CHÍNH NGHĨA

 

   

Chính Nghĩa Tự Có Tính Thuyết Phục - Nhân Nghĩa Tự Có Tính Cảm Hoá

 

Tố Hữu 

VÀ NỀN VĂN HỌC ƯNG KHUYỂN

 

Nguyễn Văn Chưc


 

Cuối cùng, Tố Hữu–tên văn nô khóc Staline :”thuơng cha thuơng mẹ thương chồng, thương con thuơng một thương ông thương muời.”– đă làm một việc có ư nghĩa. Y thú nhận rằng: những bài phóng sự chiến truờng trong cuộc chiến tranh chống Pháp chống Mỹ đều do các nhà văn của đảng nằm nhà phịa ra.          Riêng những bài thơ của y về chiến thắng Điện Biên–đuợc coi là viết taị chiến trường Điện Biên Phủ–cũng là do y nằm nhà phiạ ra.

Chúng ta hăy đọc bài kư của Trần Đăng Khoa tựa đề “Bài Thơ Hoan Hô Chiến Sĩ Điện Biên”trên tờ Văn Nghệ Quân Đội tháng 5/1994, và đuợc in lại trong tuyển tập “Tốạ Hữu, Thơ và Cách Mạng” cuả Hội Nhà Văn Hà Nội. Để có một ư niệm.

 

*

 

Nhóm Trần Đăng Khoa phỏng vấn Tó Hữu về chiến thắng Điện Biên Phủ. Và Tố Hữu đă trả lời rất hồn nhiên.

          “Truyện Điện Biên ấy à? Nói thực là ḿnh không biết nhiều lắm đâu. Cái này các cậu phải đến gặp Hữu Mai, Hồ Phuơng hay Từ Bích Hằng. Các anh ấy đi chiến dịch Điện Biên, các anh ấy biết nhiều truyện đấy...

-Vậy tin toàn thắng đến với anh lúc nào?

          -Lúc ấy khoảng 5 ruỡi hay 6 giờ chiều ngày 7-5. Rừng đă nhá nhem tối mới có điện từ chỗ anh Truờng Chinh xuống. Ḿnh mừng qua.Ô

          Tố Hữu nói nhiều lắm. Y nói : sau khi đuợc Truờng Chinh cho biết tin bộ đội Pháp đầu hàng, y bèn làm bài thơ :”Hoan Hô Chiến Thắng Điện Biên” .Nhưng ṭan phịa. “Đuốc chạy sáng rừng” là phiạ, làm ǵ có đuốc.. “Làng bản đỏ đèn đỏ lửa”, là phiạ., làm ǵ có làng bản đỏ đèn đỏ lửa.. Phiạ hết, phiạ hết. Rồi Tố Hữu kết luận:” Này, xem ra không thể tin cánh văn nghệ đuợc đâu nhỉ. Toàn là phịa. Chỉ có điều ḿnh phiạ như thật, cho nên nguời ta cũng tha cho” (Tố Hữu, Thơ và Cách Mạng, NXB Hội Nhà Văn Hà Nội, 1996, trang 270)

          Hồng Diệu hỏi Tố Hữu:”Thế từ lúc mỏ màn đến khi kết thúc chiến dịch, anh có lên Điện Biên bao giờ không?”

          Tố Hữu trả lời:”Không, nào ḿnh có biết Điện Biên là ǵ đâu [...]Ḿnh hỏi mấy chú đă biết Điện Biên ... Chỉ mang máng thế thôi... Sau này khi viết, ḿnh mới lôi nó ra, cứ nhét bừa vào....”( sđd, trang 271).

          Hồng Diệu ngâm câu thơ “tiếng reo núi vọng sông rền...” của Tố Hữu mô tả hàng hàng lớp lớp dân công thồ đạn thồ gạo về Điện Biên trong đêm tối. Tố Hữu bèn cắt ngang:” Cái đó ḿnh cũng phiạ đấy. Hồi đó đang phải bí mật, có ai dám reo ḥ đâu. Nhưng phải viết thế, phải tạo không khí như thế, mới cóÔ cớ mà hoan hô chứ (sđd, trang 274)

Riêng về bài thơ “Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi”, Tố Hữu nói: “Không có cái ǵ là không thành thơ đưọc. Ḿnh cho cả Nguyễn văn Trỗi hô Hồ chí Minh muôn năm, mà hô những ba lần kia... Phút giây thiêng anh gọi Bác ba lần” (sđd, trang 275).

Ai cũng biết: Nguyễn văn Trỗi đă bị Việt Cộng lừa, ôm bom đi ám sát phái đoàn McNamara. Nó bị bắt duới gầm cầu Công Lư (Saigon), và bị mang ra truớc toà án Mặt Trận Vùng Ba Chiến Thuật. Truớc toà, nó khóc lóc lậy van. Khóc lóc lậy van chán, nó hô Hồ Chí Minh muôn năm. Hô rồi lại khóc, lại van xin... Và khi toà tuyên án tử h́nh, nó khóc lớn tiếng, rồi ngất xỉu. Nguời ta c̣ng tay nó, diù nó ra khỏi pháp đ́nh.

Ngày hôm sau, luật sư vào thăm nó trong tù, khuyên nó nạp đơn xin ân xá cho khỏi chết. Nó lại khóc, lại lậy, lại van xin, thỉnh thoảng lấy tay vắt nuớc mũi quệt xuống gầm bàn. Nó mếu máo:’ Em đă bị chúng nó lưà”.

Tại pháp truờng cát (bùng binh chợ Bến Thành), nó cũng khóc, cũng van xin, cũng mếu máo: ” em đă bị chúng nó lừa”. Chúng nó, đây là Việt Cộng, là đảng CSVN, là bọn chó đẻ Hồ Chí Minh.... Giây phút chót truớc giờ hành quyết, nó mấp máy đôi môi, gọi Quyên ơi, Quyên ơi. Quyên là vợ nó.

Sau khi bị hành quyết, nó đuợc Hồ Chí Minh phong làm đại anh hùng liệt sĩ. Hàng triệu tấm ảnh của nó đuợc phổ biến, trên mỗi tấm ảnh có văn chương và chữ kư của tên giặc già Hồ Chí Minh “V́ tổ quốc, v́ nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đă anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng,. Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi là tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi nguời yêu nước, nhất là cho các cháu thanh niên, học tập”. (Chung Một Bóng Cơ, NXB ChínhTrị Quốc Gia, Hà Nội 1993, trang 940).

Nguyễn văn Trỗi đă trở thành một vị đại anh hùng liệt sĩ của Việt Công. Chính Hồ Chí Minh đă viết ca tụng nó. Toàn bộ nền văn học ưng khuyểnViệt Cộng ca tụng nó. Dưói suối vàng, chắc nó găi gíái chửi “địt mẹ”.

Riêng Tố Hữu đă cho nó hô Hồ Chí Minh muôn năm, mà hô những ba lần kia...” Phút giây thiêng anh gọi Bác ba lần”. Chữ “cho” của Tố Hữu thật là thâm thuư.. Và đáng giá ngàn vàng. Tôi (Nguyễn Văn Chưc) đă gạch đít chữ đó.

 

 

*

 

            Hồi 1965 ở Sàig̣n, tôi có dịp đọc tài liệu và báo chí Việt Cộng. Có truyện “Cánh Tay Nguời Liệt Sĩ” như sau:

“Anh Tư cầm mă tấu đuổi theo địch dọc theo đuờng rầy. Cánh tay trái anh đă bị băn có thương tích, nhưng anh không chịu để cho đồng đội băng bó. Nghiă vụ thiêng liêng đánh Mỹ cứu nuớc mà Bác Hồ hằng nhắc nhở bên tai, không cho phép anh nghĩ đến cánh tay của ḿnh. Anh hăm hở truy kích địch. Cánh tay bỗng trở nên nhức nhối khẩn truơng. Anh Tư bèn kê cánh tay lên thanh sắt đuờng rầy, dùng mă tấu chặt phứt đi. Sau đó anh lại tiếp tục truy lùng địch. Chị du kích xă đă nhặt cánh cánh tay , ôm vào ḷng, rồi đem chôn duới một gốc hồng, để tỏ ḷng biết ơn nguời chiến sĩ.”

          Tôi đọc truyện này cho thằng bạn nghe. Nghe xong, nó phát biểu: ”Viết thế không đúng, du kích của già Hồ anh hùng hơn nhiều. Để tớ viết tiếp” .

Và nó viết:

“Tuy chỉ c̣n một cánh tay mặt, và tuy máu me chảy ra như suối,anh Tư vẫn tiếp tục truy lùng địch, vừa chạy vừa hô Hồ Chí Minh muôn năm. Bỗng nhiên một viên đạn phản động của Mỹ Nguỵ bắn trúng cánh tay phải của anh. Vết thuơng này làm cho anh khổ sở vô cùng. Nhưng nhiệm vụ đánh Mỹ cứu nuớc không cho phép anh do dự. Anh bèn kê cánh tay mặt lên thanh sắt đuờng rầy, dùng mă tấu chặt phứt đi. Sau đó, anh lại tiếp tục truy lùng địch...”

            Tôi hỏi thằng bạn:”Ê mày, thằng du kích chém cánh tay mặt của nó, bằng tay nào? Nó có tất cả mấy tay?”. Thằng bạn trả lời: “Mày ngu như chó, địt mẹ mắt thằng Ḥ chi Minh có Ô bốn đồng tử, th́ du kích của già Hồ có ba bốn cánh tay, có ǵ là lạ.”

           

*

 

Năm 1979, Trung Quốc của Đặng Tiểu B́nh xua quân qua biên giới để dạy cho bọn Lê Duẩn bài học về t́nh hữu nghị môi hở răng lạnh. Nền văn chuơng phiạ hiện thực chủ nghĩa của lũ con cháu Hồ Chí Minh lại một phen trăm hoa đua nở. Mời bạn đọc thuởng thức.

“Súng cối và pháo trên xe tăng địch bắn sối xả vào chốt của Trang. B́nh tĩnh, Trang chờ giặc đến gần 100 mét, 50 mét, rồi 30 mét. Trang nổ súng và thấy rơ xác giặc tung lên cao... Ngă đợt này, bọn địch khác lại tràn lên, dẫm xác đồng bọn... Trang nhắm thẳng đội h́nh giặc, bắn liên tiếp 4 quả đạn B.40 nữa, ( chú thích của tôi: xin đừng nhầm với B.40 Mẹ Paris By Night do Tô Văn Lai và Nguyẽn Ngọc Ngạn chế tạo). Nhưng phiá truớc, địch vẫn tràn lên đông. Phuơng văn Trang bắn liền 4 quả đạn nữa..... Phuơng văn Trang đă bắn 9 quả đạn B.40 trong gần 15 phút, diệt hơn 40 tên địch.” (Quân Đội Nhân Dân, số 9036, ngày 6 tháng 3/1979).

Nhưng Phuơng văn Trang của văn nô Phạm Hồ Thu cũng chưa ghê bằng Tráng A Lùng của văn nô Duy Hoàng. Chúng ta hăy nghe:

“ Suốt từ 4 giờ sáng ngày 17 tháng 2 đến 7 giờ sáng ngày hôm sau, các đợt tiến công liên tục của giặc đều bị bẻ gẫy. Xác địch ngổn ngang duới chân chốt.... Bọn chỉ huy Trung Quốc tức lồng lộn, chùng hô quân bắn cối, đại liên như mưa vào trận điạ, yểm hộ cho quân xông lên ném lựu đạn vào chốt của Lùng. Lựu đạn rơi xuống giao thông hào chưa kịp nổ, anh chộp lấy ném trả về phiá địch, diệt thêm một số tên khác.Suốt hai ngày đêm chiến đấu với 50 quả lựu đạn và đạn cối, Tráng A Lùng, nguời chiến sĩ dân tộc Padi huyện Muờng Khuơng đă tiêu diệt đuợc hơn 150 tên giặc Trung Quốc xâm lược.” (Quân Đội Nhân Dân, số ra ngày 3 tháng 3/1979)

Cũng vẫn chưa ghê bằng lăo anh hùng Giàng A Vền. “Đêm ông Vền cầm kiếm phục ở bờ rào sông Na Hờ, địa phận Hoàng Liên Sơn. Một tên Trung Quốc vuợt sông sang. Hắn mới sờ vào tre rào, ông Vền đă phạt một phát thật mạnh, đầu tên giặc rơi tũm xuống sông . Một tên khác lại bơi sang, sờ vào tre rào, ông Vền lại phạt một phát thật mạnh, đầu tên giặc lại rơi tũm xuống sông. Và cứ như vậy cho đến sáng. Tính ra đêm đó, ông Vền đă chém rơi đầu hơn 70 tên giặc.” (ạQuânĐội Nhân Dân, số ra ngày 3/3/79).

Tỳội nghiệp bộ đội Đặng Tiểu B́nh, phải tiến quân bằng cách bơi qua sông. Phải bơi hàng một, và cứ phải bơi vào đúng chỗ ông Vền đang đợi sẵn, để bị ông Vền chém đầu rơi tũm xuống sông. Rơi tũm tất cả 70 lần..

 

*

 

            Nguời cầm bút duới chế độ CS đáng đuợc gọi là “nhà văn Việt Nam” có thể đếm trên đầu ngón tay. Trong đó, phải kể Nguyễn Minh Châu.

.         Những tác phẩm của ông, như “Nguời Đàn Bà Trên Chuyến Tầu Tốc Hành”, “Mảnh Đất T́nh Yêu” , “Dấu Chân Nguời Lính”,v,v đuợc đánh giá cao là có tŕnh độ và phản ảnh t́nh nguời, không p

          Riêng bài“Hăy Đọc Lời Ai Điếu Cho Một Nền Văn Học Minh Hoạ”của ông đuợc coi như bản cáo trạng lên án toàn bộ nền văn học mệnh danh hiện thực xă hội chủ nghiă. Ông xứng đáng là một nhà văn Việt Nam. Không hèn, không đốn mạt, không vô liêm sỉ làm tên hát rong cho chế độ.. Chẳng những không làm tên hát rong, mà trước khi chết ông c̣n lợi dụng nền “văn chương cởi trói “để riễu cợt. Chúng ta hăy nghe:

          “Anh em ơi, lũ nhà văn chúng ta không khéo trở thành một lũ robinê. Một lũ ṿi nuớc, cái to cái bé cái thông cái tắc, thi nhau chảy, nhưng kỳ thực chỉ là một thứ nuớc. Trong cái sa-tô-đô kia, có cái ǵ th́ ta chảy ra thứ đó” (Văn Nghệ Quân Đội, số 3/1989, trang 112).

          “ Anh em ơi, văn chương ta như đánh thành Quảng Trị. Đoạn một, ta chiếm thành . Đoạn hai, địch chiếm lại. Viết xong đoạn một, ta lờ đoạn hai đi.” (tài liệu đă dẫn, trang 112)

          “Anh em ơi, nền văn học của ta có đủ mọi tính. Tính xă hội, tính nhân loại, tính giai cấp, tính đại đồng, tính vũ trụ, tính lịch sử, tính tranh đấu, tính dân chủ, tính hiện thực, tính khai phóng, tính sáng tạo ,tính vĩ đại, tính anh hùng v.v.... Chỉ thiếu có mỗi một tính: tính biết xấu hổ.”

          Nguyễn Minh Châu chết năm 1989. Một mất mát lớn cho nền văn học Việt Nam. Tôi nói rơ: nền văn học Việt Nam.Tôi không nói: nền văn học Việt Cộng, nền văn học của những tên bồi bút, nền văn học của những Tố Hữu, Xuân Diệu, Nguyễn Đ́nh Thi... và ở một cấp thấp hơn, cuả những Lê Lựu, Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Khải,v, v...

 

*

 

Yurinev , tác giả cuốn sách đuợc dịch sang tiếng Mỹ “Russian Beauty”, có chân trong phái đoàn nhà văn Liên sô sang thăm Mỹ năm 1990. Ông xin những nguời Mỹ đón tiếp ông hăy gọi ông là nhà văn Nga, đừng gọi ông là nhà văn Liên Sô.

Phải chăng, từ ngữ “nhà văn Nga” làm nguời ta liên tuởng đến những hậu duệ của Dostoiewsky, Tolstoi, Putchkin, .Chekov...? Và phải chăng từ ngữ “nhà văn Liên Sô” làm nguời ta nghĩ đến bọn văn nô của đảng và nhà nuớc?

          Việt Cộng cũng có một hội mang tên “Hội Nhà Văn Việt Nam.”

Giữa năm 1992, có vụ Duơng Thu Huơng “Du Ngoạn Sông Đà” do tên tuớng phản gián Duơng Quang Pḥng tung ra. Nguời ta cũng đuợc biết: Hội Nhà Văn VN của Việt Cộng–qua lời phát biểu của Nguyễn Thị Ngọc Tú và Ma Văn Kháng trên đài phát thanh nhà nước–đă mạt sát Dương Thu Huơng là đánh mất nhân phẩm.

Và nguời ta cũng đă có dịp đọc bức thư trả lời của Duơng Thu Huơng gửi “Hội Nhà Văn Việt Nam” ngày 8/8/1992. Chúng ta hăy nghe một đoạn:”: “Cuộc sống tạo nên tâm lư ưng khuyển [...]Tôi thật ái ngại cho nhân cách đa số nhà văn của quư hội.”

 

                   Thu 1993