Tạp ghi văn nghệ.

 

Trần Dần, từ những trang nhật kư...

 5, Tháng Mười Một 2007

 

 

 

Nguyễn Mạnh Trinh

 

 

 

 

 

 

Tháng 2 năm 2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh triết vừa công bố “Giải thưởng Nhà nước cho các tác giả có tác phẩm hay, công tŕnh văn học nghệ thuật giá trị cao góp phần xây dựng chủ nghĩa xă hội và bảo vệ tổ quốc”. Danh sách những tác giả được giải là Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt, Hoàng Cầm và hai vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ.

 

Khi biết ḿnh được nhận giải, nhà thơ Lê Đạt và Hoàng Cầm đă tỏ ra hân hoan và sốt sắng bầy tỏ như Lê Đạt đă nói với phóng viên Việt Nam Net rằng một thành viên trong ban chấm giả là Đỗ Chu đă phát biểu là “Có thể cho đây là lời xin lỗi của anh em đối với các anh”... C̣n nhà thơ Hoàng Cầm th́ tỏ ra cảm kích với kết quả của giải thưởng.

 

Có nhiều người đă tỏ ra không thiện cảm với hành động mau mắn ấy. Cái án Nhân Văn Giai Phẩm tới nay vẫn c̣n là một vết thương nhức nhối. Những lời buộc tội ngày nào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm bây giờ vẫn rành rành ra đó, chưa bôi xóa được. Những đầy ải, tru diệt cho cá nhân và gia đ́nh vẫn chưa phai... Giải thưởng cho bốn người trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm th́ có hai người đă ra người thiên cổ là Trần Dần và Phùng Quán. Theo nhà văn Nguyễn trọng Tạo th́ có cả nhà thơ Hữu Loan trong danh sách những người được giải thưởng nhưng giờ chót bị thay thế bởi hai vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lân Thị Mỹ Dạ. Có lẽ, v́ sự can cường bất khuất của nhà thơ tác giả Màu Tím Hoa Sim...

 

T́nh cờ, tôi đọc lại “Trần Dần Ghi 1954-1960”. Một cuốn sách lạ lùng. Từ tên tựa sách đến nội dung chất chứa bên trong. Những trang sách của một người viết cho chính ḿnh ở thể dạng nhật kư nay một cách bất đắc dĩ thành một tác phẩm cho độc giả. Những ḍng chữ của sự thực, một sự thực đen tối không tưởng tượng nổi. Những bi kư ghi chép lại một thời kỳ mà con người đối xử với nhau không giống con người. Có những sự thực, là những sự thực chua chát, khi mà con người bị dồn đẩy vào trong những hoàn cảnh bất đắc dĩ, và trang nhiều trường hợp phải nghĩ đến ḿnh mà quên đi những t́nh nghĩa, làm những điều mà kẻ sĩ không thể làm...

 

Trần Dần, một kiện tướng của Nhân văn Diai Phẩm, người đă viết “Dạ Đài”, bản tuyên ngôn của thơ tượng trưng từ những năm 1946 và là nhà văn, nhà thơ có năng lực sáng tạo mănh liệt, cũng là người chịu sự trù dập suốt cả cuộc đời của chế độ độc tài phi nhân “Được cái hoạn nạn” ông đă chua chát tổng kết cuộc đời của ḿnh. Tài ba như thế, tâm huyết như vậy mà vẫn phải chịu hết băo táp này qua phong ba nọ ḍng dă mấy chục năm cho đến lúc xuôi tay nhắm mắt. Đọc xong những trang sách cuối, bần thần một lúc, tự nhiên tôi thấy một nỗi buồn và mỗi khi nghĩ đến lại chạnh ḷng. Cái cảm xúc ấy kéo dài nhiều ngày trong tôi. Tưởng tượng ra trong một xă hội mà con người phải luôn luôn sống thủ thế với nhau và tuyệt đối không tin tưởng vào một ai ngoài chính ḿnh. Hoàn cảnh ấy đă tạo ra một quán tính chung để tự bảo vệ và sống c̣n. Trong cuộc sống ấy, mọi người tự rào kín ḿnh trong chu vi pḥng thủ, nhiều khi phải ích kỷ nghĩ đến ḿnh trước và làm những công việc mà thật t́nh với thiên lương con người họ không muốn. Đè nén, trù dập, tù tội, bao vây kinh tế, thắt chặt sinh hoạt, cô lập hóa, tạo sự nghi kỵ lẫn nhau,.. bao nhiêu là tội nạn chực chớ những người bị coi là có “vấn đề”. Những người ấy, có thể là những người đi sai đường lối của Đảng, hay không hưởng ứng sự suy tôn lănh tụ hay thừa nhận quyền chuyên chính vô sản. Chuyện chu di tam tộc tưởng là chuyện phong kiến ngày xưa, nhưng những chuyện lư lịch, chuyện liên quan c̣n tàn bạo gấp nhiều lần. Đời sống ấy quá nhiều bi kịch, mà hậu quả dành riêng cho những nhà văn, nhà thơ có chân tài, có tâm huyết lại càng ghê gớm hơn như trường hợp Trần Dần. Lúc c̣n trẻ, tù tội gian nan, sống nghèo khổ không sinh kế, về già th́ bệnh hoạn liệt bại, không có thảm cảnh nào hơn. Đó là một mẫu chân dung nhà văn bị đầy ải và nghiến nát trong guồng máy chính trị toàn trị độc tài...

 

Trần Dần viết: “Thế là tôi mất bảy năm kể từ ngày ḥa b́nh bắt đầu sinh sự cho đến nnagỳ xía án. Bảy năm trong văn học có ư nghĩa ǵ? Một cái chớp mắt. Bảy năm trong đời một con người th́ có ư nghĩa lắm! Chớp mắt măi mà không xong..” Ngày 7 tháng 7 năm 1958 là ngày ông bị án treo bút hai năm. Thế mà không ngờ cái án hai năm ấy kéo dài đến suốt cuộc đời... Bảy năm, tứ 1954 đến nam 1960, từ xă hội đến con người đều có nhiều thay đổi... Cộng sản nắm chính quyền tao nhiều biến động cho đời sống nhân dân. Chủ trương đấu tranh giai cấp. Trí phú địa hào, đào tận gốc bốc tận rễ. Cải cách ruộng đất, đấu tố, sửa sai, bao nhiêu oan khuất, bao nhiêu máu xương, nước mắt.

 

Thế mà, nhà thơ Trần Dần lại viết phê b́nh phê phán lănh tụ văn nghệ Tố Hữu, là đảng viên mà lập gia đ́nh với người thuộc thành phần gia đ́nh liên quan có thân nhân di cư vào Nam bất chấp sự ngăn cấm của Đảng và về chủ trương văn nghệ th́ đ̣i quyền tự do sáng tác cho văn nghệ sĩ không thừa nhận chế độ chính ủy trong văn học. Thành ra, ông là người đứng đầu sóng ngọn gió, hứng chịu biết bao nhiêu đ̣n thù của chế độ. Bị phê phán bởi cả Hội Nhà Văn điều động, bị đấu tố bởi cả một tập đoàn cầm bút đang lăm le lấy điểm với chế độ. Trần Dần chịu những áp lực đè nặng lên đời sống ḿnh và gia đ́nh ḿnh.

 

Bảy năm ấy, với những trang nhật kư ghi chép lại, đă thành một cuốn sách mà để cho những lớp người của thế hệ sau hiểu được những tang thương dâu biển của một thế thời hỗn loạn của lịch sử Việt Nam. Ngôn ngữ là tiếng than ngậm ngùi, là biểu tỏ của tâm sự không biết có ai làm tri kỷ. Những trang sách, không phải chỉ viết về một người mà c̣n cho cả một thế hệ, với một sự thực mấp mé cảnh tượng của cơn hồng thủy.

 

Sự thực ấy, với Trần Dần, không phải được mô tả theo cảm quan của người đứng bên này hay bên kia chiến tuyến. Ở cương vị người quốc gia, những tác giả của Nhân văn Giai Phẩm là những thần tượng văn hóa, là tiếng nói của kẻ sĩ chân thật. C̣n ở phía bên kia, họ là những người phản bội lư tưởng Cộng sản, là kẻ nội thù, là những người phải bị phê phán và tiêu diệt.

 

Ở nhật kư Ghi của Trần Dần, có chân dung của một con người, có buồn vui riêng tư, có buồn bă thất vọng, có chua chát v́ t́nh đời và cũng có những lúc đau xót v́ t́nh người. Đọc những trang sách ghi nhận lại cảm xúc chân thực và rất người ấy, rơ ràng một điều là trong hoàn cảnh ấy, khó ai cưỡng chống lại được một guồng máy tàn bạo lạnh lùng của chế độ Cộng sạn. Trừ khi, như một ư nghĩ của nhà văn Solhzenytsin, sự dối trá bị vạch trần và chế độ bị tan ră v́ chính sự phản tỉnh ấy.

 

Con người, dù là văn nghệ sĩ, không phải là thần thánh siêu việt, nên đôi lúc cũng ích kỷ, cũng tự thủ thân bằng những hành động đôi lúc v́ ḿnh hơn là v́ người. Nhưng, họ vẫn là những người hướng thiện, có những ray rút, những ư muốn đi gần đến điều thiện hơn là điều ác. Nhưng xă hội ấy lại đẩy con người đi gần cái ác hơn mà bỏ xa cái thiện. Không có bản cáo trạng nào hùng hồn hơn những trang sách mô tả đến những nhỏ nhen, những tị hiềm, những vết chàm của chân dung những người một thời vang bóng. Đọc xong, để xót xa, để thương cảm. Và, lại càng thấy hiện trạng của một xă hội bị sa đọa và xuống cấp trầm trọng. Làm sao hơn được, mọi người bị đẩy vào thế nghi ngờ nhau, tị hiềm nhau và như thế mọi đối kháng với chế độ không có cách nào liên kết với nhau được.

 

Lúc tôi c̣n trẻ, đọc “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” của cụ Hoàng Văn Chí, hay đọc những bài thơ Trần Dần, Phùng Quán, tôi đă nghĩ đến những sĩ phu Bắc Hà cang cường, nhưng nay đọc lại nhật kư của Trần Dần, th́ sự ngưỡng mộ ấy không giảm bớt mà c̣n xót xa hơn. Từ sự thực ấy, mới hiểu được nỗi thống khổ của người cầm bút bị treo bút. Lại càng hiểu hơn những gánh nặng đè lên vai người mang cái nghiệp người cầm bút mà đă trở thành nghiệp... chướng. Cái họa văn tự đeo đuổi một đời, như những gông xiềng tuy không hiện hữu nhưng như mơ hồ ràng buộc. Chẳng thà là một cái tội có án để dễ thở hơn là những tội vạ cứ ŕnh đến tạo những bi thảm cho đời.

 

“Trần Dần, ghi 1954-1969”, nhiều khi không chỉ là nhật kư ghi chép lại những sự kiện hàng ngày mà c̣n là những ghi nhận có lúc mơ hồ không rơ ràng mà chỉ có người viết mới hiểu được. Nhưng cũng có những đoạn rất rơ ràng minh bạch, ghi lại những sự kiện, những ư nghĩ bằng những h́nh ảnh, những ngôn từ chuyên chở được tâm cảm. Viết về thơ, với tâm thức của một thi sĩ, và thâm trầm của người hay suy tư triết học, ông đă có những ḍng chữ thật xúc tích và chứa nhiều đam mê. Thí dụ, đoạn viết kể lại hành tŕnh đi vào thi ca của ông. Trước kia, ông viết tuyên ngôn của phái Tượng Trưng:

 

“Trước kia tôi muốn Thơ tôi thế nào?

 

Thời đó tôi muốn một thứ Thơ như một cơn mộng ác, trong đó người ta giận dữ, người ta điên cuồng, người ta lồng lộn, người ta sống hỗn độn, đang Bắc sang đông, vừa ở Bắc lại vừa ở Đông. Người ta có thể bất phương chủ nghĩa, tự thả ḿnh theo quy luật một thứ biện chứng duy tâm, những h́nh ảnh thơ nóng ḅng cháy như lửa, một h́nh ảnh ánh lên nhiều h́nh ảnh, h́nh ảnh nọ chống đối h́nh ảnh kia, lôi kéo nhau trong một điệu nhảy ma quái. Đúng là một cuộc sống chaotique, nhưng một cái chaos có harmonic của nó... Một cái hỗn độn có trật tự riêng của nó. Và cái harmonic, cái thần tiên, cái trật tự đólà tùy theo tiêu chuẩn tôi cho là ư thích của tôi. Mà ư thích của Tôi là theo tiêu chuẩn tối cao! Đó là sơ lược cái mơ ước ngày tôi mười tám, mười chín tuổi.”

 

Lúc ấy là khi ông viết Dạ Đài. Nhưng khi chiến tranh, Trần Dần tham gia bộ đội, ông suy nghĩ về thơ khác hơn. Một phần nào, cuộc sống đă ảnh hưởng ông, nhưng ngược lại ông đă có những đối nghịch sâu sắc với những người lănh đạo văn nghệ của Đảng. Trần Dần là một trong những người sáng lập ra tạp chí Văn nghệ thuở đầu tiên nhưng lối thơ bậc thang của ông lại bị chê bai là lập dị khó hiểu... Cũng như khi soạn tài liệu giảng huấn cho các khóa đào tạo văn công, ông bị chỉ trích là diễn dịch sai chính sách văn nghệ của Đảng. Dù rằng sau đó ông tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và do cái chết của họa sĩ Tô ngọc Vân đă tác động mạnh mẽ để ông hoàn tất tiểu thuyết Người người lớp lớp”, một cuốn tiểu thuyết duy nhất của văn học kháng chiến thời kỳ đó về Điện Biên Phủ... về thơ, ông đă đi gần với chính trị hơn, để viết về thời sự, về cuộc chiến đang diễn ra với tất cả sự khốc liệt của nó:

 

“Vào chiến tranh, tôi muốn Thơ tôi như thế nào?

 

Có những ngày và nhiều ngày, tôi không nghĩ tới nữa. Lại cũng có ngày tôi nghĩ rất nhiều. Có lúc tôi tưởng như nắm chặt chân lư trong tay rồi. Có lúc tôi tưởng như mất cả cuộc đời!!

 

Lúc tôi muốn một thứ Thơ dễ dăi. Lúc một thứ Thơ không có vần. Lúc một thứ Thơ như một hạt ngọc, lúc một thứ Thơ kể chuyện. Lúc một thứ Thơ gồ ghề. Lúc một thứ Thơ hiền lành, có cái khỏe của những bắp thịt hồng... Lúc một thứ Thơ rơ nghĩa. Lúc một thứ Thơ vừa rơ nghĩa vừa mờ 100, 1000 nghĩa khác. Lúc một thứ Thơ theo sát chính trị từng bước một. Lúc một thứ Thơ na ná như của anh lính, nó mát mà lành, nó hiền mà khỏe, nó thực tế... Tôi vẫn hằng nghĩ, đó là chuẩn bị cho một cơn băo sẽ tới. Tôi góp gió cho nên trong chiến tranh tôi mất và tôi được là những cái đó, chưa thành cái ǵ cả. Tôi có thể nói chắc chắn rằng Thơ tôi chưa thành tức là chủ nghĩa chưa đúc, lư tưởng chưa chảy vào tâm máu, chưa hóa thành những tế bào của cuộc đời tôi. Thơ tôi chưa thành tức là con người tôi c̣n đang dang dở, cuộc đời tôi chưa có ra ǵ. Chiến tranh đă dạy cho tôi những điều lụn vụn, những sự thực chi tiết và bộ phận. Chiến tranh chưa tạo cho tôi thành một người có da có thịt. Tôi chưa nh́n thấy sự thực lớn lao nhất của cuộc sống. Cho nên không có lạ ǵ những ngày đầu tiên của Ḥa B́nh, tôi rất buồn cho những năm Chiến tranh của tôi, tôi có những hối hận những tiếc rẻ tiếc đắt, những ư nghĩ bâng quơ và nhạt mồm...”

 

Sau chiến tranh, tác giả rơi vào hụt hẫng. Thơ đang ngơ ngác giữa ngă ba đường. Người ta (chỉ lănh đạo Đảng) muốn một đàng th́ tâm ư ông lại ở một nẻo khác:

 

“...bây giờ tôi muốn một thứ Thơ như thế nào?

 

Những sự suy nghĩ của tôi nó kế tiếp nhau tuy nhiều lúc tưởng rằng nó chống chọi nhau và từ bỏ nhau hẳn. Bây giờ tôi muốn một thứ Thơ như thế nào đó giải quyết được một số những mâu thuẫn giữa tôi và người ta và giữa tôi với tôi. Tôi muốn nhiều nghĩa, mờ ảo mà người ta muốn rơ nghĩa rành mạch. V́ vậy tôi muốn có một thứ Thơ nào đó có một nghĩa rơ ràng kèm theo muôn ngnà nghĩa khác. Tôi muốn (...)không có vần, không có kỷ luật. Người ta thích thơ dễ đọc có vần v́ vậy tôi muốn có một thứ Thơ nào đó rất tự do nhưng rất có nhịp chắc chắn, cái nhịp đó đủ sức mạnh và âm điệu để cho tự nó có thể sinh tồn - chỗ có vần chỗ không có vần. Nó rất nhịp nhàng nhưng đó là một cái nhịp nhàng tạo nên bằng những cái gồ ghề khúc khuỷu, chối tai rức óc. Nhưng mà những cái đó lại nhịp nhàng. Nghĩa là tất cả những cái xốc họp lại thành cái êm. Một cái êm rất xốc...

 

Tôi thích Thơ phải có buồn có tủi, có suy nghĩ, có thấm thía có chua xót, có đau khổ, có máu, có mồ hôi, Thơ đầm nước mắt. Giọt mực là giọt máu, giọt mồ hôi. Accent thơ là những accent éo le, trái ngược, giận dữ, châm chọc, tự hào, hănh diện, hằn học, soi mói...”

 

Viết một tập nhật kư là không ngoài chủ đích ghi nhận lại những cái “được” của tác giả, những hoạn nạn khởi đầu từ chuyện ông không bằng ḷng với chính sách kiểm soát văn nghệ của Đảng, viết bài phê b́nh tập thơ “Việt Bắc” của người làm thơ thuộc loại quan chức lănh đạo Tố Hữu. Thêm vào đó, mối t́nh của ông với bà Bùi Thị Ngọc Khuê bị ngăn trở và phê phán gay gắt. Bà ngọc Khuê xuất thân trong một gia đ́nh Công giáo và cả nhà đă di cư vào Nam năm 1954. Bất chấp sự ngăn cấm và kỷ luật của đơn vị quân đội và đảng bộ địa phương, Trần Dần vẫn không ngại bị gán tội “liên quan” và kết hôn với bà Ngọc Khuê gây nên những cơn băo tố cho suốt cả cuộc đời ḿnh. Biết là sẽ khổ sở, biết là sẽ bị trù dập nhưng với bản tính riêng ông vẫn bất chấp. Trong “Ghi”, Trần Dần than thở:

 

“...Đời một người con gái, một đứa bé và đời tôi người ta quyết định tùy tiện như vậy sao? Vậy có nhân đạo ǵ nữa không? Tư tưởng lập trường ǵ mà đàn áp tâm hồn người ta như vậy?

 

Kính gửi những người phụ trách cuộc sống ở Việt Nam tôi buồn như thế, khổ như thế, người ta hà khắc vô lối với đời tôi, đời người con gái tôi yêu, đời đứa con tôi sắp đẻ như thế...

 

Khi ấy đang có cuộc di cư vào nam và t́nh h́nh c̣n nhiều lộn xộn chưa ổn định nên Đảng chưa ra tay vội mà chờ thời gian sau thuận tiện hơn. Thế mà Trần Dần lại chọc tức bằng một công việc táo bạo là viết bài phê b́nh tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, một người coi như là thi sĩ tiêu biểu cho văn học miền Bắc. Bài phê b́nh rất nặng nề, coi Tố hữu như một nhà thơ giả trá, thi ca không có hồn và toàn là sao chép lượm lặt chứ không có nét to lớn vĩ đại của sáng tạo mà bộ máy tuyên huấn đă xưng tụng. Nhỏ nhen, Tố Hữu ra lệnh bắt giam Trần Dần ở Việt Bắc. Vợ Trần Dần ở Hà nội bơ vơ một minh, bụng mang dạ chửa, không sinh kế. Bạn bè phài thăm hỏi, giúp đỡ, nâng cao tinh thần. Vụ ông bị bát gây ra dư luận ồn ào tại Hà nội và Đảng buộc ḷng phải dẹp yên và sửa sai bằng cách bắt buộc Trần Dần tham gia phong trào cải Cách Ruộng Đất.

 

Năm 1956, nhân cơ hội chính biến ở Liên Xô, Krushchev hạ bệ Stalin và chủ trương xét lại nên một nhóm trí thức ở Hà Nội thực hiện “Giai Phẩm Mùa Xuân” trong đó có bài “Nhất Định Thắng” của Trần Dần. Tạp chí này vừa in xong là bị tịch thu ngay, trần dần bị đấu tố tơi bời, quy tội phản động, mang ra đấu tố công khai trước hội nghị. Trần Dần uất ức dùng lưỡi dao cạo cứa cổ tự sát nhưng không chết. Sau này c̣n vết sẹo to ở cổ.

 

Năm tháng sau, lợi dụng phong trào sửa sai sau cải cách ruộng đất, nhóm trí thức này lại thực hiện “Giai Phẩm mùa thu” và tạp chí Nhân văn. Cụ Phan Khôi viết “Phê B́nh Lănh Đạo Văn Nghệ”, nhà thơ Hoàng Cầm viết “Con Người Trần Dần”. Sau khi bị đàn áp, đến năm 1957, báo Văn phê b́nh Đảng và Trần Dần đăng bài thơ “Hăy Đi Măi” với sự xác quyết sẽ theo đuổi lư tưởng của ḿnh đến cùng. Trần dần bị kỷ luật, treo bút ba năm nhưng thực tế th́ bị ghi tên vào sổ đen đoạn trường và không một chủ nhiệm hay chủ bút nào có gan đăng bài viết của ông nữa. Cuộc đời của ông lúc này bị cô lập, tuyệt đường sinh kế, cả gia đ́nh nheo nhếch sống nghèo đói khổ cực.

 

Ghi lại đời ḿnh trong những trang nhật kư, ông trung thực trong từng ư nghĩ cũng như sự nhận định. Nhiều chi tiết mà tới bây giờ khi đọc tới vẫn làm người đọc rùng ḿnh ghê sợ. Cải cách ruộng đất, vô sản chuyên chính, oan khuất chập chồng, cơ hội cho những kẻ mặt người dạ thú cầm quyền sinh sát. Những chuyện xảy ra, vừa bi vừa hài, tưởng là chuyện dỡn mà là sự thực. Con người đối xử với nhau tàn bạo, phản trắc, v́ quyền lợi mà đôi khi giết nhau một cách gián tiếp, gán cho nhau những tội lỗi tày trời một cách điêu ngoa. Trần dần ghi chép lại. Không phẩm b́nh nhưng cô đọng và lôi cuốn với sự thuyết phục. Đọc những trang nhật kư, mà ở đó, sự thực được phô bày để rơ nét hơn một thời kỳ vô cùng đen tối của đất nước mà chủ nghĩa Mác Lê-nin đă gây ra.

 

Những trang nhật kư tiếp theo từ năm 1957 là những năm mà Trần dần viết nhiều về những người cầm bút cùng thời kỳ với ông. Chân dung con người thực được tỏ lộ, để sự thực làm đau đớn và thất vọng những người đọc thời sau. Xă hội ấy, th́ những chuyện như thế là chuyện dĩ nhiên phải có. Họ phải tự tạo ra áo giáp trong cuộc sống để thủ thế và nhiều khi có những lời nói, những việc làm trái với lương tâm ngược lại điều mong muốn.

 

Trần Dần viết về Lê Đạt, người mà về sau này đă nhận giải một cách thật là “khôn ngoan” và “hồ hởi”:

 

“...Viện Văn Học Gorki chả lấy 8 người đi học. Gạn măi, ta mới chấm được 5! Ông Lê Đạt đâu tuyên bố: xin đi, để tị nạn!

 

Hoàng Cầm cười khỉnh “Ông Lê Đạt mà! Băo chưa lên ông ấy đă trốn biến ngay”.

 

Trần Dần viết về Văn Cao, Hoàng Cầm:

 

“Cuôí cùng Vcao (Văn Cao) bảo thẳng mặt HCầm (Hoàng Cầm) rằng tính mày hay mách lẻo th́ nhớ cho kỹ nội dung cuộc gặp hôm nay đấy, có mách th́ mách cho đầy đủ!

 

Cuộc hội đàm bẩn thỉu ấy xong rồi, không biết Vcao có về báo cáo lănh đạo hay không? Nhưng HCầm th́ có: Anh ta gặp ngay NĐThi (Nguyễn Đ́nh Thi) báo cáo ra sao không rơ, nhưng cũng có thể đoán là anh ta chắc không báo cáo đúng về riêng cái phần của anh ta! Tphác (Tử Phác) kết luận “cả hai thằng đều như hai con đĩ rạc đĩ rày cả. Bẩn hết chỗ nói!!”

 

Và đoạn khác: “Tphác nói” rất lạ, là nó cứ nói ḿnh, rất cynique rằng, nó xưa nay vẫn là người tiến bộ, theo Đảng! Kỳ thế cơ chứ, bao nhiêu lần pum, ăn uống, nó nói những ǵ, bây giờ nó làm như không có cả! mà nó lại rất thành thực cơ chứ, Vcao quên thực hay sao! Đặng Đ́nh Hưng bĩu môi ś một cái. “Quên. Nó thiếu probité... th́ có”.

 

Đang lúc kiểm thảo ở cơ quan th́ tiên chỉ đi pum. Tất nhiên là lănh đạo phải biết! Một tối anh ṃ đến Tố Hữu. Tố Hữu hỏi:

 

- Có c̣n chống đối không?

- Thôi rồi. Văn Cao nói.

- Nhưng pum th́ vẫn c̣n chứ? Tố Hữu hỏi độp một cái, khác ǵ cái tát.

 

Văn Cao choáng người, thú nhận vẻ xuê xoa:

 

- Có một lần.. H́!

- Đă mắc chưa?

- Chưa!! H́.. Buồn quá th́ lại đi.. H́!! Chứ chưa mắc.. H́..

 

Văn Cao về, kể lại chuyện ấy, có vẻ khoe cái sự thân mật của ḿnh với Đảng đến được cái độ ấy!!”

 

Trong Ghi rất nhiều những đoạn ghi lại những câu chuyện của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng. Những Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Lê Đạt, Phùng Quán, Phùng Cung, Nguyễn Sáng, Sỹ Ngọc, Quang Dũng, Trần Lê Văn, Đặng Đ́nh Hưng, Tử Phác, Hoàng Cầm.. Những người thưc, chuyện thực, Và ở trên tất cả là một không khí chung của một xă hội mà mọi người không ai tin tưởng vào ai được, luôn luôn dè chừng, canh chừng nhau, thủ thế nhau, báo cáo lẫn nhau. Ở những khuôn mặt ấy, họ bộc lộ đầy đủ mặt xấu mặt tốt. Đừng ai bắt họ phải tử v́ đạo bởi v́ trong cuộc sống họ phải vật lộn bươn chải để tự sinh tồn nên cá tính của mỗi người hiện ra không che giấu được, những năm 1959, 1960, Trần Dần sống trong hoàn cảnh tận cùng khổ sở một vợ hai con gia đ́nh nghèo mà đơn bạc lại không được ở gần để san sóc. Bị cải tạo lao động chân tay ở tập đoàn sản xuất Chí Long ở gần thị xă Đông Triều. Công việc nặng nhọc, không phù hơp với thể chất thư sinh nênn lâm bịnh nặng nhưng vẫn phải gượng làm việc, cố gắng để bày tỏ thiện chí muốn tự ḿnh sửa đổi bằng lao động. Viết văn, làm thơ, lúc này đối với ông sao xa vời quá. Năm 1960 ông bị cải tạo ở khu gang thép Thái Nguyên, bị bệnh nặng nên được trở về Hà Nội. Sau đó, ông sống âm thầm bằng nghề dịch sách, bị cấm viết một cách không chính thức và xóa tên trong những sinh hoạt văn học. Trong “Ghi” có kể lại những ngày tháng đó, phác sơ lược nỗi đau đớn và vẫn là nhửng câu hỏi để tự vấn chính ḿnh. Lao động như thế có giúp ích ǵ cho nhà văn, nhà thơ hay không...

 

Đọc xong cuốn sách lần đầu, tôi bàng hoàng cả người và những lần sau đều như thế. Đời sống ấy, từ những phóng chiếu trung thực, từ tâm tư tác giả, phản ánh một thế thời đen Thẳm. Câu văn, ư chữ, không phải đơn thuần mà như kết tinh bằng máu lệ của một đời người trí thức sống trong một xă hội đầy biến loạn nhiều biến cố. Trần Dần là một người cầm bút bất hạnh, là một nhà thơ luôn gậm nhấm nỗi bất lực của ḿnh với cuộc đời. Cuộc sống d́m ông xuống tận đáy vực sâu, tuổi trẻ hoạn nạn, tuổi già bệnh hoạn liệt bại cho đến khi nhắm mắt ĺa đời.

 

Trần Dần, tuy đời sống đầy tân toan cực nhọc, mà thơ ông vẫn khởi hành, đi măi như những câu thơ:

 

“Tôi vẫn cháy

Ngọn hải đăng con mắt

Ở trong biển sống

Hằng đêm

Tôi vẫn đóng những câu thơ

Như người thợ đóng tàu

Chở khách

Đi về phía trước.

Nơi

Loài người

Đă biết sống chung nhau

Nơi

Tất cả

- chẳng c̣n ai bần tiện

chẳng c̣n lo

cơm áo

nợ nần”

 

Nghĩ về một thi sĩ, nghĩ về một người tuẫn nạn bởi văn chương, tôi bắt chước ông Nguyễn Hữu Đang, khấn vái và cầu chúc:

 

“Anh đi nhé và sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài ở thế giới bên kia!!!

 

 

 

 

 

CHÍNH NGHĨA 

P.O. BOX 81016 CHAMBLEE. GA 30341. Fax: 770-455-1060. Cell : 404 - 593 - 4036. chinhnghia@aol.com.

   

Chính Nghĩa Tự Có Tính Thuyết Phục - Nhân Nghĩa Tự Có Tính Cảm Hoá