Những nhà tù bí mật của CIA và chính sách tra khảo tù nhân của Hoa Kỳ 

Thứ hai 25, Tháng Chín 2006

 

Nguyễn Anh Tuấn

 

Với một loạt những bài diễn văn hùng hồn liên quan đến đề tài khủng bố cộng với những vận động mạnh mẽ tại Quốc Hội Hoa Kỳ trong thời gian qua, Tổng Thống Bush một lần nữa đă chứng tỏ khả năng của một vị nguyên thủ quốc gia, cho dù đă bị yếu thế và công kích tơi bời, để lèo lái nghị tŕnh tranh luận về những vấn đề trọng đại cho quốc gia theo một chiều hướng thuận lợi theo ư ḿnh. Để tạo thêm sự chú ư của mọi người, ông Bush tuyên bố đă kư lệnh chuyển 14 tù nhân đặc biệt đă bị giam giữ trong thời gian qua tại những nhà tù bí mật của CIA (Cơ quan T́nh Báo Trung Ương) đến nhà tù đặc biệt và nổi tiếng tại Guantanamo Bay, mặc nhiên xác nhận những lời tố cáo và chỉ trích của các hội bảo vệ nhân quyền quốc tế cũng như công luận và các chính phủ trên thế giới trước đây về chính sách dẫn độ đặc biệt của Hoa Kỳ, thường được gọi bằng từ ngữ rendition. Nội dung những lời tố cáo (do một số các cơ quan truyền thông ở Mỹ điều tra và phát giác) cho rằng chính quyền Bush đă không tôn trọng tinh thần của Công ước Geneva liên quan đến việc đối xử tù binh khi t́m cách chuyển giao các tù nhân bị t́nh nghi là khủng bố đến những nhà tù bí mật tại các quốc gia đệ tam để dễ bề tra khảo khi lấy lời khai.

Trong suốt nhiều ngày qua, bộ tham mưu ở Toà Bạch -c đă vạch ra một chiến lược cũng như ước muốn rơ ràng là từ đây cho đến ngày bầu cử vào đầu tháng 11 sắp tới, cử tri Hoa Kỳ bớt chú trọng đến một đề tài thời sự bất lợi liên quan đến một cuộc chiến gian nan đầy tốn kém tại Iraq và càng ngày càng mất dần sự ủng hộ của người dân, để quay sang để ư đến đề tài khác có lợi hơn: đó là chính sách của TT Bush về một cuộc chiến đấu chống lại tinh thần Hồi-giáo cực đoan đă làm mồi khích động cho bọn khủng bố toàn cầu. Ông Bush cũng biết nắm bắt thời cơ, biến một thất bại pháp lư ở Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ để trở thành một cơ hội chính trị nhằm đánh bóng cho thành tích cương quyết chống khủng bố của ḿnh.

Khi chính thức tuyên bố chuyển giao các tù nhân đặc biệt này sang trại giam ở Guantanamo Bay, TT Bush đă thách thức các đại biểu ở Quốc Hội Hoa Kỳ là phải chuẩn thuận cho ngành hành pháp của ông được thêm quyền hạn rộng răi để có thể xét xử các tù nhân thuộc nhóm al-Qaeda, chủ mưu các vụ tấn công khủng bố. Đồng thời, ông cũng được dịp chĩa mũi dùi tấn công sang phe đối lập (đa số thuộc đảng Dân Chủ) bằng cuộc tranh luận về sự khác biệt giữa hai bên trong chính sách và khả năng bảo vệ an ninh quốc gia. Theo lập luận của TT Bush trong cuộc tranh luận này, những ai không đồng ư với kế hoạch và chính sách của ông tức là đă cản trở và không cung cấp cho ông đầy đủ phương tiện để bảo vệ hữu hiệu cho sự an nguy của Hoa Kỳ.

Sự thay đổi đột ngột về đề tài thời sự đang tranh luận tại chính trường ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn (Washington) cho thấy là một vị tổng thống Mỹ, mặc dù có tỉ lệ ủng hộ của người dân rất thấp dựa theo những bảng thăm ḍ dân ư trong thời gian qua, vẫn c̣n có những khí cụ đáng ngại như việc kư những sắc lệnh, hay quyết định một vài thay đổi trong chính sách để từ đó tạo ra sự chú ư mới về đề tài thời sự theo như nghị tŕnh mong muốn, nhất là trong thời điểm quan trọng cận kề ngày bầu cử.

Thật ra th́ những hành động vừa qua của TT Bush đă chứng tỏ một sự nhượng bộ đáng kể trước những lời công kích của công luận thế giới về các nhà tù bí mật của CIA, một đề tài gây lúng túng không ít cho Ngoại trưởng Condoleezza Rice trong chuyến công du sang các nước Âu Châu trước đây v́ nó nói lên tính chất đạo đức giả của chính phủ Mỹ, cũng có những vi phạm nhân quyền tồi tệ đáng lên án trong khi vẫn thường huyên hoang và thích dạy đời thiên hạ về những thành tích nhân quyền của các quốc gia khác. Việc chuyển giao 14 tù nhân đặc biệt sang nhà tù ở Guantanamo Bay - gồm có có 3 người dân Pakistan, 2 người Yemen, 2 người của Saudi Arabia, 2 của Mă Lai Á (Malaysia), 1 người Palestine, một người Libya, 1 của Somali, 1 của Tanzania và 1 của Nam Dương (Indonesia) - được coi như là để khoá sổ một chương tŕnh gây tai tiếng không nhỏ cho uy tín và danh dự của Hoa Kỳ. Đó là kế hoạch bí mật của chính quyền Bush kéo dài trong 5 năm qua muốn che dấu tung tích của khoảng 100 nghi can khủng bố của tổ chức al-Qaeda tại nhiều nhà tù bí mật khắp nơi trên thế giới để dễ bề tra khảo và tránh con mắt soi mói của các hội bảo vệ nhân quyền quốc tế. Riêng tại nhà tù ở Guantanamo Bay, Hoa Kỳ đă giam giữ khoảng gần 1000 nghi can bị bắt giữ tại khắp nơi kể từ sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, với tội danh là "chiến binh thù địch" (enemy combatant) và giam giữ dài hạn mà không cần phải đem ra xét xử cũng như không cần phải quan tâm đến việc tôn trọng một số quyền tối thiểu dành cho nghi can theo như truyền thống của các quốc gia tôn trọng nhân quyền. Hoa Kỳ cũng cấm luôn các hội từ thiện và bảo vệ nhân quyền như Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế được quyền thăm viếng các tù nhân, một sự nhượng bộ tối thiểu mà ngay cả các quốc gia khi lâm chiến cũng đều tôn trọng. Tuy trong số các tù nhân, phần đông bị bắt trong cuộc chiến tấn công phe Taliban tại A Phú Hăn, có nhiều thành phần Hồi-giáo cực đoan và nguy hiểm nhưng cũng không ít một số người bị bắt oan v́ nhiều lư do khác nhau, nhiều khi chỉ v́ cái tội là người dân Ả Rập hay Hồi-giáo và bị t́nh nghi là có những mối liên hệ nào đó với những phần tử bất hảo. Một số lớn các nghi can có thể phạm vào những tội nhỏ nhặt không liên can ǵ đến chuyện khủng bố mà chỉ là những vi phạm về luật di trú khi quá hạn cư trú (tại Hoa Kỳ có khoảng 11 triệu người gốc Mễ phạm tội này). Sau biến cố 9/11, các giới chức trách nhiệm trong chính quyền Bush, trong nỗ lực pḥng chống các tổ chức khủng bố, đă có những phản ứng và hành động quá đáng, dễ khiến rơi vào t́nh trạng lạm dụng theo kiểu "thà bắt lầm hơn tha lầm" vốn đi ngược lại giá trị lâu đời của các quốc gia tiên tiến tôn trọng tinh thần "coi những nghi can là vô tội cho đến khi nào có đủ chứng cớ để buộc tội". Nguyên tắc về quyền "habeas corpus" - theo đó bất cứ một nghi can nào cũng phải có quyền được ra trước toà để nghe và thấy những chứng cớ buộc tội ḿnh - phổ cập trong công lư tại Hoa Kỳ cũng như nhiều quốc gia tiên tiến khác được coi như là một điểm son nổi bật nhất mà người dân của họ có thể tự hào là được sống trong một quốc gia tự do dân chủ thực sự, không có t́nh trạng bắt giam bí mật và trái phép. V́ thái độ hung hăng quá đáng đó của nhiều viên chức trong chính quyền Bush trong thời gian qua, Hoa Kỳ đă bị lên án bởi nhiều tổ chức bảo vệ nhân quyền như Human Rights Watch, Amnesty International (Hội Ân Xá Quốc Tế) và lời công kích phê b́nh rằng Guantanamo Bay là một nhà tù gulag (một loại nhà tù lao cải khắc nghiệt dưới thời Liên Sô) tuy có hơi cường điệu nhưng cũng khiến cho Hoa Kỳ lúng túng khó phương chống đỡ và càng mất cảm t́nh nhiều hơn nữa trên trường quốc tế.

 

Sự nhượng bộ này có lẽ cũng là kết quả chung cuộc sau hai năm tranh luận trong nội bộ của chính quyền Bush, bắt nguồn từ một lời thỉnh cầu đặc biệt của Thủ Tướng Tony Blair của Anh Quốc, một trong những đồng minh chí cốt với TT Bush trong cuộc chiến tấn công Iraq từ hơn ba năm qua.

 Thật vậy, trong suốt năm 2004, các viên chức cao cấp của hai bộ ngoại giao và quốc pḥng của Anh đă thúc hối nhiều lần các vị đối tác của họ trong chính quyền Hoa Kỳ nên cứu xét mau chóng việc thả bốn nghi can là công dân Anh c̣n bị giam trong nhà tù ở Guantanamo Bay. Mặc dù Hoa Kỳ đă thả ra 5 nghi can Hồi giáo có quốc tịch Anh trước đó, nhưng đối với 4 tù nhân c̣n lại th́ sự tranh căi đă diễn ra gay gắt giữa các viên chức của văn pḥng Phó tổng thống cũng như của các bộ ngoại giao, quốc pḥng, tư pháp và cơ quan t́nh báo CIA với hai lập luận đối chọi giữa một bên là ngoại trưởng Rice và bên kia là PTT Dick Cheney. Trong một chuyến công du sang Hoa Kỳ vào tháng 11 năm đó, ông Blair đă nêu lên vấn đề này với TT Bush và được hứa sẽ can thiệp ngay. Chỉ hai tháng sau, vào tháng Giêng năm 2005, bốn nghi can này được thả về Anh Quốc và sau đó đă được trả tự do ngay lập tức v́ không đủ chứng cớ để buộc tội. Trong những tháng sau đó, các chính phủ thuộc các quốc gia Âu Châu khác cũng bị áp lực của dân chúng nên đă yêu cầu Hoa Kỳ thả các nghi can là công dân của ḿnh. Tổng cộng có khoảng 100 nghi can đă được thả về nguyên quán sau đó, mặc dù chi tiết này không được nhiều người chú ư đến.

Nội vụ nổ lớn ra hơn vào cuối năm đó khi tờ nhật báo Washington Post cho đăng một bài điều tra trong tháng 11 năm 2005, lần đầu tiên tường tŕnh về sự hiện hữu của các nhà tù bí mật này cũng như chính sách dẫn độ các tù nhân đặc biệt mà cơ quan CIA đă thông đồng hay mua chuộc các cơ quan t́nh báo tại một vài quốc gia khác để làm ngơ. Đây là một vết nhơ cho uy tín của Hoa Kỳ nói riêng, nhưng cũng là đối với các quốc gia liên hệ, nhất là khi các quốc gia t́nh nghi đó lại nằm trong khối Liên Hiệp Âu Châu (như Ba Lan và Lỗ Ma Ni) v́ nó đi ngược lại tinh thần nhân bản cũng như tôn trọng nhân quyền theo như tinh thần của Công ước Geneva. Lúc đó, Toà Bạch -c không phủ nhận hay xác nhận sự hiện hữu của chương tŕnh này, mà chỉ đưa ra lời than phiền rằng bài báo đă làm hại đến nền an ninh quốc gia. Nhưng nó gây khó chịu không ít cho cả ngoại trưởng Rice lẫn TT Bush trong các chuyến công du sang Âu Châu vào dịp đó khi mà chính phủ các nước Âu Châu, trước áp lực của dân chúng bất b́nh trước tin này, đă phải lên tiếng yêu cầu Hoa Kỳ giải thích rơ ràng nội vụ. Trong chốn riêng tư, họ đă áp lực Hoa Kỳ cần phải chấm dứt chương tŕnh này cũng như việc bắt giữ các nghi can tại nhà tù ở Guantanamo Bay mà không đem ra xét xử.

Mặc dù TT Bush đă than phiền là nhiều người đă có những "nhận thức sai lạc" (misperceptions) về nhà tù Guantanamo Bay như trong dịp hội kiến với Thủ Tướng Angela Merkel của Đức vào tháng Giêng năm 2006, nhưng sau đó không lâu, như trong một cuộc họp báo hồi tháng Sáu vừa qua, ông cũng đă vọt miệng nói rằng "tôi cũng muốn đóng cửa nhà tù Guantanamo" v́ nó đă trở thành cái cớ để cho vài quốc gia thân hữu của Mỹ tiếp tục chỉ trích là Hoa Kỳ đă không tôn trọng những giá trị lâu đời của ḿnh.

Cùng lúc đó, Đại tướng Michael V. Hayden, tân tổng giám đốc CIA, trong một cuộc nói chuyện với nhân viên thuộc cấp, đă gợi ư rằng có thể ông ta sẽ duyệt xét lại chương tŕnh giam giữ tù nhân bí mật mà CIA đă thực hiện trong thời gian qua để xem có thể tiếp tục được nữa hay không. Thế nhưng cuộc duyệt xét này đă không c̣n cần thiết nữa v́ một quyết định quan trọng của Tối Cao Pháp Viện, trong vụ án Hamdan chống lại Rumsfeld, (Hamdan là một tù nhân Hồi-giáo nộp đơn kiện Ngũ Giác Đài của ông tổng trưởng Rumsfeld) đă được ban ra cũng trong tháng Sáu khi đa số các vị thẩm phán cho rằng tất cả các nghi can bị giam giữ đều phải được hưởng những quyền bảo vệ theo đúng với tinh thần của Công ước Geneva. Phán quyết này mặc nhiên kết tội chương tŕnh giam giữ tù nhân bí mật của CIA là bất hợp pháp.

Mặc dù đă biết có sự chống đối hay chỉ trích từ lâu về chương tŕnh giam giữ tù nhân bí mật này (mà không chịu đem ra xét xử), các luật sư cố vấn ở Toà Bạch -c cũng đều sững sờ trước thất bại pháp lư nặng nề do phán quyết của TCPV. Trong các cuộc họp sau đó trong nội bộ, luật sư cố vấn của CIA là ông John Rizzo đă cho rằng chương tŕnh nhà tù bí mật này thật ra đă gặp quá nhiều khó khăn để có thể được lưu giữ v́ một số quốc gia đă yêu cầu CIA phải đóng cửa ngay các nhà tù bí mật này trên lănh thổ của họ hoặc từ chối không tiếp tay nữa với CIA trên nhiều địa hạt khác. Chính ông Dan Bartlett, một phụ tá cao cấp ở Bạch Cung, cũng phải thú nhận rằng "phán quyết Hamdan đă buộc chúng tôi" phải công nhận rằng có giam giữ bí mật một số tù nhân nào đó, đồng thời cũng chữa thẹn rằng việc lấy khẩu cung trong thời gian qua đă khá đầy đủ nên giờ đây không c̣n cần thiết nữa và do đó Hoa Kỳ có thể bắt đầu đưa các nghi can này ra toà để xét xử. Trong những phiên họp của bộ tham mưu ở Bạch Cung, ngoại trưởng Rice đă thẳng thắn đề nghị một sự thay đổi trong chính sách. Bà Rice cho rằng Hoa Kỳ cần phải chấm dứt chương tŕnh này, dựa trên cả hai tiêu chuẩn chính sách ngoại giao lẫn giá trị đạo đức. Bà Rice nói với các thành viên trong Hội Đồng An Ninh Quốc Gia rằng chương tŕnh nhà tù bí mật này đă khiến cho việc liên kết để hợp tác với các quốc gia khác trong lănh vực t́nh báo càng ngày càng khó khăn, và do đó TT Bush cần phải giải quyết việc này ngay. V́ thế cho nên trong bài diễn văn tuyên bố đóng cửa các nhà tù bí mật này khi chuyển giao 14 tù nhân đặc biệt sang nhà tù ở Guantanamo Bay, TT Bush đă lập lại phần lớn những lập luận của bà Rice: "Hoa Kỳ là một quốc gia pháp trị. Tôi sẽ tiếp tục làm việc với cộng đồng quốc tế để xây dựng một nền tảng chung hầu có thể bảo vệ đất nước và quyền tự do của người dân."

Thế nhưng cùng lúc đó, TT Bush cũng muốn định nghĩa lại một vai tṛ của các nhà tù CIA, từ khía cạnh bảo vệ nhân quyền của tù nhân sang khía cạnh bảo vệ sự an nguy cho người dân Mỹ. Ông Bush cả quyết rằng nhờ việc lấy khẩu cung ráo riết những tay đầu năo của al Qaeda như Khalid Sheik Mohammed, nhân vật được xem như là đạo diễn chính của màn khủng bố 9/11 và Abu Zubaida, một phụ tá cao cấp của Osama bin Laden, mà giới t́nh báo Mỹ đă thu thập được một kho những tin tức quí giá cho nỗ lực pḥng chống khủng bố. Do đó, ông đă khẩn thiết yêu cầu Quốc Hội phải thông qua một đạo luật cho phép các cuộc lấy khẩu cung như trên được tiếp tục cũng như không trừng phạt những nhân viên thi hành nhiệm vụ lấy cung này.

Mặc dù đă cố gắng nhiều lần, bằng nhiều chiến dịch tuyên truyền với nhiều bài diễn văn nẩy lửa khác trong thời gian qua, bộ tham mưu ở Bạch Cung đă không thể nào đảo ngược lại tiến tŕnh càng ngày càng tụt dốc về uy tín của TT Bush kéo dài trong năm qua, mà nguyên nhân chính có lẽ là sự thiếu kiên nhẫn của người dân Hoa Kỳ trước viễn ảnh bi quan kéo dài của cuộc chiến tại Iraq càng ngày càng tốn kém hơn. Nhưng lần này, trong những tuần lễ trước và sau ngày 11 tháng 9 năm nay, Toà Bạch -c đă lợi dụng dịp kỷ niệm 5 năm biến cố đau thương này để tung ra một chiến dịch tích cực hơn nữa để mong giành lại thế thượng phong hầu tránh cho phe Cộng Hoà không bị thất bại nặng nề trong kỳ bầu cử sắp tới, tức là có thể mất đa số nắm quyền tại một hay hai viện ở Quốc Hội.

Những cuộc thăm ḍ dân ư trong những tháng gần đây đều cho thấy là uy tín của TT Bush nói riêng và của đảng Cộng Hoà nắm quyền ở Quốc Hội nói chung cũng đều tụt giảm đáng kể, khiến cho cơ nguy có thể mất một hay hai viện lập pháp cho nhiệm kỳ sắp tới không phải là chuyện khó xảy ra. Và nếu như điều này hiện thực, th́ chính quyền Bush sẽ coi như bị trói tay trong thời gian tới, và TT Bush chính thức trở thành một vị "tổng thống vịt què" (a lame duck president), khập khiễng không c̣n đi đứng vững nữa cho dù vẫn c̣n ngồi tại chức trong ṿng hai năm dài. Đáng ngại hơn nữa là nếu như phe Dân Chủ chiếm được đa số ở Thượng Viện, với khả năng thiết lập những uỷ ban điều tra đặc biệt, nhiều phần là các viên chức cao cấp trong chính quyền từ TT Bush trở xuống đều phải vất vả và tốn hao công sức để ra điều trần trước các uỷ ban này để bị lấy khẩu cung trước những lời kết tội về những khiếm khuyết hay sơ hở trong thời gian qua.

Điều hy vọng duy nhất hiện nay cho TT Bush và phe Cộng Hoà là đề tài an ninh quốc pḥng là lănh vực duy nhất mà họ có thể giữ được sự hậu thuẫn của đa số dân chúng, dù chỉ là một đa số mong manh và khít khao. Nhưng nó có khả năng đem lại chiến thắng trong các thùng phiếu như đă được chứng minh trong hai kỳ bầu cử trước đây vào năm 2002 và 2004. V́ thế cho nên tất cả các cuộc tranh luận hiện nay đều phải được dàn dựng hay sắp xếp dưới lăng kính yêu nước và bảo vệ tổ quốc để giúp cho đảng Cộng Hoà tiếp tục khai thác được ưu thế này.

Lịch sử cận đại Hoa Kỳ cho thấy là trong mấy thập niên qua, người dân Mỹ đă gần như có sẵn định kiến rằng phe Cộng Hoà có ưu điểm về các lănh vực đối ngoại và quốc pḥng trong khi đảng Dân Chủ được sự ủng hộ và tin tưởng nhiều hơn trên các địa hạt đối nội và dân sinh. Trong chiều hướng đó, mỗi khi đất nước đang nằm trong nguy cơ bất an hay có chiến tranh, các lănh tụ phe Cộng Hoà thường giành lấy ưu thế. Thế nhưng lần này, điều tai hại đă xảy ra cho đảng Cộng Hoà với kết quả thất bại và tốn kém nặng nề của cuộc chiến tại Iraq, một cuộc chiến thiếu chính nghĩa với những lư cớ sai trái hoặc được nguỵ tạo, lại được thi hành một cách quá chủ quan và thiếu trách nhiệm bởi những lănh tụ đầy kiêu căng nhưng bất tài như ông Rumsfeld, và đáng ngại hơn nhất, là càng ngày càng gây bất ổn trên thế giới cũng như tạo ra thêm nhiều kẻ thù cho Hoa Kỳ. Do đó mà trong kỳ bầu cử năm 2002, bộ máy tuyên truyền của chính quyền Bush đă thổi phồng lên mối nguy về kho vũ khí tàn sát quy mô của lănh tụ độc tài Saddam Hussein để từ đó có thể chỉ trích tất cả các vị dân biểu hay nghị sĩ nào không ủng hộ TT Bush cho giải pháp quân sự tấn công Iraq. Qua đến kỳ bầu cử năm 2004, những h́nh ảnh sai trái và bất lợi về cuộc chiến chỉ mới được hé mở một phần nhưng chưa tạo được sự thức tỉnh của đa số quần chúng v́ vẫn c̣n bị ảnh hưởng bởi chính sách tuyên truyền cố t́nh liên kết cuộc chiến tại Iraq với biến cố 9/11. Nhưng đến năm nay th́ tất cả những sự thật đă được phơi bày, chính TT Bush cũng phải thú nhận trước giới truyền thông toàn quốc rằng chế độ Saddam Hussein không có dính líu ǵ đến vụ 9/11, và ngay cả trên Thượng Viện Mỹ dưới quyền của đa số theo đảng Cộng Hoà, một bản tường tŕnh cũng đă được thông qua với lời kết luận rơ ràng rằng giới t́nh báo Mỹ đă biết chắc chắn rằng Iraq đă không có kho vũ khí độc hại trước đó, cũng như chính quyền Saddam Hussein đă không có liên lạc ǵ với tổ chức al-Qaeda, thậm chí c̣n coi tổ chức này là một phần tử nguy hiểm như kẻ thù.  

V́ thế cho nên kỳ này lá bài cuộc chiến Iraq không c̣n ăn khách nữa và rất nhiều các vị dân biểu và nghị sĩ (của cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hoà) đă mạnh dạn lên tiếng chống đối cuộc chiến tranh này mà không sợ bị chụp mũ là hèn nhát hay không có tinh thần ái quốc cao độ. Trong thực tế, những nhân vật diều hâu, chủ chiến cực đoan như các ông Cheney, Paul Wolfowitz (phó tổng trưởng quốc pḥng) chưa bao giờ t́nh nguyện cầm súng ra chiến trường mà lại thường t́m cách chạy chọt để xin hoăn dịch. Riêng ông Cheney đă xin được hoăn dịch liên tiếp đến 5 lần để khỏi phải bị động viên và tránh bị đẩy vào chiến trường tại Việt Nam.  

V́ thế cho nên lần này, TT Bush và phe Cộng Hoà chỉ c̣n cố bám víu vào những tù nhân nghi can khủng bố nhằm khơi lại những h́nh ảnh kinh hoàng của biến cố 9/11 để tiếp tục khai thác những t́nh cảm sôi nổi và tức giận của người dân Hoa Kỳ. Nói một cách đơn giản, lần này TT Bush muốn lập luận rằng ông ủng hộ việc cho phép nhân viên CIA dùng cực h́nh để tra khảo (mà ông gọi một cách văn hoa là "những phương cách lấy cung khác") những nghi can thuộc phe khủng bố al-Qaeda cho dù nó có đi ngược với Công Ước Geneva hay không, miễn là nó giúp cho chúng ta có được những tin tức quí giá trong công cuộc dẹp tan bọn khủng bố. Vậy những ai không ủng hộ đường lối và chính sách của ông tức là chỉ lo bảo vệ đến quyền lợi của bọn khủng bố thay v́ đến nền an nguy của người dân Mỹ. Theo suy luận này, mà phe ủng hộ thường diễn giải một cách cường điệu hơn, khi bắt được một kẻ t́nh nghi khủng bố có khả năng hay nguy cơ chôn giấu đâu đó một quả bom nguyên tử để tấn công tại những thành phố lớn th́ việc lấy cung và tra khảo để có thể phát giác kịp thời và ngăn chặn một vụ nổ bom (theo kịch bản của nhiều phim hành động hay phim truyền h́nh ăn khách 24 hours) là điều dễ hiểu và dễ dàng chấp nhận cho dù đó là những phương thức tra khảo tàn nhẫn vô nhân đạo (v́ có mục đích là cứu được mạng sống cho hàng trăm ngàn người khác). Thế nhưng trong thực tế, mọi việc không diễn ra như trong trong phim truyện, và thông thường các chính quyền nếu không bị giám sát thường hay lợi dụng để lấn quyền v́ tâm lư thông thường "ỷ mạnh hiếp yếu" mỗi khi biết ḿnh được ưu thế sức mạnh sẵn có. Quan trọng hơn nữa là kỹ thuật tra khảo tù nhân trong nhiều trường hợp thường không phải là khí giới hữu hiệu nhất để lấy được những tin tức quí giá, theo sự nhận định của đa số các chuyên viên trong ngành t́nh báo. Các giới am tường trong lănh vực này đều cho rằng khi bị tra tấn dữ dội, hầu hết các tù nhân đều nhận tội cho xong hoặc khai tất cả những ǵ theo đúng ư muốn của người lấy cung để chấm dứt những h́nh phạt tra tấn. Để rồi sau đó khi điều tra tiếp về những lời tiết lộ này th́ mới khám phá ra rằng điều đó không đúng sự thực, rồi lại tiếp tục tra khảo tiếp để lại được nghe những lời khai khác nữa. Đó là trường hợp đă xảy ra với những lời khai của Abu Zubaida khiến cho giới t́nh báo và nhà chức trách Mỹ phải tốn công sức để điều tra thêm nhưng cuối cùng phải xác nhận là không đúng sự thực. Phương thức hữu hiệu nhất để lấy những lời cung khai cần thiết và xác đáng từ những tù nhân không phải là dùng sức mạnh uy hiếp khiến cho họ phải kinh sợ, mà đúng ra là phải làm sao chứng tỏ được khả năng hiểu được tâm lư của nghi can để tạo nên một sự thông cảm (trong một chừng mực nào đó) cho những hành động phạm pháp và sau đó là một sự đầu hàng hay nể phục theo cái kiểu "khẩu phục tâm phục", v́ tất cả những ẩn ức sâu xa của ḿnh đă được giăi bày và có người đồng cảm nên không cần ǵ phải dấu diếm.

Lập luận của TT Bush là một chiêu thức tuyên truyền và chính trị đầy tính mị dân nhưng vô cùng kiến hiệu, v́ nó giúp cho ông khoác được cái áo của một vị lănh tụ biết chăm lo cho sự an nguy của người dân Hoa Kỳ bằng tất cả những cố gắng và phương tiện, cho dù là những phương tiện bất hợp pháp gây bất măn và chống đối của công luận thế giới. Nó chỉ giúp thoả măn được cái tự ái cá nhân nhất thời của người dân Mỹ thiếu trưởng thành và hiểu biết sâu xa nên không nghĩ đến những hậu quả tai hại trong lâu dài. Nhưng trong đoản kỳ nó cũng đem lại cho ông Bush một ưu thế v́ rất ít chính trị gia nào có can đảm lên tiếng chống đối v́ sợ sẽ bị chụp mũ là không biết lo nghĩ đến quyền lợi và sự an nguy của người dân Hoa Kỳ trước tiên. Đó là lư do tại sao, tại Hạ Viện, mặc dù có sự chống đối của hầu hết các vị dân biểu phe Dân Chủ, cuộc bỏ phiếu tại Uỷ ban Quốc Pḥng đă đi đến kết luận thông qua việc ủng hộ giải pháp của chính quyền Bush với đa số 52-8.  

Nhưng điều đau đớn và xui cho TT Bush, nhưng có lẽ cũng là vận may cho uy tín và danh dự của Hoa Kỳ trong lâu dài, sự chống đối khá mạnh mẽ lần này lại diễn ra ở Thượng Viện, dưới sự chủ động của những tên tuổi nhiều uy tín của đảng Cộng Hoà cùng với những thành tích và lư lịch gạo cội khiến không ai có thể chụp mũ là những thành phần hèn nhát hay không yêu nước. Đó là các nghị sĩ bảo thủ như John Warner, chủ tịch Uỷ Ban Quốc Pḥng, cựu bộ trưởng Hải Quân Mỹ; và các ông khác như John McCain, một cựu tù binh đă từng bị bắt giam nhiều năm tại nhà tù Hoả Ḷ ở Hà Nội; Lindsay Graham, một cựu sĩ quan ngành quân pháp cùng vài nghị sĩ phe ôn hoà khác như Susan Collins. V́ thế cho nên, tại Uỷ Ban Quốc Pḥng ở Thượng Viện, đa số 15/9 đă bác bỏ những đề nghị của TT Bush để thông qua một dự luật khác tôn trọng tinh thần của Công ước Geneva. Hiện nay, các đề nghị này sẽ được thảo luận tại đại hội đồng của mỗi viện và trong chiều hướng đó, nhiều phần là sẽ được thông qua ở Hạ Viện theo chiều hướng thuận lợi cho TT Bush nhưng chắc chắn sẽ bị chống đối ở Thượng Viện. Do đó một cuộc điều đ́nh để dàn xếp ở lưỡng viện sẽ diễn ra để mong đi đến một giải pháp thoả hiệp chung cuộc. Trong nhiều trường hợp khi những xung khắc hay khác biệt giữa hai viện quá lớn để có thể thoả hiệp hay tương nhượng, các dự luật hay đề nghị bị coi như là thất bại.  

Đó là viễn ảnh hiện nay của đề nghị này, nhất là với thời gian hạn hẹp c̣n sót lại chỉ vài tuần lễ trước khi các dân biểu và nghị sĩ phải vội vàng nghỉ họp và đóng cửa trụ sở để có thể về địa phương ḿnh và sửa soạn cho chiến dịch vận động tái tranh cử của ḿnh. Đó là lư do giải thích tại sao TT Bush, vốn ít khi nào chịu bỏ th́ giờ để ngó ngàng đến những quan tâm của ngành lập pháp, trong tuần qua đă cùng với PTT Cheney và phụ tá chính trị Karl Rove thân hành đến Hạ Viện để họp riêng với các vị đại biểu của đảng Cộng Hoà ḥng mong đạt được một sự đoàn kết để thông qua dự luật của ḿnh. Nếu như điều này không được thông qua, TT Bush và phe Cộng Hoà sẽ không có thành tích nào để đem ra khoe với thành phần cử tri của ḿnh.

 

Hơn thế nữa, lần này họ cũng không thể tấn công đối phương thuộc đảng Dân Chủ là không cương quyết trong sứ mạng bảo vệ an ninh người dân v́ trong phe chống đối đề nghị này cũng có khá nhiều các nghị sĩ thuộc đảng Cộng Hoà với thành tích và lư lịch sáng chói. Như trường hợp của ông McCain, một cựu tù binh trong thời chiến tranh tại Việt Nam và là nạn nhân của những đ̣n tra khảo dă man, việc chống đối không cho phép CIA dùng h́nh thức tra khảo là một quyết định đứng đắn và sáng suốt v́ đă nh́n rơ những tệ hại của chính sách này. Bởi v́ nếu Hoa Kỳ cũng áp dụng những biện pháp vô nhân đạo này tức là đă tự hạ ḿnh xuống ngang hàng với những thể chế độc tài và dă man và quan trọng hơn nữa là trong những cuộc chiến trong tương lai, các quân nhân của ḿnh khi bị phe địch bắt giữ có thể cũng sẽ là nạn nhân của những h́nh thức tra khảo đó mà Hoa Kỳ không thể nào kêu cứu v́ chính ḿnh cũng đă hành xử như vậy.  

Chưa hết, chính sách của chính quyền Bush cho phép CIA dùng cực h́nh để tra khảo tù nhân c̣n bị chỉ trích và chống đối kịch liệt bởi hai vị tướng lănh đă từng giữ chức vụ cao cấp nhất trong quân đội: đó là hai cựu đại tướng John Vessey và Colin Powell, đă từng là tổng tham mưu trưởng quân lực Hoa Kỳ. Trong một lá thư gửi cho nghị sĩ John McCain, cựu tướng Powell, cũng là cựu ngoại trưởng trong nhiệm kỳ đầu của TT Bush, đă cảnh cáo rằng không nên t́m cách sửa đổi những giới hạn đă quy định trong Công Ước Geneva (tức là t́m cách hợp thức hoá những h́nh thức tra khảo tù nhân và tù binh) bởi v́ hiện nay "thế giới đang bắt đầu hoài nghi về nền tảng đạo đức của Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống khủng bố". Cùng lúc đó, trong một lá thư gửi cho nghị sĩ John Warner, chủ tịch Uỷ Ban Quốc Pḥng, được kư tên chung bởi 24 cựu tướng lănh và 3 cựu viên chức cao cấp trong ngành ngoại giao và tư pháp Hoa Kỳ, người ta đọc thấy nỗi "quan tâm sâu xa" (profound concern của các vị này trước những nỗ lực muốn xói ṃn tinh thần của Công Ước Geneva. Đối với các vị này, sự chống đối của họ có thể được diễn tả một cách đơn giản như sau: Công Ước Geneva có thể giúp bảo vệ cho các quân nhân Mỹ khi bị bắt làm tù binh. Khi Hoa Kỳ t́m cách vi phạm Công Ước này bằng cách ngược đăi các tù nhân th́ trong tương lai các tù binh Mỹ cũng sẽ bị trả đũa tương tự, hay c̣n tệ hơn thế nữa.

Thật ra th́ sự chống đối trước những nỗ lực đi quá đà của chính quyền Bush đă ngấm ngầm xảy ra trong hậu trường từ nhiều năm qua, phần lớn do bởi một số viên chức cao cấp và kỳ cựu trong những ngành tư pháp, quốc pḥng và ngoại giao nhưng cuối cùng đều bị phủ quyết bởi cấp trên của họ là những tổng bộ trưởng trung thành với TT Bush. Thông thường đây là những công chức với nhiều thâm niên công vụ nên đă quen với những đường lối và sinh hoạt cẩn trọng trong ngành nghề của ḿnh, và với lương tâm nghề nghiệp, thường rất đắn đo và cân nhắc kỹ lưỡng lợi hại của từng quyết định cho quyền lợi tối thượng và lâu dài của quốc gia Hoa Kỳ. Trong khi cấp trên của họ là các vị tổng trưởng trong nội các và tổng thống th́ có thể có những toan tính chính trị riêng tư có lợi hay thích hợp hơn với lư tưởng đảng phái của ḿnh. Do đó trong bất cứ nhiệm kỳ của tổng thống nào, dù là theo Dân Chủ hay Cộng Hoà, người ta thường thấy có những vụ tiết lộ từ bên trong nội bộ của chính quyền bởi một vài viên chức trong cuộc, mỗi khi họ thấy những việc làm của cấp trên có sai lầm hay chệch hướng, tai hại cho quyền lợi lâu dài của đất nước. Cũng trong tinh thần tôn trọng sự công bằng và lẽ phải, luật pháp và xă hội Hoa Kỳ cũng t́m cách bảo vệ những nhân viên cấp thấp có can đảm tố cáo những sai phạm của cấp trên (whistleblower's protection). Trong trường hợp của chính quyền Bush, nhiều viên chức cao cấp trong Bộ Tư Pháp dưới thời cựu tổng trưởng John Ashcroft đă từ chối không chấp thuận việc cho phép thu lén các cuộc điện đàm của người dân mà không có án lệnh của toà án đặc biệt. Ở Bộ Quốc Pḥng, mặc dù bị áp lực của các sếp dân sự là các vị thứ trưởng quốc pḥng, các sĩ quan cao cấp về quân pháp của bốn quân chủng Lục Quân, Hải Quân, Không Quân và Thuỷ Quân Lục Chiến lúc nào cũng lên tiếng phản đối việc cho phép các sĩ quan t́nh báo có thể dùng những biện pháp tra khảo để lấy cung các tù binh, và yêu cầu nên áp dụng thủ tục truy tố công bằng và đứng đắn (due process of law) đối với các tù nhân. Theo lập luận của họ th́ nếu áp dụng đúng thủ tục này th́ những chứng cớ hay những lời khai của các tù nhân sẽ dễ dàng được chấp thuận trong các phiên toà xét xử sau này, bằng không th́ có thể sẽ bị từ chối và lúc đó các nghi can này sẽ dễ dàng được toà tha bổng v́ không đủ chứng cớ hay với những chứng cớ thu thập được một cách trái phép.  

Đó là lư do giải thích tại sao lần này TT Bush gặp lúng túng không ít khi mà những người chống đối ông tích cực nhất lại là những người cùng đảng Cộng Hoà với những thành tích và lư lịch sáng chói như các ông John McCain và Colin Powell. Ông Bush và phe Cộng Hoà không c̣n có thể áp dụng bài bản cũ là chụp cái nón cối lên đầu những vị này, như họ đă làm với các chính trị gia và lănh tụ của đảng Dân Chủ trong thời gian qua mỗi khi những người lên tiếng chống đối hay chỉ trích các chính sách của chính quyền, là những phần tử yếu hèn thiếu tính cương quyết, và lúc nào cũng chỉ chực chờ thoả hiệp với kẻ thù. Hơn nữa, lập luận của ông Powell khá đanh thép và vững vàng, khó thể nào biện bạch ngược lại. Ông Powell lư luận rằng: "Một phần của cuộc chiến chống khủng bố này bao gồm sự tranh đấu trên các mặt trận chính trị và ư thức hệ. Tư cách và uy tín đạo đức của Hoa Kỳ phải được coi là một trong những khí cụ đắc lực nhất. Hiện nay trên mặt trận ngoại giao trước công luận, chúng ta đă gặp nhiều khó khăn thất bại. V́ thế cho nên điều này (nếu được thông qua) càng đưa ra một thông điệp tai hại và sai trái đến cộng đồng thế giới."  

Điều đáng lo ngại là, theo lời nhận định của nhà báo Fareed Zakaria, một bỉnh bút chính trị am tường về thời sự tại Trung Đông của tạp chí Newsweek, dường như chính quyền Bush hiện nay vẫn mù quáng và không chịu nhận thức rơ về thực trạng chính trị này. Sau những vụ x́-căng-đan đầy tai tiếng làm giảm thiểu uy tín nặng nề cho Hoa Kỳ như các nhà tù ở Guantanamo Bay, Abu Ghraib, vụ thảm sát thường dân ở Haditha và nhiều vụ bê bối hay sai lầm khác, Hoa Kỳ cần phải đưa ra một biểu tượng tốt đẹp hơn để đánh bóng cho những thái độ và tư cách nghiêm túc căn bản của ḿnh. Việc tọc mạch muốn thay đổi những quy định của Công Ước Geneva theo quyền lợi riêng tư của ḿnh là một dấu hiệu sai lầm, được đưa ra trong một thời điểm sai lệch, bởi một chính quyền sai trái.

 

Thật ra th́ TT Bush cũng như các phụ tá ở Bạch Cung cũng không thấy có ǵ cần thiết hay khẩn cấp để thông qua những dự luật có lợi cho ḿnh trong mong muốn xét xử các nghi can này hầu có thể ngăn chặn các hành động khủng bố trong tương lai. Trong thời gian giam giữ vài năm qua, nếu như muốn xét xử để trừng phạt đích đáng và với những chứng cớ vững vàng, nhà chức trách Hoa Kỳ có thể đem ra 14 nghi can khủng bố cùng với nhiều nghi can khác trước những toà án quân sự hay dân sự để luận tội và để cho tiến tŕnh công lư tự nhiên diễn tiến. Dù có được tha bổng hay trừng phạt nặng nề, nền an ninh của Hoa Kỳ cũng như của thế giới đă không thực sự thay đổi ǵ mấy, và trong thực tế các giới chức hữu trách của Hoa Kỳ cũng như của các nước khác vẫn có thể tiếp tục theo dơi các nghi can này (cho dù có được tha bổng) nếu như vẫn c̣n t́nh nghi họ. Có lẽ ông Bush và nhiều người nữa chẳng quan tâm thực sự đến việc những nghi can khủng bố có bị xét xử nhanh chóng hay không. Thế nhưng điều mà ông và các lănh tụ của đảng Cộng Hoà mong muốn nhất, có lẽ là một cơ hội để cho họ có thể lợi dụng và chứng minh ḷng cương quyết chống khủng bố trước một khối cử tri từ hơn năm năm qua vẫn c̣n bị ám ảnh bởi những h́nh ảnh kinh hoàng của biến cố khủng bố 9/11 và không nhiều th́ ít, vẫn c̣n có thể tiếp tục bị ảnh hưởng của chiến dịch tuyên truyền tinh vi này. Và cơ hội tốt đẹp nhất không ǵ khác hơn là một đạo luật, hay một dự luật nào đó với những lợi ích chính trị nhất thời như đề tài đang được tranh luận hiện nay.

Điều đáng buồn hơn nữa là có khá nhiều các vị dân cử, dù trong thâm tâm đă biết sự sai lầm này, nhưng v́ áp lực chính trị nên đă không dám nói lên sự thực v́ có thể bị ảnh hưởng tai hại cho sự nghiệp chính trị của họ. Liệu cử tri Hoa Kỳ lần này có đánh giá và phê b́nh họ một cách nặng nề hay không, tức là sáng suốt bỏ phiếu chọn lựa mà không bị mù quáng bởi một chiến dịch hù doạ? Chúng ta khó mà biết được.  

Nhưng chắc chắn là lịch sử sẽ phán xét một cách nghiêm khắc những chính trị gia và các vị dân cử thiếu can đảm đó, mà hành động không dám nói lên sự thật có thể sẽ đem lại những di hại lâu dài cho nhân loại.

 

Nguyễn Anh Tuấn

Houston, Texas

xem tiếp phần 3  >>>>>

 

xem phần 1 >>>>>>>>>

 

 

 

 

 

 

 

CHÍNH NGHĨA 

 

   

Chính Nghĩa Tự Có Tính Thuyết Phục - Nhân Nghĩa Tự Có Tính Cảm Hoá