Trang Chủ . Kim Âu. Lưu Trữ. Báo Chí . BBC . RFI . RFA . Tác Giả . Kỹ thuật . Mục Lục . Quảng Cáo . Groups . Portal . Forum . Tinh Hoa . Da Lat . Thư Quán . Liên lạc

 

Một Trang Lịch Sử (tài liệu US Senate)

 

 

 

 

MINH THỊ

Bài trong trang này nhằm cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu tham khảo, điều nghiên của Người Việt Quốc Gia trong tinh thần "tri kỷ, tri bỉ", " biết ta, biết địch" để nhận rơ những âm mưu, quỷ kế, ngôn từ và hành động của kẻ thù và có phản ứng, đối sách kịp thời. V́ mục đích chiến đấu chống kẻ thù chung là Cộng Sản nên nhận được bài cùng lập trường là chúng tôi tiếp sức phổ biến.

US Senator John McCain , Kim Âu Hà văn Sơn

NT Kiên , UCV Bob Barr, Kim Âu Hà văn Sơn

 

 

 

 

 

Nguyễn Thái Kiên , Kim Âu Hà văn Sơn, Cố vấn an ninh đặc biệt của Reagan-Tỷ phú Ross Perot,Tŕnh A Sám

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Mạnh Trinh

 

Văn Cao, Thơ của những giấc mơ…




Văn Cao mất ngày 10 tháng 7 năm 1995, đến ngày hôm nay là 14 năm.
Với riêng tôi, Văn Cao vừa quen và vừa lạ. Quen, bởi v́ những bản nhạc nghe hàng ngày, những Đàn Chim Việt, những Suối Mơ, những Buồn Tàn Thu, … từ lúc vừa mới lớn ở quê nhà đến cả những lúc sống ở đây. Quen, bởi v́ biết ông là một nghệ sĩ đa tài, nghệ thuật văn, nhạc, họa độc đáo, là một người trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm và bị chế độ đương thời đầy ải trù dập suốt cả cuộc đời mặc dù là tác giả của bản quốc ca “Tiến Quân Ca”. Và, cũng quen là những hành khúc hùng tráng mà tôi đă cùng với bạn bè đồng ngũ hát vang lên trên thao trường , trên binh lửa, những “Không quân Việt Nam “ , những “Chiến sĩ Việt Nam”… của những bài hát mà chúng tôi nghĩ đă nợ từ ḷng ái quốc, từ sự hy sinh của thế hệ cha anh đi trước.
C̣n lạ, bởi v́ trong thế hệ những người sinh ra và lớn lên trong khoảng thập niên 40, 50 và trưởng thành ở miền Nam như chúng tôi, ông vẫn chỉ được biết đến từ một vài chi tiết không đầy đủ và có lẽ chứa khá nhiều chất huyền thoại , không giống với những nhạc sĩ khác như Phạm Duy hoặc Trinh Công Sơn có nhiều nét sống thực gần gũi hơn.
Có một nhà văn bây giờ cũng đă quá cố , nhà văn Xuân Vũ , đă so sánh hai khuôn dáng Văn Cao và Phạm Duy:


“Hai người cùng khởi hành
cùng một đường một lúc
hai người cùng đến đích
nhưng mỗi người một nơi
cách nhau một đường tơ
xa nhau một sợi tóc.”


Tuy tơ tóc cách nhau nhưng là thẳm biệt ngh́n trùng. Văn Cao đă mất, nhưng tác phẩm và tư cách vẫn c̣n sống. Không phải chỉ một ḿnh Xuân Vũ, mà cả Thụy Khuê trong bài viết “Văn Cao- Phạm Duy, trần gian và tiên cảnh” cũng có ư mang hai người , hai phong cách , ra đối chiếu. Nhưng, đó là bài viết lúc mấy năm trước .
C̣n, bây giờ, Phạm Duy đă đổi khác …
Tôi quen thuộc thêm với Văn Cao khi xem cuốn video do Đinh Anh Dũng quay “ Giấc mơ một đời người”. Những h́nh ảnh đă gây thật nhiều ấn tượng. Một ông già tóc bạc trắng, lê cái gậy chậm bước trên ngơ phố Hà Nội, trên ruộng đồng với cái phông của núi rừng ẩn hiện xa xa. Những vỉ tường loang lở, những mái ngói rêu phong, những cầu thang khuất khúc, nơi ấy , người nghệ sĩ già đă sống, đă làm việc, đă chịu đựng những nỗi đau thầm kín của một kẻ sĩ không gặp vận thời. Căn pḥng nghèo nàn, cỗ dương cầm cũ kỹ, những bức tranh treo trên mảnh tường xám xịt , đă hơn một lần là những h́nh ảnh của tạp chí quốc tế National Geographic cho một bài viết về một nghệ sĩ tài hoa Việt Nam cả về hội họa , âm nhạc và thi ca . Những h́nh ảnh ấy , mở ra một cuộc sống, mà nghệ thuật là một cái nghiệp nặng nề đeo đuổi lên không những với một người mà cả một gia đ́nh, một ḍng tộc. Những vết nhăn khắc khổ trên khuôn mặt phong trần, những bước đi chông chênh tựa trên cây gậy , những lời nói tâm sự đằm thắm, tất cả , làm đậm nét thêm chân dung của một người đă sáng tác ra bản quốc ca đă hơn nửa thế kỷ, dù có lúc, chế độ ấy muốn thay thế, mở ra những cuộc thi để t́m kiếm một bản quốc ca khác. Mà lư do, xem ra khá cá nhân v́ một số các quan chính quyền và quan văn nghệ không ưa tác giả !!!
Nguyễn Thụy Kha, một nhà văn khá thân cận với Văn Cao, đă từng chứng kiến cũng như chia sẻ những khốn khó của cuộc đời ông , viết :


“… Ḥa b́nh. Chỉ sau khi ấn hành trường ca “Những người trên cửa biển” một thời kỳ hết sức nghiệt ngă đă ập xuống đầu Văn Cao cũng như một số đồng nghiệp văn nghệ khác. Suốt mấy chục năm, Văn Cao phải lặng lẽ âm thầm sáng tạo trong đớn đau, trong cảnh túng quẫn. Dường như ông không viết bài hát nữa mà chuyển vào những tiểu phẩm nhạc không lời như “Hàng dừa xa”, “Sông tuyến”, “Biển đêm”.ông dằn ḷng viết những câu thơ không in, vẽ minh họa để kiếm chút “tiền c̣m” bởi thúc bách của đời sống thường nhật. Dù được nh́n nhận như là một trong những người làm minh họa và b́a sách sang trọng Văn Cao vẫn gắng bơi qua những nhạc phim và một tổ khúc”Anh bộ đội cụ Hồ” cho dàn nhạc. Nhưng túng quẩn vẫn luôn luôn ŕnh rập trước số phận Văn Cao, luôn đe dọa dập tắt mọi ư nghĩa sáng tạo. Đỉnh điểm của thời kỳ này là “cuộc vận động sáng tác quốc ca mới” nhằm thay thế quốc ca .. cũ. Đă có đến 17 bài nhạc lọt vào ṿng sơ khảo, được ấn hành và được phát thanh liên tục trên làn sóng điện. Nhưng chính khi ấy,năm 1982, sau cơn đau dạ dày hiểm nguy, Văn Cao lại được mời sang Đức (Cộng Ḥa Dân Chủ Đức lúc đó) với tư cách là tác giả bản Quốc ca CS. Cùng trong thời gian đó, ở Đại Hội Nhạc Sĩ Việt Nam lần thứ ba, Văn Cao được trúng trở lại trong Ban Chấp Hành. Tuy nhiên cảnh túng quẩn vẫn triền miên v́ cả hai ông bà đều đă về hưu từ mấy năm trước. Quốc ca CS vẫn được cất lên trong các buổi chào cờ , trong các cuộc đón tiếp quốc tế long trọng , c̣n tác giả của nó th́ vẫn chật vật với đời sống chật vật…”


Khó khăn đời sống bắt đầu từ trường ca “Những người trên cửa biển “ viết về thành phố cảng Hải Pḥng được in trong tập thơ chung của bốn người được nhà xuất bản Văn Nghệ ở Hà Nội phát hành năm 1956: Hoàng Cầm, Văn Cao, Trần Dần , Lê Đạt , mà ngày hôm nay , Thanh Thảo đă cho là một tác phẩm quan trọng của văn học Việt nam sau hơn nửa thế kỷ bị vùi dập, tiêu hủy từ chế độ.
Trong trường ca ấy , có một đoạn thơ được trích đăng trong Nhân Văn Giai Phẩm Mùa Thu tập II tháng 10 năm 1956” Những ngày báo hiệu mùa xuân” có những câu thơ như những lời tố cáo , dơng dạc đầy chất chính luận :

 

“.. Chúng tôi đêm ngày vét nước nối đê
tưới ngọt lại ruộng đồng, dựng lại từng thôn xóm
t́m laị những nụ cười ở môi người sống sót
Lửa đỏ đêm đêm trên băi biển bập bùng
Trong những ngày khó khăn chồng chất.
Kẻ thù của chúng ta xuất hiện
Những con rồng đất khi đỏ khi xanh
Lẩn trong hàng ngũ
Những con bói cá
Đậu trên những chiếc giây buồm
Đang đo mực nước.
Những con bạch tuộc
Bao nhiêu tay chân d́m chết một con người
Đất nước đang lên da lên thịt
Đất nước c̣n đang nhỏ máu ngày ngày
Ta muốn gói cuộc đời gọn gàng như trái vải
Đă thấy loài sâu nằm tṛn trong cuống
Chúng muốn các em nhỏ mới biết đi phải rụng.
Ṃn mỏi dần sức vỡ đất khai hoang
Làm rỗng những con người, lùi dần niềm hy vọng.
Héo dần mầm sáng tạo, mất phẩm giá con người
chúng nó ở bên ta , trong ta lén lút
Đào rỗng từng kho tiền gạo thuốc men
Tôi đă thấy từng mặt từng tên sâu chuỗi
Tôi sẽ vạch từng tên từng mặt
Hăy dừng lại
Những tên muốn ôm cây mùa xuân không cho mọc
Những tên muốn làm cây to che cớm mầm non
Con đường ta đi tự hào lực lượng
Con đường nước nguồn thành sông thành biển
Con đường ta đi tự hào duy nhất
Con đường đi trái đất quanh mặt trời…”


Những câu thơ ấy, có phải xuất phát từ một tâm cảm xúc động trước những biến cố của quê hương? Tâm cảm ấy, bàng bạc trong bài viết “Mấy ư nghĩ về thơ” in trên tạp chí Văn Nghệ một năm sau:
“.. người làm thơ phải đi t́m những tư tưởng cảm xúc và cảm giác trên kia trong thực tế ở những con người đang hàng ngày túi bụi xây dựng. Càng tới gần cái cuộc sống đầy mâu thuẫn đấu tranh là càng như đi gần lại một kho thuốc nổ. Có người dao động và sợ hăi quay lưng lại. Có người vụng về mà làm nổ. Nhưng cũng có người can đảm biết làm nổ để mở đường.
Hôm nay con đường lớn nhất của chúng ta là mở cho tất cả những giấc mơ, những khát vọng tự do phát triển bay đi xe mật về ổ. Mở cho những giấc mơ, những khát vọng tự do phát triển bao nhiêu là tập trung tất cả giấc mơ và khát vọng của con người làm thành mũi nhọn kéo lê đi phía sau cái thực tế chậm chạp..”.
Thuốc nổ đă cháy và bùng lên, nhưng, thay v́ để mở đường cho một vận hội tốt cho đất nước lại là làm nghẽn lối cho nhà thơ. Và, tâm trạng thất bại ấy biểu lộ rơ trong bài thơ “Có lúc “


“Có lúc
một ḿnh một dao giữa rừng đêm không sợ hổ
có lúc
ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt
có lúc
nước mắt không thể chảy ra ngoai được“


Những loài rồng đất đổi thay màu da, những con bói cá ŕnh ṃ, những tay bạch tuộc nhớt nhúa , … dẫy đầy trong chế độ và là những kẻ cầm quyền tự tung tự tác ngự trị trên đầu trên cổ nhân dân. Thi sĩ, vật vă với khốn khó, im ĺm trong nỗi đau, thoi thóp trong suy tưởng. Nhưng , vẫn c̣n hy vọng, vẫn c̣n chút mơ ước, bởi v́ :


“anh có thấy không
chỗ nào cũng có tiếng
chưa nói lên”


Phùng Quán cũng viết về cái tâm trạng năo nề của một người đầy hùng khí mà biến thành một người dửng dưng câm lặng nuốt hết những nhọc nhằn mà không tránh được tiếng rên :


“.. cả tiểu đội tôi chỉ c̣n mắt với răng
như một đồng ca chúng tôi lên cơn sốt rét
lên cơn sốt rét chúa trời cũng phải rên!
Nhưng chúng tôi không rên
Chúng tôi hát
Bao chiến sĩ anh hùng
Có một điều anh không bao giờ ngờ được
Chúng tôi đă cài biên khúc quân hành băo táp của anh
Thành nhạc không lời
Thành một điệu rên..”


Phải rồi, cái dũng khí chiến trường có giúp ǵ trong cuộc sống cơ cực nheo nhóc. Chiến đấu với cái đói, cái thiếu không phải cho riêng ḿnh mà cả một gia đ́nh sao khó nhọc đến thế. Và, để đổi lấy áo cơm , là những nhạc không lời, những tranh vô ngôn, những b́a sách không nói , .. Những chế độ chuyên chính đă có phương cách kiến hiệu nhất để bắt nhân dân tuân phục. Như , ở miền Bắc, những Trần Đức Thảo , Nguyễn Mạnh Tường, .. trí thức sâu sắc, Nguyễn Tuân ngang ngạnh lăng mạn, Quang Dũng hào sảng ngông nghênh,.., phải tối mặt với đời thường và mai một đi những sở đắc của ḿnh mà chế độ cho rắng có ngày sẽ thành động lực để triệt hủy sự thống trị của họ…
Hai mươi năm , Văn Cao không làm thơ. Nhưng, thơ lại là những trang nhật kư, viết trong cuốn sổ tay chi chít chữ, hay những mảnh giấy vun , những bao thuốc bỏ đi. Thơ, là những phân tử máu của cuộc sống. Thơ là cái nh́n, cái nghe, cái thở, cái khóc, để nén vào thẳm sâu, để ghi lại và phác họa lại chính cái h́nh của ḿnh, cái bóng của ḿnh trong một thời đại mà sự nghi kỵ và ŕnh ṃ lẫn nhau trở thành quen thuộc b́nh thường.
Sau khi đổi mới, có sự nới tay “cởi trói”, tập thơ Lá của Văn Cao được xuất bản. Tập thơ mỏng, tŕnh bày sơ sài, in giấy xấu . Tuy vậy , cũng là một vừa ư miễn cưỡng. Nguyễn Trọng Tạo, nhà văn” biên tập” Lá viết :
“… Những bài thơ chi chít trong những cuốn sổ tay nhỏ xíu úa màu thời gian vàng vọt. Những bài thơ viết trên vỏ bao thuốc lá nhặt được trong qúan rượu. Có bài thơ được ghi lại không phải nét chữ của ông mà là chữ của vợ ông, bà sợ ông quên đi mất nên bà bắt ông đọc để bà chép lại. Năm 1987, Nguyễn Thụy Kha đă lần ṃ chép lại những bài thơ trong cặp bản thảo nḥe mờ ấy của ông rồi đưa cho tôi đọc. Giữa quá nhiều bất btrắc của cuộc đời, tiếng thơ Văn Cao chẳng bao giờ đổi giọng. Chữ nghĩa của ông như được viết ra từ ng̣i bút kim cương chứ không phải là bút lông, bút sắt. Và khi tiến hành chọn bản thảo tập thơ Lá , Văn Cao rất vui ḷng ủy thác cho Nguyễn Thụy Kha , Thanh Thảo và tôi tuyển chọn hầu như ông hoàn toàn yên tâm về việc đó. Ông nói:” Ba thằng mày bảo được là được”.
Tập thơ Lá của ông được in ra không đúng như chúng tôi đă chọn dưới sự ủy thác của ông, 5 bài thơ ông tâm đắc bị bỏ ra , và thay vào mấy bài thơ ông in báo thời kháng chiến chín năm. Tuy không được hài ḷng lắm, nhưng ông cũng mỉm cười sau 30 năm trở lại thi đàn. Oâng tiếp tục viết những bài thơ mới . Vẫn là Văn Cao tươi ṛng không tuổi …”
Lá là một tập thơ gồm 28 bài . Trong đó có không gian của Hà Nội , Hải Pḥng , Qui Nhơn,.., có thời gian những ngày rất đặc biệt của đất nước lúc chế độ Cộng sản vừa tiếp thu đến khi dằng dặc cuộc chiến tranh đau xót. Ơû đó, cũng có t́nh yêu, với đất nước ruộng đồng, với phố thị quen thân, có những giấc mơ và có những hiện thực đời thường nhói buốt. Ở đó, âm nhạc và hội họa hội tụ vào, để những nốt nhạc trầm đến mức thành vô thanh, để những nhát cọ mảnh và tinh tế đến thành không dáng. Thơ là kết tinh của những nỗi niềm, là men rượu trắng “cuốc lủi” len sâu vào ḍng má , là những tân toan tủi cực nén sâu vào trong tâm dù vẫn c̣n thoi thóp vài tia hy vọng.
Thơ là “Giấc Mơ”, giấc mơ của những v́ sao tuy lung linh nhưng biệt thẳm hay hiện thực như những mái nhà của cơn ngủ mệt mỏi :


“dưới mái nhà
một người đang ngủ
với giấc mơ của những v́ sao
những v́ sao đang kể truyện
giấc mơ của mái nhà
giấc mơ của một người đang ngủ”


Thơ là Hải Pḥng, của trường ca “Những người trên cửa biẻn”, là nỗi t́nh tự quê hương ḥa với nỗi đau thời thế :


“ .. Tôi hay ngủ trên cầu sương
nửa đêm thức giấc
thấy ḿnh bay cùng tinh tú
ngày đến ḷng tôi xếp cánh
sao chim bay bướm lại bay lên
Tất cả t́nh yêu khát khao hy vọng
Bốc lên trong ḷng
Rơi xuống những giọt nước mắt
Có tuổi thanh niên
Như cây mùa xuân mới mọc
Bị tước dần vỏ non
Mất chim mất bướm mất chân trời.
Ḷng không biết nghĩ điều ǵ
Như con sơn ca bị bẫy.
Thấy mắt lưới nào sáng cũng nháy..”
Thơ là Quy Nhơn, là :
“ Từ trời xanh
rơi
vài giọt Tháp Chàm
quanh Quy Nhơn
tôi như đứa nhỏ yêu huyền thoại..”


Như một bức tranh tĩnh vật, giọt Tháp chàm rơi trên trời xanh, trong cái “tĩnh” của lặng lẽ lại chứa đựng cái “động“ ghê gớm của nội tâm. Và, từ “ giọt “ Tháp Chàm ấy, mở ra biết bao huyền thoại…
Thơ, c̣n là Hà Nội của “Chiếc xe xác qua phường dạ lạc”, của những bức tranh “phố Phái” với những h́nh ảnh và gam màu tượng h́nh bằng ngôn ngữ thi ca. Thơ c̣n là Huế của “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế“. Và thơ , c̣n là Kinh Bắc với lời nhắn


” hỡi người cưỡi ngựa về Kinh Bắc
Tôi gửi thư đưa hộ mẹ già
Cố thét song lời tôi yếu quá
Ngựa đều chân chạy, nhạc càng xa..”


Thơ Văn Cao , là quê hương, là những nốt nhạc và nét vẽ chen nhau để phác họa trung thực và sống động tâm cảm của cả một thời. Trong ánh nến của hoài nhớ, trong rung động của tiềm thức, thơ chắt lọc tháng ngày trong đau đớn nhân sinh để tượng h́nh nỗi khắc khoải của bức tượng phù điêu tạc trong những cơn mê đắm của lăng mạn mơ mộng. Thơ Văn Cao là thơ, là tinh tuyền của nỗi hoang sơ, của Thơ viết hoa , của những ḍng chữ chở chuyên cả một vùng trời biển. Thơ là …
Viết về Văn Cao, muốn đầy đủ phải đầy một tập sách . Nguyên Văn Cao nhạc sĩ, với bao nhiêu bản nhạc, từ quân hành ca đến t́nh ca, từ nhạc quê hương đến tụng ca lịch sử, từ bản quốc ca đến trường ca “Sông Lô“, bao nhiêu đề tài , bấy nhiêu ư tưởng, bấy nhiêu chữ nghĩa… Rồi cuộc đời ông, trải dài theo những tháng năm biến động , từ vai tṛ của một người ám sát hoạt động nội thành, rồi tham gia Nhân văn Giai Phẩm, viết quốc ca, đến những cảnh khốn khó cùng túng trong cái bóp nghẹt từ sinh kế đến tư tưởng của chế độ chuyên chính đương thời.
Những đề tài ấy, quả là mênh mông biết bao. Làm sao chuyên chở cho hết trong một vài bài.
Tôi là một người yêu thơ. Nên trong dịp kỷ niệm ngày mất của ông, 10 tháng 7 năm 1995, viết một đôi ḍng mạo muội về thơ của một người nghệ sĩ lớn, hoàng đế của nhiều vương triều nghệ thuật như thơ -nhạc –họa. Dù tôi lớn lên ở miền Nam, nhưng không v́ thế mà thấy xa lạ với một chân dung của một Văn Cao trong trí tưởng. Cái địa chỉ 108 phố Yết Kiêu có lẽ quen thuộc lắm. Những mái nhà phủ rêu, khuôn cửa sổ nh́n ra một mảnh trời, dốc cầu thang cổ lỗ, bờ tường loang vôi .. tất cả, có lẽ sáng lên trong ánh nắng của miền đất kỷ niệm của một hoàng hôn tưởng nhớ …