TỪ HIỆP ĐỊNH PARIS NĂM 1973,

ĐẾN NGÀY 30 - 4 NĂM 1975.

 

Phùng Ngọc Sa

 

 

Nhân dịp đồng bào Việt Nam hải ngoại ở khắp nơi chuẩn bị lễ Tưởng Niệm Quốc Hận 30-4-06, tức là 31 năm sau ngày Việt Nam Cộng Ḥa bị sụp đổ, chúng tôi xin mạn phép nhắc lại một vài điều nghịch lư ghi trong Hiệp Định Paris năm 1973 liên quan đến biến cố lịch sử nói trên.

Điều 1, chương I của Hiệp Định Paris năm 1973 ghi rơ: Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và sự toàn vẹn lănh thổ Việt Nam như đă thừa nhận trong Hiệp định Genève về Việt Nam năm 1954.

Như vậy, Hiệp định Paris để “chấm dứt chiến tranh và tái lập ḥa b́nh tại Việt Nam” được đặt trên căn bản của Hiệp định Genève năm 1954. Do đó, trước khi t́m hiểu nội dung và kết quả Hiệp định Paris mà dư luận cho biết, chính bản hiệp ước đă dẫn tới sự sụp đổ miền Nam Việt Nam vào ngày 30-4-1975. Kính mời quư độc giả trước hết cùng chúng tôi t́m hiểu bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ như thế nào mà có Hiệp định Genève và sau đó sẽ đề cập đến Hiệp Định Paris.

*- Bối cảnh lịch sử để h́nh thành Hiệp định Genève năm 1954.

Sau thế chiến thứ II, một phần v́ áp lực của Hoa Kỳ, một cường quốc đứng đầu đồng minh trong chiến thắng phe Trục gồm có 3 nước Ư-Đức-Nhật; mặt khác do xu thế thời đại buộc thế lực đế quốc phải lần lược trao trả độc lập cho các quốc gia thuộc trị trong đó có Việt Nam.

Theo chủ trương của Tổng thống Hoa Kỳ Franklin Delano Roosevelt, th́ Đông Dương trong đó có Việt Nam sẽ được quốc tế ủy trị cho đến một thời điểm thuận lợi sẽ được chính thức trao trả độc lập. Tiếc thay, vị kế nhiệm ông Roosevelt (1) là Tổng thống Harry Truman lại nghe theo lời thuyết phục của Thủ tướng Pháp lúc bấy giờ là tướng Charles de Gaulle, nên Tổng thống Truman đă đồng ư cho quân đội Pháp trở lại Đông Dương để tiêu diệt cộng sản bảo vệ thế giới tự do như tướng de Gaulle yêu cầu. Nhưng thực chất là Pháp muốn lợi dụng cơ hội để tái chiếm lại thuộc địaViệt Nam. Cuộc chiến tranh chống xâm lược Pháp v́ thế đă bùng nổ vào ngày 19 tháng 12 năm 1946 dưới sự lănh đạo của Việt Minh (2). Hai bên đánh nhau cho đến đầu năm 1949 khi mà Pháp thấy Hồng Quân Trung Hoa đă thấp thoáng ở cửa ngơ Bắc Kinh th́ họ lo sợ. Và theo ước tính, rồi đây một khi Mao Trạch Đông đă chiếm xong Hoa Lục, rănh tay họ sẽ chuyển qua yểm trợ Việt Minh th́ sự bại trận của Pháp là một điều không thể tránh được. Với tính toán và suy nghĩ đó, Pháp liền vận dụng “lá bài Bảo Đại” bằng cách trao trả độc lập, thống nhất và toàn vẹn lănh thổ cho Việt Nam trong ư đồ dùng người Việt quốc gia đánh nhau với Việt Minh cộng sản. Thế là những ǵ mà trước đây vào năm 1946 Hồ Chí Minh xin không được, đ̣i không xong, giờ đây qua hiệp ước mồng 8 tháng 3 năm 1949 được kư kết giữa Quốc Trưởng Hoàng Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol, nước Pháp lập tức trao hết lại cho người Việt Quốc Gia dưới quyền lănh đạo của cựu Hoàng. Nhưng trên thực tế, gót giày của quân đội viễn chinh Pháp vẫn tự do giày xéo trên toàn lănh thổ đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Trên thực tế, do Pháp không thực ḷng trao trả độc lập cho Việt Nam, v́ thế số đông người Việt quốc gia đă thờ ơ không tích cực tham gia chống cộng nên chiêu bài “chống cộng bảo vệ thế giới tự do” của Pháp đă hoàn toàn thất bại. Trong hoàn cảnh đó th́ Trung Cộng sau khi chiếm Hoa Lục đă trở thành hậu phương lớn cho Việt Minh Cộng sản. Họ không những ồ ạt tiếp tế trang bị và quân dụng chiến tranh, mà c̣n đưa cán bộ tướng lănh qua giúp nên Việt Minh đă đoạt được chiến thắng từ chiến trường này qua chiến trường khác: từ mặt trận Bắc Sơn năm 1950-1951 đến ḤaB́nh-Đông Khê-NaSan năm 1952; từ vùng Trung châu Bắc Việt 1952-1953 và chiến dịch Điện Biên Phủ 1953-1954. Bị thất bại liên tiếp, đặc biệt là sau trận Điện Biên Phủ, Pháp đâm ra hoảng hốt, do đó họ chỉ mong kiếm được giải pháp thuận lợi ḥng cứu đạo quân viễn chinh khỏi tan nát, đồng thời c̣n cố lo vớt vát quyền lợi của Pháp ở Đông Dương; trong t́nh thế khẩn trương này nước Pháp buộc phải kư vào Hiệp định Genève năm 1954.

Với mục đích ích kỷ, Pháp đă hy sinh quyền lợi thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, toa rập với Trung Cộng và với sự đồng ư của Việt Minh Cộng sản chia đôi lănh thỗ Việt Nam, lấy sông Bến Hải tức vĩ tuyến thứ 17 làm ranh ngưng chiến giới tạm. Phía Bắc, Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa và phía Nam thuộc chính quyền Quốc Gia Việt Nam, sau đổi thành Việt Nam Cộng Ḥa.

Theo Hiệp định Genève ấn định th́ hai năm sau, tức vào năm 1956 sẽ có tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Tuy nhiên, chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa và Hoa Kỳ do không kư vào bản hiệp định nên từ chối không thi hành.

* - Hiệp định Paris năm 1973.

Cộng sản Bắc Việt, hay cái gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa viện cớ là miền Nam không chịu thi hành Hiệp định Genève, từ chối không tổ chức tổng tuyển cử như đă quy định trong Hiệp định Genève, hơn nữa do lệnh của quốc tế cộng sản mà Bắc Việt là một tên tay sai, Hà Nội bèn phát động chiến tranh, ào ạt xua quân và đưa chiến cụ xâm nhập miền Nam nói là “để thống nhất đất nước”, thực chất là để bành trướng đế quốc đỏ.

Việc Cộng Sản Bắc Việt đưa quân xâm lược miền Nam trước sau đă nằm trong dự kiến của Thế Siêu Quyền Lực Hoa Kỳ . V́ ông Hồ Chí Minh có tung quân vào Nam, th́ Hoa Kỳ mới có cớ can thiệp nói là để “bảo vệ Việt Nam Cộng Ḥa” nhưng thực ra là nắm cơ hội để triễn khai chiến lược “be bờ”, chận đứng sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản trên thế giới.

Trên đây chỉ là cách nói, trong thực tế những bộ óc siêu đẳng của thế lực tư bản muốn sử dụng chiến trường Đông Dương để tiến hành giai đoạn cuối chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ. Hai giai đoạn đầu của chiến lược tân kỳ đó là “Sử dụng thế lực đồng minh để diệt Phát xít” và “Dùng cộng sản diệt thực dân“ đă kết thúc. Xin nhớ, sau Thế Chiến II, Phát Xít và Thực Dân kẻ trước người sau lần lượt bị thanh toán. Riêng đoạn cuối là “Dùng cộng sản tiêu diệt cộng sản” th́ không ǵ thích hợp hơn là lợi dụng cuộc chiến giữa miền Nam quốc gia và miền Bắc cộng sản tại Việt Nam để xé nát hệ thống cộng sản quốc tế, giựt sập đế quốc đỏ đưa Hoa Kỳ lên vị thế cường quốc “số một”, không có địch thủ. Muốn hoàn thành kế hoạch đó, Thế Siêu Quyền Lực phải triệt tiêu tất cả những ǵ được xem như là chướng ngại vật trên lộ tŕnh của kế hoạch, cụ thể:

- Anh em Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm v́ không chịu sự sắp xếp của Mỹ, không chấp nhận cho Mỹ đổ quân vào miền Nam, nên đă nhận lấy cái chết một cách bi thảm.

- Dập tắt kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” của Tổng thống Nixon khi ông ta chủ trương dù Mỹ rút mà miền Nam vẫn đứng vững, nên mặc dầu được tái đắc cử, ông vẫn phải ôm hận bị đẩy ra khỏi chức vụ tổng thống v́ tội danh có vẻ lăng xẹt, “nghe lén”.

Để hoàn thành chiến lược nói trên, trong chiến tranh, Thế Siêu Quyền Lực Hoa Kỳ đă đưa ra áp dụng nguyên tắc “đánh mà không được thắng”. Cũng v́ nguyên tắc bất biến này mà khi họ đă đưa trên 500,000 quân, (trong thực tế v́ có sự luân phiên nên đă lên tới 1 triệu rưởi) và bị tổn thất:

- Trên 58,000 quân nhân tử thương

- Hơn 200,000 bị thương

- Sử dụng trên 7,850,000 tấn bom đủ loại. Và sau khi đă chi hơn 354 tỉ đô la cho cuộc chiến, Hoa Kỳ mới “xuống nước” chấp nhận kư vào Hiệp định Paris kư ngày 27-1-1973 có hiệu lực vào ngày 28-1-1973.

*- Nội dung và kết quả Hiệp định Paris.

Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh & Tái lập ḥa b́nh tại Việt Nam là một hiệp định quốc tế gồm có các cường quốc hàng đầu như Liên Xô, Trung Cộng, Vương quốc Anh và Cộng Ḥa Pháp bảo đảm, và có cả ông Tổng Thư Kư LHQ là Kurl Vandheim tham dự và cùng kư tên. Hiệp ước gồm 9 Chương và 23 Điều trong đó có nhiều điều khoản đầy nghịch lư.

Chúng tôi xin đưa những cái lợi mà Hoa Kỳ đă đạt được và những cái bất lợi mà Việt Nam Cộng Ḥa phải gánh chịu bởi Hiệp Định đó.

a-) Phía Hoa Kỳ:

Đă nhận lại được tù binh. Đem hết quân về nước. Rút ra khỏi chiến tranh Việt Nam.

Tuy bị mang tiếng xấu là bỏ chạy khỏi Việt Nam một cách vô điều kiện, nhưng kết quả th́ đó lại là một thắng lợi vô cùng lớn lao và ngoài sức tưởng tượng.( Theo b́nh luận của đài BBC và nhận định của viện Nghiên Cứu Chiếạn Lược Quốc Tế Anh quốc, th́ khi bức tường Bá Linh bị sụp, chiến tranh lạnh chấm dứt mới thấy rơ Mỹ đă thắng ).

Với khổ nhục kế “thua bỏ rơi đồng minh Việt Nam” rơ ràng là một chỉ dấu cho Liên Xô (LX) thấy :”kể từ nay Mỹ không dám tham chiến tại hải ngoại”. Với tín hiệu đó làm cho LX thêm hợm ḿnh, coi thường phe đế quốc, tự ḿnh múa gậy vườn hoang, v́ thế bao nhiêu tiền của bóc lột nhân dân LX họ đem đổ vào chiến tranh: - Xâm chiến Afganistan năm 1979, thuê V.C đánh Kampuchia; thuê Cuba đánh Angola; giúp Nicaragua đánh du kích Contras, nhuộm đỏ Mozambiquae, Ethopia, lao đầu vào việc bành trướng đế quốc đỏ mà quên đi là Hoa Kỳ đang âm thầm điều chỉnh lại chiến lược cho phù hợp với t́nh trạng mới. Đến khi Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan tiến hành “chiến tranh các v́ sao” để trắc nghiệm và khảo sát kinh tế của đối phương, th́ lúc đó LX đă hụt hơi. Mặt khác trong nội bộ cộng sản quốc tế lủng củng v́ những lư do sau đây: Mỹ để Trung Cộng cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam ố CSVN nhường cho Liên Xô chiếm hải cảng Cam Ranh, lại trùng hợp lúc mà cơ quan khảo sát năng lượng quốc tế cho biết một khối lượng to lớn dầu lửa và hơi đốt đă t́m thấy tại Biển Đông. Ngoài ra, v́ tranh dành quyền lợi cho nên xảy ra chiến tranh biên giới giữa Việt Nam-Kampuchia, chiến tranh biên giới giữa Việt Nam-Trung Cộng, giữa biên giới Liên Xô-Trung Cộng tại Hắc Long Giang. Tới giai đoạn đó, qua nhiều mặt từ tranh chấp biên giới đến ư thức hệ, cùng việc tranh quyền lănh đạo các đàn em, Liên Xô và Trung Cộng ra mặt chống nhau, c̣n Mỹ lo phát triễn kinh tế, quân sự và kỹ thuật cao để tiến lên vị trí hàng đầu.

b-) Về phía Việt Nam Cộng Ḥa.

Những điều khoản dưới đây đầy nghịch lư, nhưng các bên vẫn nhắm mắt kư, tỉ dụ:

- Điều 5 ố Chương II ấn định việc Rút quân ghi rơ: Trong ṿng 60 ngày kể từ khi hiệp định có hiệu lực, mọi lực lượng nước ngoài ố Hoa Kỳ và đồng minh - phải hoàn toàn rút ra khỏi miền Nam. Riêng 300,000 quân cộng sản Bắc Việt đang có mặt miền Nam th́ tự cho ḿnh là”không phải nước ngoài” nên vẫn trụ lại mà không chịu rút về miền Bắc.

Thử hỏi trong bao năm Hoa Kỳ đă tung biết bao chiến dịch, nào là “lùng diệt” (Seach & Destroy), “Giữ tại chỗ đễ triệt tiêu” (Tight-On) mà giờ đây, một số quân lớn của địch công khai hiện diện, đồng thời Vơ Nguyên Giáp c̣n ngạo mạn nói “ nơi nào là lănh thổ củaViệt Nam th́ quân của y có quyền trú đóng”.Với t́nh trạng nguy hiểm như thế mà không một áp lực nào buộc cộng sản phải rút về bên kia vĩ tuyến. Tất cả thành viên kư trong hiệp ước đều cố t́nh quên là “Vĩ tuyến 17 ấn định bởi hiệp định Genève là lằn phân ranh giới quân sự giữa hai miền Bắc-Nam”. Phải chăng chính quyền miền Nam và Mỹ không biết, hay biết mà chịu lờ để kư Hiệp Định Paris. Điều đáng suy nghĩ là trong bao năm chinh chiến, có biết bao trí thức khoa bảng tướng tá của chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa lại không vận động được để kư với Mỹ một hiệp ước hỗ tương, đề pḥng người bạn đồng minh phủi tay bỏ rơi. Người viết nghĩ là họ biết và có nghĩ đến, nhưng có miệng mà nói không ra lời. Thử xem lại một vài điều trong chương IV th́ rơ: Từ điều 9 đến điều 12 Chương IV nói về: “Thực hiện quyền Tự Quyết của nhân dân miền Nam” và “Hội Đồng Ḥa Giải Ḥa Hợp.”

Sau khi đại diện Việt Nam Cộng Ḥa là Ngoại trưởng Trần Văn Lắm kư xong hiệp ước lúc trở về nước, ông được một kư giả hỏi thẳng: “Có phải là xóa đi làm lại không”? Ông Lắm miễn cưỡng trả lời :”Làm ǵ có, chỉ sắp đặt lại cho hợp t́nh thế”.

ThửƯ đối chiếu với lời phát biểu của Ngoại trưởng Lắm với những tóm lược từ điều 9 đến điều 12, Chương IV ghi rơ: “ 100 ngày sau khi hiệp định có hiệu lực, hai bên miền Nam Việt Nam, tức là Việt Nam Cộng Ḥa và Cộng Ḥa Miền Nam, một công cụ của cộng sản Bắc Việt, mỗi bên cử ra một số đại diện bằng nhau, các đại diện này họp lại Thành Phần Thứ Ba ố Cả ba thành phần là: Việt Nam Cộng Ḥa, Cộng Ḥa Miền Nam và Thành Phần Thư Ba cùng nhau lập ra Hội Đồng Ḥa Giải Ḥa& Hợp Quốc Gia Dân Tộc (HĐHG&HHQGDT); hội đồng làm việc theo nguyên tắc nhất trí, nghĩa là chỉ một trong ba thành phần này không ưng thuận th́ mọi quyết định đều không có giá trị ố Quan trọng nhứt là HĐHG&HH sẽ quyết định tương lại chính trị của miền Nam Việt Nam.

Đọc kỷ điều khoản này th́ đă thấy rơ chế độ chính trị của miền Nam đă không c̣n tồn tại. Ngoài ra, điều 7, Chương II có nhắc đến việc vũ khí đạn dược hai bên miền Nam có thể “một đổi một”, nhưng một khi Hoa Kỳ ngưng viện trợ th́ miền Nam làm ǵ có chuyện thực thi việc “một đổi một”.

Có lẽ trong chiến lược toàn cầu th́ mọi việc đă được Thế Siêu Quyền Lực Hoa Kỳ dự trù tiên liệu, nên miền Nam Việt Nam mới có một vị tướng tổng thống, Tổng Tư Lệnh tối cao đũ quyền lực, ra lệnh rút lui cao nguyên, chặt đôi miền Nam, đẩy Quân đoàn I vào thế cô lập ố Tướng sĩ tại đây dù tinh thần chiến đấu rất cao cũng không thể cưỡng lệnh. Thử nghĩ, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, một quân đội gan dạ kiêu hùng, đă bao phen chiến thắng lẩy lừng mà phải bị bị buộc tháo chạy trong khi chưa đánh một trận nào.

Những sự kiện lịch sử nói trên dù đă 31 năm trôi qua, nhưng vẫn măi hằn trong tâm khảm Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Ḥa mà người viết nghĩ là không thể quên được. Nhắc lại sự kiện tủi nhục ngày 30-4-1975, người viết xin gửi đến quư chiến hữu, độc giả và tất cả đồng hương lời phát biểu của một cựu Đại sứ VNCH khi trả lời một cuộc phỏng vấn, ông nói: “Nh́n lại kinh nghiệm của cuộc chiến tranh Việt Nam. Những ai c̣n tâm tư với đất nước, xin đừng bao giờ giao vận mạng tổ quốc ḿnh vào trong tay ngoại bang. Và, đừng bao giờ nghĩ đến chuyện liên minh bất kỳ với một quốc gia nào mà ḿnh không có được một vai tṛ quyết định.PNS.

(1) Tổng thống Franklin D Roosevelt qua đời vào ngày 12-4-1945.

(2) VM gọi tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh của cụ Hồ Ngọc Lăm mà Hồ Chí Minh nhặp nhằng “cầm nhầm”.