding any contract, the representative of an individual may not receive, for services rendered in connection with the claim of an individual under this section, more than ten percent of a payment made under this section on such claim.

 

(h) NO RIGHT TO JUDICIAL REVIEW- All determinations by the Secretary of Defense pursuant to this section are final and conclusive, notwithstanding any other provision of law. Claimants under this program have no right to judicial review, and such review is specifically precluded.

 

(i) REPORTS-

 

(1) No later than 24 months after the enactment of this Act, the Secretary of Defense shall submit a report to the Congress on the payment of claims pursuant to this section.

 

(2) No later than 42 months after the enactment of this Act, the Secretary of Defense shall submit a final report to the Congress on the payment of claims pursuant to this section.

 

 

  

 

The Honorable Loretta Sanchez (D-CA)

 

May 6, 1998

 

Former South Vietnamese Army Commandos

 

Department of Defense Authorization Bill for FY 1999

 

 

 

 

 

Mr. Chairman, I have an amendment at the desk. At this time I also request that the hand outs be distributed by committee staff. Thank you.

 

Today I am offering an amendment to honor and recognize the former South Vietnamese Army Commandos for their heroism, sacrifice and service in connection with the United States armed forces during the Vietnam War.

 

As most of you know, in the 104th Congress, this committee unanimously voted to honor a 30-year-old commitment to these individuals who worked for the U.S. government during the Vietnam War.

 

On behalf of the 40 Commandos residing in the 46th Congressional District of California, I would like to take this opportunity to thank the members and the staff of this committee for their leadership and commitment in the 104th Congress.

 

For the Freshmen members of the Committee, I would like to take this opportunity to provide you with a brief synopsis.

 

These individuals were trained by the U. S. government to infiltrate and destabilize communist North Vietnam.

 

Many of these Commandos were captured by the Communists and tortured while in prison for 15 to 20 years, and some never made it out.

 

Declassified DoD documents showed that U.S. officials wrote off the Commandos as dead even though they knew from various sources that many were alive in Vietnamese prisons.

 

The documents also show that U.S. officials lied to the soldiers' wives, paid them tiny “Death Gratuities” and washed their hands off the matter.

 

I believe each member was provided with copies of the death gratuities.

 

For example, Mr. Ha Van Son was listed as dead in 1967 although he is very much alive and well and living in Chamblee, Georgia.Because it was a secret covert operation, the U.S. government thought they could easily ignore the commandos and their previous contracts without anyone noticing.

 

The Supplemental Appropriations Bill for FY 1997 (Public Law 105-18) provided $20 million to the Commandos and their survivors, an average grant of $2,000 a year for every year they were in prison, up to $40,000.

 

Last year, I held a press conference with 40 commandos from my district.

 

One individual shared with me his story of how he parachuted into enemy territory, was captured, convicted of treason, beaten, thrown into solitary confinement for 11 months, then moved among hard - labor camps for the next seven years.

 

His story is not unlike countless others.

 

Today, however, I am pleased to provide the committee and Chairman Spence with this update. ]

 

To date, the Commando Compensation Board has been established at the Pentagon; 266 claims have been processed; 142 Commandos have been paid.

 

All this was made possible because of the leadership of this Committee.

 

After years of torture by the North Vietnamese, the callousness of being declared dead by the U.S. Government, and years of anguish over not receiving their rightful compensation - these brave men now deserve recognition.

 

For these reasons, I am offering this amendment.

 

While many have perished, over 300 commandos are currently living across the United States.

 

Mr. Hunter, Mr. McKeon, I am pleased to report that 50 of the 68 commandos residing in the State of California have been approved for compensation.

 

Ms. Fowler, Mr. Scarborough: 4 of the 6 commandos residing in Florida will have their checks very soon.

 

Mr. Chambliss: You will be very happy to know that 26 of the 30 commandos residing in Georgia have been approved.

 

Unfortunately, 11 commandos have died since this legislation was signed into law 2 years ago.

 

Today, the members of this Committee have an opportunity to properly honor these brave men.

 

We can't bring those who perished - back, but we can give these individuals the dignity and respect that's been so long overdue.

 

Who supports this amendment?

 

The American Legion supports this amendment.

 

Not only do they support this amendment, but this patriotic, veteran-service organization - passed a resolution in September of 1996, during their 78th National Convention, to honor and support these individuals.

 

Each member should have a copy of the resolution. And I would like to take this opportunity to read a couple of lines.

 

“The American Legion supports legislation to right a wrong and seek fairness in the treatment of these Vietnamese commandos who worked for the CIA and the Defense Department during the Vietnam War.”

  

 

Who else supports this effort?

 

The Air Commando Organization; The Special Forces Organization.

 

Our American veterans who fought side by side with these individuals during the war have come to their defense in letters of support.

 

I would like to share with you what our soldiers have to say about the commandos.

 

This letter comes from a special forces NCO.

 

Dear Sir: I had the opportunity to work with several of these men in which they not only risked their lives, but continually put themselves in harms way. .......

 

There are many other former Special Forces soldiers that would be willing to help those that served with them in Vietnam. We are aware of terrible trials and conditions these men endured for so long and we would like to help....”

 

These are the words of our men who fought alongside with and participated in these dangerous operations.

 

I would also like to take this opportunity to mention that last year, during POW/MIA recognition day, I had the opportunity to meet with several members of my veteran community.

 

I had the opportunity to speak with former POWs and family members whose loved ones were taken as prisoners or declared missing in action. Their stories weighed on my heart and angered my senses.

 

Several of the veterans mentioned their support for the Commandos and urged that the government honor its word.

 

I am pleased that the U.S. Government is finally honoring their contracts for their years of service.

 

I hope my colleagues can join me in recognizing and honoring these individuals for their heroism, sacrifice and service in connection with the United States armed forces during the Vietnam War.

 

I hope you will join me in supporting this amendment.

 

Thank you.

 

 

 

Note: This admendment is passed on May 21,1998

 

Recognizing and honoring former South Vietnamese commandos for their heroism, sacrifice, and service during the Vietnam conflict. (Introduced in House)

 

 

 

HRES 316 IH

 

105th CONGRESS

 

1st Session

 

H. RES. 316

 

 

 

 

 

Recognizing and honoring former South Vietnamese commandos for their heroism, sacrifice, and service during the Vietnam conflict.

 

IN THE HOUSE OF REPRESENTATIVES

 

November 8, 1997

 

Ms. SANCHEZ submitted the following resolution; which was referred to the Committee on International Relations

 

RESOLUTION

 

Recognizing and honoring former South Vietnamese commandos for their heroism, sacrifice, and service during the Vietnam conflict.

 

Whereas South Vietnamese commandos were recruited by the United States as part of OPLAN 34A or its predecessor or OPLAN 35 from 1961 to 1970;

 

Whereas these commandos conducted covert operations in North Vietnam during the Vietnam conflict;

 

Whereas many were captured and imprisoned by North Vietnamese forces, some for as long as 20 years;

 

Whereas these commandos served and fought proudly during the Vietnam conflict; and

 

Whereas many of these commandos lost their lives serving in operations conducted by the United States during the Vietnam conflict: Now, therefore, be it

 

Resolved, That the House of Representatives recognizes and honors these former South Vietnamese commandos for their heroism, sacrifice, and service during the Vietnam conflict.

 

 

 

The Honorable Loretta Sanchez (D-CA)

 

May 6, 1998

 

Former South Vietnamese Army Commandos

 

Department of Defense Authorization Bill for FY 1999

 

Mr. Chairman, I have an amendment at the desk. At this time I also request that the hand outs be distributed by committee staff. Thank you.Today I am offering an amendment to honor and recognize the former South Vietnamese Army Commandos for their heroism, sacrifice and service in connection with the United States armed forces during the Vietnam War.As most of you know, in the 104th Congress, this committee unanimously voted to honor a 30-year-old commitment to these individuals who worked for the U.S. government during the Vietnam War.On behalf of the 40 Commandos residing in the 46th Congressional District of California, I would like to take this opportunity to thank the members and the staff of this committee for their leadership and commitment in the 104th Congress.For the Freshmen members of the Committee, I would like to take this opportunity to provide you with a brief synopsis.

 

These individuals were trained by the U. S. government to infiltrate and destabilize communist North Vietnam.

 

Many of these Commandos were captured by the Communists and tortured while in prison for 15 to 20 years, and some never made it out.

 

Declassified DoD documents showed that U.S. officials wrote off the Commandos as dead even though they knew from various sources that many were alive in Vietnamese prisons.

 

The documents also show that U.S. officials lied to the soldiers' wives, paid them tiny “Death Gratuities” and washed their hands off the matter.  

 

I believe each member was provided with copies of the death gratuities.

 

For example, Mr. Ha Van Son was listed as dead in 1967 although he is very much alive and well and living in Chamblee, Georgia.

 

Because it was a secret covert operation, the U.S. government thought they could easily ignore the commandos and their previous contracts without anyone noticing.

 

The Supplemental Appropriations Bill for FY 1997 (Public Law 105-18) provided $20 million to the Commandos and their survivors, an average grant of $2,000 a year for every year they were in prison, up to $40,000.

 

Last year, I held a press conference with 40 commandos from my district.

 

One individual shared with me his story of how he parachuted into enemy territory, was captured, convicted of treason, beaten, thrown into solitary confinement for 11 months, then moved among hard - labor camps for the next seven years.

 

His story is not unlike countless others. 

 

 Today, however, I am pleased to provide the committee and Chairman Spence with this update. ]

 

To date, the Commando Compensation Board has been established at the Pentagon; 266 claims have been processed; 142 Commandos have been paid.

 

All this was made possible because of the leadership of this Committee.

 

After years of torture by the North Vietnamese, the callousness of being declared dead by the U.S. Government, and years of anguish over not receiving their rightful compensation - these brave men now deserve recognition.

 

For these reasons, I am offering this amendment.

 

While many have perished, over 300 commandos are currently living across the United States. 

 

Mr. Hunter, Mr. McKeon, I am pleased to report that 50 of the 68 commandos residing in the State of California have been approved for compensation.

 

Ms. Fowler, Mr. Scarborough: 4 of the 6 commandos residing in Florida will have their checks very soon.

 

Mr. Chambliss: You will be very happy to know that 26 of the 30 commandos residing in Georgia have been approved.

 

Unfortunately, 11 commandos have died since this legislation was signed into law 2 years ago.

 

Today, the members of this Committee have an opportunity to properly honor these brave men.

 

We can't bring those who perished - back, but we can give these individuals the dignity and respect that's been so long overdue.

 

Who supports this amendment?

 

The American Legion supports this amendment.

 

Not only do they support this amendment, but this patriotic, veteran-service organization - passed a resolution in September of 1996, during their 78th National Convention, to honor and support these individuals.

 

Each member should have a copy of the resolution. And I would like to take this opportunity to read a couple of lines.

 

“The American Legion supports legislation to right a wrong and seek fairness in the treatment of these Vietnamese commandos who worked for the CIA and the Defense Department during the Vietnam War.” 

 

 

Who else supports this effort?

 

The Air Commando Organization; The Special Forces Organization.

 

Our American veterans who fought side by side with these individuals during the war have come to their defense in letters of support.

 

I would like to share with you what our soldiers have to say about the commandos.

 

This letter comes from a special forces NCO.

 

Dear Sir: I had the opportunity to work with several of these men in which they not only risked their lives, but continually put themselves in harms way. .......

 

There are many other former Special Forces soldiers that would be willing to help those that served with them in Vietnam. We are aware of terrible trials and conditions these men endured for so long and we would like to help....”

 

These are the words of our men who fought alongside with and participated in these dangerous operations.

 

I would also like to take this opportunity to mention that last year, during POW/MIA recognition day, I had the opportunity to meet with several members of my veteran community.

 

I had the opportunity to speak with former POWs and family members whose loved ones were taken as prisoners or declared missing in action. Their stories weighed on my heart and angered my senses.

 

Several of the veterans mentioned their support for the Commandos and urged that the government honor its word.

 

I am pleased that the U.S. Government is finally honoring their contracts for their years of service.

 

I hope my colleagues can join me in recognizing and honoring these individuals for their heroism, sacrifice and service in connection with the United States armed forces during the Vietnam War.

 

I hope you will join me in supporting this amendment.

 

Thank you.

 

Note: This admendment is passed on May 21,1998

 

 

 

National Defense Authorization Act for Fiscal Year 1999 (Reported in House)

 

SEC. 534. APPRECIATION FOR SERVICE DURING WORLD WAR I AND WORLD WAR II BY MEMBERS OF THE NAVY ASSIGNED ON BOARD MERCHANT SHIPS AS THE NAVAL ARMED GUARD SERVICE.

 

(a) FINDINGS- Congress makes the following findings:

 

(1) The Navy established a special force during both World War I and World War II, known as the Naval Armed Guard Service, to protect merchant ships of the United States from enemy attack by stationing members of the Navy and weapons on board those ships.

 

 

(2) Members of the Naval Armed Guard Service served on 6,236 merchant ships during World War II, of which 710 were sunk by enemy action.

 

(3) Over 144,900 members of the Navy served in the Naval Armed Guard Service during World War II as officers, gun crewmen, signalmen, and radiomen, of whom 1,810 were killed in action.

 

(4) The efforts of the members of the Naval Armed Guard Service played a significant role in the safe passage of United States merchant ships to their destinations in the Soviet Union and various locations in western Europe and the Pacific Theater.

 

(5) The efforts of the members of the Navy who served in the Naval Armed Guard Service have been largely overlooked due to the rapid disbanding of the service after World War II and lack of adequate records.

 

(6) Recognition of the service of the naval personnel who served in the Naval Armed Guard Service is highly warranted and long overdue.

 

(b) SENSE OF CONGRESS- Congress expresses its appreciation, and the appreciation of the American people, for the dedicated service performed during World War I and World War II by members of the Navy assigned as gun crews on board merchant ships as part of the Naval Armed Guard Service.

 

SEC. 535. SENSE OF CONGRESS REGARDING THE HEROISM, SACRIFICE, AND SERVICE OF THE MILITARY FORCES OF SOUTH VIETNAM AND OTHER NATIONS IN CONNECTION WITH THE UNITED STATES ARMED FORCES DURING THE VIETNAM CONFLICT.

 

(a) FINDINGS- Congress finds the following:

 

(1) South Vietnam, Australia, South Korea, Thailand, New Zealand, and the Philippines contributed military forces, together with the United States, during military operations conducted in Southeast Asia during the Vietnam conflict.

 

(2) The contributions of the combat forces from these nations continued through long years of armed conflict.

 

(3) As a result, in addition to the United States casualties exceeding 210,000, this willingness to participate in the Vietnam conflict resulted in the death, and wounding of more than 1,000,000 military personnel from South Vietnam and 16,000 from other allied nations.

 

(4) The service of the Vietnamese and other allied nations was repeatedly marked by exceptional heroism and sacrifice, with particularly noteworthy contributions being made by the Vietnamese airborne, commando, infantry and ranger units, the Republic of Korea marines, the Capital and White Horse divisions, the Royal Thai Army Black Panther Division, the Royal Australian Regiment, the New Zealand ÀV' force, and the 1st Philippine Civic Action Group.

 

(b) SENSE OF CONGRESS- Congress recognizes and honors the members and former members of the military forces of South Vietnam, the Republic of Korea, Thailand, Australia, New Zealand, and the Philippines for their heroism, sacrifice and service in connection with United States Armed Forces during the Vietnam conflict.

 

SEC. 536. SENSE OF CONGRESS REGARDING THE HEROISM, SACRIFICE, AND SERVICE OF FORMER SOUTH VIETNAMESE COMMANDOS IN CONNECTION WITH UNITED STATES ARMED FORCES DURING THE VIETNAM CONFLICT.

 

(a) FINDINGS- Congress finds the following:

 

(1) South Vietnamese commandos were recruited by the United States as part of OPLAN 34A or its predecessor or OPLAN 35 from 1961 to 1970.

 

(2) The commandos conducted covert operations in North Vietnam during the Vietnam conflict.

 

(3) Many of the commandos were captured and imprisoned by North Vietnamese forces, some for as long as 20 years.

 

(4) The commandos served and fought proudly during the Vietnam conflict.

 

(5) Many of the commandos lost their lives serving in operations conducted by the United States during the Vietnam conflict.

 

(6) Many of the Vietnamese commandos now reside in the United States.

 

(b) SENSE OF CONGRESS–Congress recognizes and honors the former South Vietnamese commandos for their heroism, sacrifice, and service in connection with United States armed forces during the Vietnam conflict.

 

 

 

 

 

Tin Tức Và Quan Niệm

 

 

 

 

 

Đến ngày 4 năm 2000 Ủy Ban VCCC đă:

 

 

 

Nhận được 1196 hồ sơ

 

Chấp thuận bồi thường cho 353 hồ sơ, và đă từ chối 839 (tổng cộng 1190 hồ sơ).

 

Đă phê chuẩn $14,509,334 về việc bồi thường cho Biệt Kích.

 

Trung b́nh phê chuẩn $40,642 cho mỗi Biệt Kích.

 

 

 

 

 

Tháng 05, năm 2000

 

Kết Quả của Ủy Ban trong tháng 04 năm 2000. Ủy Ban đă quyết định cho hai bộ hồ sơ trong tháng 04 vừa qua. Cả hai hồ sơ này đă được chấp thuận. Thư báo cho kết quả cho từng đương đơn đă được gởi. Thêm chi tiết về thống kê của Ủy Ban VCCC xin bấm vào đây.

 

Tháng Một năm 2000:

 

Kết quả tháng 1 năm 2000: Tháng này, Ủy Ban đă quyết định cho hai hồ sơ. Cả hai hồ sơ đều bị từ chối. Thư tuyên bố kết quả của cuộc xét định đă được gởi cho nguyên đơn. Nếu muốn biết thêm chi tiết về thống kê của Ủy Ban VCCC, ấn vào đây.

 

Kết quả của Ủy Ban trong tháng 12 năm 1999: 10 hồ sơ đă được xét trong tháng này. 5 hồ sơ đă được chấp thuận, và 5 cái bị bác. Thư thông báo kết quả của mỗi hồ sơ đă gởi cho những người đương đơn.

 

Tháng Mười Một 1999

 

Kết quả của Ủy Ban cho Tháng Mười 1999. Tháng vừa qua lại có thêm 5 hồ sơ được đưa ra ủy ban để xét duyệt bồi thường. Trong đó có ba (3) hồ sơ được chấp thuận, và hai (2) hồ sơ bị từ chối. Những thư từ thông báo cho từng cá nhân đă được chuẩn bị gởi. Nếu quí vị muốn biết thêm chi tiết tổng thống kê của VCCC xin ấn vào đây.

 

Tháng Chín năm 1999:

 

Ngày 22 tháng tư năm 1999 vùa qua, 3 ông Quan Ṭa của Ṭa Án Thượng Thẩm đă bác bỏ đơn kiện Bộ Quốc Pḥng và phán lệnh cho ṭa Địa Phận ở Florida phải bác đơn kiện kia và những quyết lệnh của đơn kiện đó. Ông Luật Sư, người mà đứng đơn kiện Bộ Quốc Pḥng, theo luật, có thể khiếu nại quyết định của Ṭa Thượng Thẩm. Ông ta đă nộp đơn khiếu nại vào ngày 04 tháng 06 năm 1999. Đơn xin khiếu nại của Luật Sư đă bị bác vào ngày 02 tháng 07 năm 1999. Nhưng đến ngày 24 tháng 08 năm 1999, Ṭa Thượng Thẩm mới ra lệnh bắt buộc Ṭa Địa Phận phải bác bỏ đơn kiện ấy. Ngày 17 tháng 09 năm 1999 vừa qua, Ṭa của Địa Phận Florida đă bác vụ kiện ấy. Ông Thứ Trưởng Bộ Quốc Pḥng đă ra lệnh trả tiền bắt đầu từ ngày 28 tháng 09 năm 1999.

 

Kết quả cuộc họp của tháng chín năm 1999. Có 4 hồ sơ được đưa lên hội đồng, trong đó có một hồ sơ được chấp thuận bồi thường, và 3 hồ sơ kia bị bác. Các thư tuyên bố về kết quả cho từng cá nhân đă được gởi. Thêm chi tiết về thống kê của VCCC xin ấn vào đây bấm vào đây.

 

Kết quả cuộc họp của Tháng Tám 1999. Tổng kết của cả tháng Bảy và tháng Tám có được 24 hồ sơ được đưa lên hội đồng. Trong đó có sáu (6) hồ sơ được chấp thuận bồi thường, và 18 hồ sơ bị từ chối bồi thường. Các thư tuyên bố về kết quả cho từng cá nhân đă được gởi.

 

Tháng Bảy 1999:

 

Kết quả cuộc kiểm duyệt hồ sơ của Ủy Ban trong tháng 6. Tháng này Ủy Ban đă kiểm duyệt tổng cộng 54 hồ sơ. Trong đó có năm (5) hồ sơ được chấp thuận bồi thường, và 49 hồ sơ bị từ chối. Chi tiêt về toàn bộ thống kê của Ủy Ban VCCC xin.

 

Tin tức Pháp Lư 1999:

 

Chi tiết về bối cảnh vấn đề Pháp lư trong việc bồi thường cho cựu Biệt Kích Việt Nam. Xin Bấm Vào Đây. (Lưu ư: Mục này nguyên văn tiếng Anh)

 

Cũng liên hệ đến vấn đề cập nhật pháp lư trong tháng 5 (ở dưới), Vào ngày mùng 4 tháng 6 năm 1999, vị Luật Sư dẫn đầu cuộc kiện đă nộp đơn xin khiếu nại về quyết định của Tam Dự Thẩm với tất cả các Quan Ṭa tại Ṭa án Sơ Thẩm. Cho đến hôm nay ngày mùng 1 tháng 7,1999 chúng tôi vẫn c̣n đợi sự quyết định của Ṭa Án.

 

 

 

 


 

SERVED IN A NOBLE CAUSE

 

 

 

Vietnamese commandos : hearing before the Select Committee on Intelligence

of the United States Senate, One Hundred Fourth Congress, second session ...

Wednesday, June 19, 1996

 

CLIP RELEASED JULY 21/2015

https://www.youtube.com/watch?list=PLEr4wlBhmZ8qYiZf7TfA6sNE8qjhOHDR6&v=6il0C0UU8Qg

  

 

US SENATE APPROVED VIETNAMESE COMMANDOS COMPENSATION BILL

http://www.c-span.org/video/?73094-1/senate-session&start=15807

BẮT ĐẦU TỪ PHÚT 4:22:12 - 4:52:10  (13.20 - 13.50)

 


Liên lạc trang chủ

E Mail: kimau48@yahoo.com, kimau48@gmail.com

Cell: 404-593-4036

 

Những người lính một thời bị lăng quên: Viết Lại Lịch Sử

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 


 

 

֎ Binh Thư Yếu Lược Trần Quốc Tuấn  ֎ Một Trang Lịch Sử

֎ Vietnamese Commandos' History ֎ Vietnamese Commandos vs US Government ֎ Lost Army Commandos

֎ Bill of Compensation ֎ Never forget ֎ Viết Lại Lịch Sử  Video ֎ Secret Army Secret War Video

֎ Đứng Đầu Ngọn Gió Video ֎ Con Người Bất Khuất Video ֎ Dấu Chân Biệt Kích Video ֎ Kiểm Lại Hồ Sơ Biệt Kích Video

֎ The Secret war against Hanoi Richard H. Shultz Jr.֎ Gulf of Tonkin Incident ֎ Pentagon Bạch Hóa ֎ The heart of a boy

֎ U.S Debt Clock ֎ Wall Street and the Bolshevik Revolution Antony C. Sutton

֎ Wall Street and the Rise of Hitler Antony C. Sutton ֎ None Dare Call It Conspiracy Gary Allen

֎ Chiến Tranh Tiền Tệ (Currency War) ֎ Confessions of an Economic Hit Man John Perkins

֎ The World Order Eustace Mullin ֎ Trăm Việt trên vùng định mệnh ֎ Chính Đề Việt Nam Tùng Phong (dịch)

֎ OSS vào Việt Nam 1945 Dixee R. Bartholomew - Feis ֎ Lyndon Baines Johnson Library Musuem

֎ Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn ֎ Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam B́nh Nguyên Lộc

֎ Nghi Thức Ngoại Giao ֎ Lễ Nghi Quân Cách ֎ Sắc lệnh Cờ Vàng ֎ Quốc Tế Cộng Sản

֎ How Does a Bill Become Law?֎ New World Order ֎ Diplomacy Protocol. PDF

֎ The World Order Eustace Mullin ֎ Why Vietnam? Archimedes L. A. Patti

֎ Vietnam War Document ֎ American Policy in Vietnam

֎ Foreign Relations Vietnam Volum-1 ֎ The Pentagon Papers ֎ Pentagon Papers Archives

֎ Vietnam and Southeast Asia Doc ֎ Vietnam War Bibliogaphy ֎ Công Ước LHQ về Luật Biển

֎ CIA and NGOs ֎ CIA And The Generals ֎ CIA And The House Of Ngo ֎ Global Slavery

֎ Dấu Binh Lửa ֎ Đại Hội Toàn Quân? Phùng Ngọc Sa

֎ Bách Việt  ֎ Lược Sử Thích Ca  ֎ Chủ thuyết Dân Tộc Sinh Tồn

֎ Silenced! The Unsolved Murders of Immigrant Journalists in the USA. Juan Gonzales

֎ Society of Professional Journalists: Code of Ethics download

֎ Douglas Mac Arthur 1962 ֎ Douglas Mac Arthur 1951 ֎ John Hanson, President of the Continental Congress

֎ Phương Pháp Biện Luận ֎ Build your knowledge ֎ Mười điều răn ֎ Ten Commandements

֎ To be good writer ֎ Ca Dao -Tục Ngữ ֎ Chùa Bái Đính ֎ Hán Việt

֎ Top 10 Crime Rates  ֎ Lever Act ֎ Espionage Act 1917 ֎ Indochina War ֎ Postdam ֎ Selective Service Act

֎ War Labor Board ֎ War of Industries ֎ War Production Board ֎ WWII Weapon ֎ Supply Enemy ֎ Wold War II ֎ OSS

֎ Richest of The World ֎ Truman Committee   ֎ World Population ֎ World Debt ֎ US Debt Clock ֎ Foreign Trade

֎ An Sinh Xă Hội - Cách T́m IP Email ֎ Public Holiday ֎ Funny National Days ֎ USA Census

֎ Oil Clock ֎ GlobalResearch ֎ Realworldorder ֎ Thirdworldtraveler ֎ Thrivemovement ֎ Prisonplanet.com ֎ Infowars

֎ Rally protest ֎ Sơ Lược VềThuyền Nhân ֎ The Vietnamese Population in USA

֎ VietUni ֎ Funny National Days  ֎ 1DayNotes 

 

Liên lạc trang chủ

E Mail: kimau48@yahoo.com, kimau48@gmail.com

Cell: 404-593-4036

 

Tặng Kim Âu


Chính khí hạo nhiên! Tổ Quốc t́nh.
Nghĩa trung can đảm, cái thiên thanh.
Văn phong thảo phạt, quần hùng phục.
Sơn đỉnh vân phi, vạn lư tŕnh.


Thảo Đường Cư Sĩ.

 

Your name:


Your email:


Your comments:


 

 

 

 

MINH THỊ

DÂN TỘC VIỆT NAM KHÔNG CẦN THẮP ĐUỐC ĐI T̀M TỰ DO, DÂN CHỦ, NHÂN  QUYỀN Ở WASHINGTON, MOSCOW, PARIS, LONDON, PÉKING, TOKYO. ĐÓ LÀ CON ĐƯỜNG  CỦA BỌN NÔ LỆ VỌNG NGOẠI LÀM NHỤC DÂN TỘC, PHẢN BỘI TỔ QUỐC, ĐĂ ĐƯA ĐẾN KẾT THÚC ĐAU THƯƠNG VÀO NGÀY 30 - 4- 1975 ĐỂ LẠI MỘT XĂ HỘI  THẢM HẠI, ĐÓI NGHÈO, LẠC HẬU Ở VIỆT NAM GẦN NỬA THẾ KỶ NAY. ĐĂ ĐẾN LÚC QUỐC DÂN VIỆT NAM PHẢI DŨNG CẢM, KIÊN QUYẾT ĐỨNG LÊN GIÀNH LẠI QUYỀN QUYẾT ĐỊNH VẬN MẠNG CỦA ĐẤT NƯỚC.  

Email: kimau48@yahoo.com or kimau48@gmail.com. Cell: 404-593-4036. Facebook: Kim Âu

 

֎ Kim Âu ֎ Chính Nghĩa ֎ Chính Nghĩa

֎Tinh Hoa ֎ Bài Của Kim Âu ֎ Constitution

֎ Đại Kỷ Nguyên ֎ Vietnamese Commandos 

֎ Biệt kích trong gịng lịch sử ֎ Chính Nghĩa Media

֎ Lưu Trữ ֎ Làm Sao ֎ T́m IP ֎ Computer

֎ Dictionaries ֎ Tác Giả ֎ Mục Lục ֎ Pháp Lư

֎ Tham Khảo ֎ Thời Thế ֎ Văn  Học

 

    ֎ LƯU TRỮ BÀI  VỞ THEO THÁNG/NĂM

 

֎07/2008 ֎08/2008 ֎09/2008 ֎10/2008

֎11/2008 ֎11/2008 ֎12/2008 ֎01/2009

֎02/2009 ֎03/2009 ֎04/2009 ֎05/2009

֎06/2009 ֎07/2009 ֎08/2009 ֎09/2009

֎10/2009 ֎11/2009 ֎12/2009 ֎01/2010

֎03/2010 ֎04/2010 ֎05/2010 ֎06/2010

֎07/2010 ֎08/2010 ֎09/2010 ֎10/2010

֎11/2010 ֎12/2010 ֎01/2011 ֎02/2011

֎03/2011 ֎04.2011 ֎05.2011 ֎06.2011

֎07/2011 ֎08/2011 ֎09/2011 ֎10/2011

֎11/2011 ֎12/2011 ֎05/2012 ֎06/2012

֎12/2012 ֎01/2013 ֎12/2013 ֎03/2014

֎09.2014 ֎10.2014 ֎12/2014 ֎03/2015

֎02/2015 ֎02/2015 ֎02/2015 ֎02/2016

֎02/2016 ֎03/2016 ֎07/2016 ֎08/2016

֎09/2016 ֎10/2016 ֎11/2016 ֎12/2016

֎01/2017 ֎02/2017 ֎03/2017 ֎04/2017

֎05/2017 ֎06/2017 ֎07/2017 ֎08/2017

֎09/2017 ֎10/2017 ֎11/2017 ֎12/2017

֎01/2018 ֎02/2018 ֎03/2018 ֎04/2018

֎05/2018 ֎06/2018 ֎07/2018 ֎08/2018

֎09/2018 ֎10/2018 ֎11/2018 ֎12/2018

 

  ֎ Nov/2016. Dec/2016. Jan/2017. Feb/2017. 

  ֎ Mar/2017. Apr/2017. May/ 2017. Jun/2017.

  ֎ Jul/2017. Aug/2017. Sep/2017. Oct/2017.

  ֎ Nov/2017. Dec/2017. Jan/2018. Feb/2018

  ֎ Mar/2018. Apr/2018. May/ 2018. Jun/2018.

  ֎ Jul/2018. Aug/2018. Sep/2018. Oct/2018.

  ֎ Nov/2018. Dec/2018.

 

֎ Served  In A Noble Cause

֎ Tṛ Bịp Cứu Trợ TPB: Cám Ơn Anh

֎ Hiến Chương Liên Hiệp Quốc

֎ Văn Kiện Về Quyền Con Người

֎ Liberal World Order

֎ The Heritage Constitution

֎ The Invisible Government Dan Moot

֎ The Invisible Government David Wise

֎ Montreal Protocol Hand Book

֎ Death Of A Generation

֎ Việt Nam Đệ Nhất Cộng Ḥa Toàn Thư

֎ Sự Thật Về Nguyễn Hữu Luyện

֎ Phân Định Chính Tà

֎ Giáo Hội La  Mă:Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác

֎ Secret Army Secret War ֎ CIA Giải mật

֎ Mật Ước Thành Đô: Tṛ Bịa Đặt

֎ Hồ Chí Minh Hay Hồ Quang

֎ Ngô Đ́nh Diệm Và Chính Nghĩa Dân Tộc

֎ Lănh Hải Việt Nam ở Biển Đông

֎ Sự Thật Về Trận Hoàng Sa

֎ Nhật Tiến: Đặc Công Văn Hóa?

֎ Cám Ơn Anh hay Bám Xương Anh

֎ Chống Cải Danh Ngày Quốc Hận

֎ Tṛ Đại Bịp: Cứu  Lụt Miền Trung

֎ 8406= VC+VT

֎ Hài Kịch Nhân Quyền

֎ CĐ Người Việt QG Hoa Kỳ

֎ Tội Ác PG Ấn Quang

֎ Âm mưu của Ấn Quang

֎ Vụ Đài VN Hải Ngoại

֎ Mặt Thật Nguyễn Hữu Lễ

֎ Vấn đề Cựu Tù Cải Tạo

֎ Lịch Sử CTNCT

֎ Về Tác Phẩm Vô Đề

֎ Hồng Y Và Lá Cờ

֎ Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh
֎ Giấc Mơ Lănh Tụ

֎ Biến Động Miền Trung

֎ Con Đường Đạo

֎ Bút Kư Tôi Phải Sống

֎ Dân Chủ Cuội - Nhân Quyền Bịp

֎ Đặc Công Đỏ Việt Thường

֎ Kháng Chiến Phở Ḅ

֎ Băng Đảng Việt Tân

֎ Mặt Trợn Việt Tân

֎ Tù Binh và Ḥa B́nh

֎ Mộng Bá Vương

֎ Phía Nam Hoành Sơn

֎ Nước Mắt Trước Cơn Mưa

֎ 55 Ngày Chế Độ Sài G̣n Sụp Đổ

    ֎ Drug Smuggling in Vietnam War

    ֎ The Fall of South Vietnam

    ֎ Economic assistant to South VN 1954- 1975

    ֎ RAND History of Vietnam War era 

 

Trang ChủKim ÂuBáo ChíDịch ThuậtTự ĐiểnThư QuánLưu TrữESPN3Sport TVMusicLotteryDanceSRSB RadioVideos/TVFOX NewsReutersAP NewsWhite HouseLearning Tác PhẩmLịch SửKim ÂuTinh HoaCongressHouseVấn ĐềNVR RadioĐà LạtDiễn ĐànBBC RadioVOA NewsRFA NewsRFISBSTác  GỉaYouTubeFederal RegisterUS Library

 

 

 

 

 

vCNBCvFoxvFoxAtlvOANvCBSvCNNvVTV

vWhiteHouse vNationalArchives vFedReBank

vFed RegistervCongr RecordvHistoryvCBO

vUS GovvCongRecordvC-SPANvCFRvRedState

vVideosLibraryvNationalPriProjectvVergevFee

vJudicialWatchvFRUSvWorldTribunevSlate

vConspiracyvGloPolicyvEnergyvCDPvArchive

vAkdartvInvestorsvDeepStatevScieceDirect

vRealClearPoliticsvZegnetvLawNewsvNYPost

vSourceIntelvIntelnewsvReutervAPvQZvNewAme

vGloSecvGloIntelvGloResearchvGloPolitics

vNatReviewv Hillv DaillyvStateNationvWND

vInfowar vTownHall vCommieblaster vExaminer

vMediaBFCheckvFactReportvPolitiFact

vMediaCheckvFactvSnopesvMediaMatters

vDiplomatvNews Link vNewsweekvSalon

vOpenSecretvSunlightvPol CritiquevEpochTim

vN.W.OrdervIlluminatti NewsvGlobalElite   

vNewMaxvCNSvDailyStormvF.PolicyvWhale

vObservevAmerican ProgressvFaivCity

vGuardianvPolitical InsidervLawvMediavAbove

vSourWatchvWikileaksvFederalistvRamussen

vOnline BooksvBreibartvInterceiptvPRWatch

vAmFreePressvPoliticovAtlanticvPBSvWSWS

vN PublicRadiovForeignTradevBrookingsvWTimes

vFASvMilleniumvInvestorsvZeroHedge DailySign

vPropublicavInter InvestigatevIntelligent Media  

vRussia NewsvTass DefensevRussia Militaty

vScien&TechvACLUvVeteranvGateway

vOpen CulturevSyndicatevCapitalvCommodity vCreatevResearchvXinHua

vNghiên Cứu QTvN.C.Biển ĐôngvTriết Chính Trị

vT.V.QG1vTV.QGvTV PGvBKVNvTVHoa Sen

vCa DaovHVCông DânvHVNGvDấuHiệuThờiĐại

vBảoTàngLSvNghiênCứuLS vNhân Quyền

vThời ĐạivVăn HiếnvSách HiếmvHợp Lưu  

vSức KhỏevVaticanvCatholicvTS KhoaHọc

vKH.TVvĐại Kỷ NguyênvTinh HoavDanh Ngôn

vViễn ĐôngvNgười ViệtvViệt BáovQuán Văn

vTCCSvViệt ThứcvViệt ListvViệt MỹvXây Dựng

vPhi DũngvHoa Vô ƯuvChúngTavEurasia

vNVSeatlevCaliTodayvNVRvPhê B́nh

vSoHavViệt LuậnvNam ÚcvDĐNgười Dân

vTiền PhongvXă LuậnvVTVvv

vDân TrívTuổi TrẻvExpressvTấm Gương

vLao ĐộngvThanh NiênvTiền PhongvMTG

vS.G.EchovSài G̣nvLuật Khoa 

vĐCSVNvBắc Bộ PhủvNg.TDũngvBa Sàm

vVăn HọcvĐiện ẢnhvVTCvCục Lưu Trữ

vST/HTVvvThống KêvĐiều NgựvVNM