Chuyện dài Iraq...

 

Tiến Công Lần Chót?

Phải chăng Hoa Kỳ đă gặp thất bại

tại chiến trường Iraq? 

 

Thứ ba 2, Tháng Giêng 2007)

 

Mai Loan

 

 

 

 

 

Trong cuộc họp báo vào tuần trước, Tổng Thống Bush đă phác thảo sơ qua về hai thay đổi quan trọng trong chính sách, liên quan đến lực lượng của quân đội Hoa Kỳ. Đầu tiên là việc xem xét có hay không nên tăng viện, với một lực lượng khoảng từ 15 đến 30 ngàn quân nhân Mỹ, đến tham chiến tại Iraq theo như lời "đề nghị" của một số chuyên gia trong cố gắng vô vọng đi t́m một giải pháp chiến thắng cho cuộc phiêu lưu đầy máu lửa kéo dài gần bốn năm qua. Kế đến là một kế hoạch dài hạn nhằm tăng cường lực lượng của Lục Quân và Thuỷ Quân Lục Chiến để đối phó với những khó khăn và thử thách trong tương lai cho quân đội Mỹ mà các vị tướng lănh tư lệnh bắt đầu lên tiếng cảnh giác. Nhất là vụ sa lầy hiện nay tại vùng Trung Đông đă chứng tỏ cho mọi người thấy là một quân đội hùng mạnh nhất, và được trang bị với những thứ vũ khí tối tân và đắt tiền nhất trên thế giới, cũng có những sở đoản mà đối phương cũng có thể khai thác được.

 

Kế hoạch thứ nhất, được xem như là giải pháp ưa chuộng của những thành phần hiếu chiến trong chính quyền cũng như đối với những chính trị gia diều hâu như nghị sĩ John Mc Cain, thường được gọi là một giải pháp "tiến công" (surge) lần chót nhằm thay đổi cục diện ở chiến trường. Cho dù đây là một quả bóng thăm ḍ hay là một đề nghị được TT Bush và bộ tham mưu của ông thực sự tin tưởng hay hy vọng, th́ sự kiện này cũng phản ảnh phần nào tư duy và thái độ của ông Bush, trước sau như một, đường ta ta tiến, theo kiểu stay the course, cho dù có biết bao lời b́nh phẩm hay đề nghị ngược lại. Cho dù là một bản đúc kết rất nghiêm túc của mười nhân vật uy tín và lăo thành trong uỷ ban lưỡng đảng Iraq Study Group đă đưa ra một lô gồm 79 đề nghị cần phải thay đổi chính sách tại Iraq và được mọi người coi như là lời kết án gián tiếp nhưng nặng nề nhất cho sự thất bại của các kế hoạch điều hành của chính quyền Bush tại Iraq trong thời gian qua. Và cũng cho dù là kết quả thảm bại nặng nề và sâu đậm của phe Cộng Hoà trong kỳ bầu cử vào đầu tháng 11 vừa qua đă được gần như mọi người coi đó là một phán quyết rơ ràng và dứt khoát của dân chúng Mỹ từ chối việc tiếp tục ủng hộ hay lao ḿnh theo con đường của chính quyền Bush và đảng Cộng Hoà dẫn dắt trong thời gian qua, đặc biệt liên quan đến cuộc chiến tại Iraq. Gọi là "gần như mọi người" v́ có lẽ chỉ có các ông Bush, Cheney và một số bộ hạ thân tín đang tự vây ḿnh trong tháp ngà ở Toà Bạch -c để nhất quyết không chịu nh́n nhận những sự thật phũ phàng khác với những ǵ mà họ mơ tưởng trước đó. Trong cuốn sách bestseller của nhà báo Bob Woodward có tựa đề State of Denial (Trạng Thái Chối Bỏ) phát hành mới đây, tác giả đă diễn tả thật linh động và chính xác đức tính "cương quyết" (resolute) của vị nguyên thủ quốc gia khi tự hào rằng "Cho dù chỉ c̣n có Laura (đệ nhất phu nhân) và Barney (tên của con chó cưng tại Bạch Cung) ủng hộ th́ tôi vẫn nhất quyết không thay đổi chính sách tại Iraq." Những người không thích ông Bush th́ cho rằng thật ra cái đức tính đó phải nên gọi là "ngoan cố" (stubborn) th́ đúng hơn.

 

Kế hoạch thứ hai về việc gia tăng quân số của hai thành phần Lục Quân và Thuỷ Quân Lục Chiến, là hai quân chủng bị hy sinh và hứng chịu thiệt tḥi nhiều nhất trong cuộc chiến hiện nay, cho thấy một nguy cơ đáng hại hơn trong chủ trương của TT Bush và một số các chính trị gia cầm quyền ở Hoa Kỳ, dường như lúc nào cũng chỉ biết nghĩ đến giải pháp quân sự để giải quyết những khó khăn. Đối với công luận thế giới, đề nghị này lại càng phản ảnh rơ ràng hơn bao giờ hết cái tư duy và thái độ thường thấy của những anh vơ biền thuộc loại "ỷ mạnh hiếp yếu" (bully), lúc nào cũng có ư nghĩ hay chực chờ để bợp tai những kẻ yếu thế hơn mỗi khi có điều ǵ trái ư. Chẳng trách nào mà tại nhiều nơi trên thế giới, kể cả tại các nước đồng minh lâu đời với Hoa Kỳ, nhiều người tin vào lư luận của nhiều b́nh luận gia cho rằng một nước Mỹ quá hùng mạnh ở vị thế đệ nhất siêu cường không phải là một điều tốt cho thế quân b́nh trên thế giới, cũng như cho rằng TT Bush mới chính là một trong những lănh tụ nguy hiểm nhất cho nền an ninh toàn cầu.

 

Tuy nhiên, không phải tất cả những vị tướng lănh tư lệnh, đă hồi hưu hay đang nắm quyền trong Bộ Tổng Tham Mưu, đều chia sẻ quan điểm "hiếu chiến" này. Đến ngay như cả hai vị sĩ quan cao cấp tại chiến trường Trung Đông là Đại Tướng John Abizaid, tư lệnh Vùng Central Command và Đại Tướng George Casey, tư lệnh toàn quân tại Iraq, lúc đầu cũng tỏ ư không phấn khởi ǵ lắm trước kế hoạch tăng quân để làm một cú "tiến công", cho dù mới đây Toà Bạch -c đă cố đưa ra tin tức để làm nhẹ đi sự chống đối từ phía các vị tướng tư lệnh. Lập luận của các vị tướng này cho rằng việc tăng quân tại chiến trường Iraq cần phải đi kèm theo một sứ mạng rơ rệt, ngụ ư là đ̣i hỏi chính phủ Bush phải đặt trọng tâm trong việc t́m một giải pháp chính trị ổn thoả để đi kèm với biện pháp quân sự. Bằng không th́ việc đổ thêm khoảng từ 20 đến 30 ngàn quân cũng chẳng làm nên tích sự ǵ, hoặc cũng không thể nào thay đổi được cục diện. Lư do đơn giản là với một đạo quân hùng hậu khoảng từ 135,000 đến 160,000 quân thường xuyên trú đóng tại Iraq trong ṿng gần bốn năm qua, Hoa Kỳ cũng không đạt được thành quả nào mà lại c̣n mất nhiều uy tín trên trường quốc tế, cùng lúc đó phải tiếp tục hi sinh nhân lực và tài lực một cách oan uổng và tốn kém. Hơn nữa, bối cảnh ngày nay cho thấy là ngay cả người dân trong nội địa nước Mỹ phần lớn cũng đă không c̣n ủng hộ v́ nhận thức ra một cuộc chiến mất chính nghĩa, cũng như không c̣n ngây thơ tin vào một ngày vinh quang tất thắng như bộ máy tuyên truyền của chính quyền Bush vẫn thường rêu rao. Ngay cả các sĩ quan cũng như các quân nhân tham chiến thật ra cũng không c̣n ḷng dạ ǵ để tiếp tục cuộc chiến, nếu không nhờ vào tinh thần kỷ luật cao độ cũng như truyền thống lâu đời của quân đội lúc nào cũng phải tuân lệnh cấp chỉ huy dân sự tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn.

 

Một trong những tiếng nói đáng chú ư nhất là của ông Colin Powell, cựu đại tướng tổng tham mưu trưởng và cũng là cựu ngoại trưởng trong nhiệm kỳ đầu của TT Bush, một trong những người có tinh thần kỷ luật cao, luôn luôn tôn trọng và trung thành với cấp trên. Trong cuộc xuất hiện trên chương tŕnh truyền h́nh "Face the Nation" vào Chủ nhật tuần trước, ông Powell đă cho rằng việc tăng cường quân nhân lên chiến trường ở thủ đô Baghdad đă được bộ chỉ huy ở Iraq thực hiện vào tháng Tám vừa qua trong mục đích dẹp bớt những vụ bạo loạn sát hại lẫn nhau giữa hai giáo phái Shiite và Sunni. Thế nhưng cuối cùng cũng không đem lại một thành quả khả quan nào, có chăng chỉ là tăng thêm con số nhiều quân nhân Mỹ phải bỏ mạng hay bị thương giữa hai lằn đạn trong một cuộc nội chiến đẫm máu. Hơn thế nữa, sự tăng cường của quân đội Mỹ, ngoài việc bảo vệ an ninh cho một thiểu số các chính trị gia hay nhân viên hợp tác với Hoa Kỳ sinh sống trong vùng an toàn Green Zone quanh toà đại sứ Mỹ, cũng chỉ đem lại sự gia tăng thù hận hay bực tức của đa số dân chúng c̣n lại: một số các toán dân quân (militia) bực ḿnh v́ gặp sự ngăn cản của lực lượng Mỹ khiến họ không thể tự nhiên ra tay để sát hại đối thủ, một số dân chúng th́ bực ḿnh v́ phải chịu nhiều h́nh thức kiểm soát gắt gao qua những đợt tảo thanh hay truy lùng hoặc các đồn kiểm soát v́ lư do an ninh bởi quân đội Mỹ, và phần lớn dân chúng c̣n lại cũng bực ḿnh oán hận đổ lỗi cho Hoa Kỳ đă không đem lại an ninh và những tiện ích tối thiểu cho cuộc sống của họ.

 

Do đó, ông Powell cho rằng không có lư do ǵ để tin tưởng rằng một vụ tăng cường khác sẽ đạt được thành quả để ngăn chặn hay dẹp bớt những vụ bắt cóc, ám sát hay nổ bom tự sát do hai khối dân tiếp tục tàn hại lẫn nhau v́ xung đột giáo phái. Nếu như c̣n tiếp tục ở cương vị Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực, một chức vụ mà ông đă đảm nhiệm trong bốn năm liền, ông Powell nói rằng ḿnh sẽ tự đặt ra câu hỏi: "Đâu là sứ mạng của chiến dịch mà các toán quân tăng viện này được giao phó?... Liệu nó có phải là một sứ mạng có thể đạt được hay không?... Liệu chúng ta có đầy đủ quân số để hoàn thành sứ mạng hay không?" Rồi sau đó, có lẽ ông cũng tự trả lời luôn khi đưa ra một nhận xét khác, đáng lưu tâm hơn, về ảnh hưởng của sự tăng viện này ra sao đối với tinh thần của quân đội Mỹ: "Và chúng ta cũng nên nh́n rơ một vấn đề khác nữa: đó là chúng ta thật sự không c̣n có dư quân nào khác để có thể tăng viện. Thật ra nếu có gọi là tăng viện th́ cũng chỉ là làm việc như cũ, tiếp tục giữ các lực lượng trú đóng tại đó, buộc họ ở lại lâu hơn (thay v́ được hoán chuyển về hậu cứ), và thúc đẩy việc bổ sung các toán quân khác đến thay thế (sớm hơn thời hạn dự trù)."

 

Có lẽ đây là lần đầu tiên ông Powell dám vượt ra ngoài "cái ṿng lễ giáo" của một quân nhân trung thành và rất ngần ngại để chỉ trích cấp trên, nhất là một cách công khai. Nhưng có thể là ḷng ưu tư cho sự an nguy của một quân đội mà ông đă tận tuỵ phục vụ trong hơn 33 năm dài cũng như đă đóng góp không ít trong việc phục hồi lại uy tín và sức mạnh của nó, đă buộc ḷng ông phải lên tiếng khi thấy một vài lănh tụ dân sự dường như không quan tâm và chỉ muốn coi quân đội như là một công cụ cho những toan tính hay thử nghiệm chính trị.

 

Riêng các vị tướng bốn sao đương nằm trong Bộ Tổng Tham Mưu, dĩ nhiên là họ không thể cũng như không dám đưa ra những lời chỉ trích công khai mạnh mẽ như vậy v́ không muốn con đường công danh sớm bị cắt ngang, cho dù họ cũng chia sẻ những lo âu như ông Powell. Nhưng họ cũng đă hé mở cho mọi người biết rằng họ đă tường tŕnh đầy đủ cho TT Bush biết rơ về những diễn biến cũng như hậu quả có thể xảy ra một khi có quyết định tăng viện tạm thời để đổ quân vào Iraq. Nói chung, những lời cảnh báo của họ đều cho rằng việc tăng cường đổ quân thêm vào Iraq sẽ gây ra thêm nhiều vụ tấn công khác của Al-Qaida, cũng như khiến cho quân đội Mỹ dễ làm mục tiêu tấn công cho lực lượng phiến quân nhắm tới, đồng thời cũng dễ rơi vào cái bẫy tuyên truyền của những lực lượng chống Mỹ, có thêm lư do để kêu gọi những phần tử Hồi-giáo cực đoan tiếp tục đổ xô về Iraq để tham dự trong cuộc thánh chiến chống lại "những kẻ xâm lược". Ngụ ư của các vị tướng tư lệnh này là muốn cho công luận biết rơ là họ sẽ không muốn bị đổ trách nhiệm cho một sự thất bại có thể xảy ra trong tương lai. Thật vậy, tuy quân đội chỉ là một công cụ của các nhà lănh đạo chính trị, nhưng khi những diễn biến xảy ra không thuận lợi hay gặp thất bại, nhiều nhà lănh tụ thường không có can đảm nhận tội mà hay đổ lỗi cho việc điều hành bất tài của các vị tướng ở chiến trường. Lần này, các vị tướng lănh Hoa Kỳ muốn cho mọi người biết rơ là nếu như t́nh h́nh tại Iraq có thể đi đến một kết quả thất bại th́ điều này là do quyết định chính trị của các vị chỉ huy dân sự tại Ngũ Giác Đài và Toà Bạch -c đă không nghe theo những lời khuyến cáo quân sự của họ.

 

Nhà báo William Arkin, được coi như là một trong những chuyên gia phân tích về an ninh quốc pḥng và được cung cấp khá nhiều nguồn tin chuyên môn và đặc biệt đáng tin cậy, đă có một cột báo điện tử (blog) thường xuyên của tờ Washington Post. Trong đó ông giải thích và phân tích khá rành mạch về cơ cấu điều hành của quân đội Mỹ để hiểu v́ sao một giải pháp "tăng viện để tiến công" là một điều khó khăn gây nhiều nhức nhối cho các vị tướng lănh trong quân đội.

 

Trong cuộc phỏng vấn bởi kư giả Brit Hume trên đài truyền h́nh Fox News trước ngày rời khỏi chức vụ tổng trưởng quốc pḥng, ông Donald Rumsfeld đă khoe về thành tích của ḿnh là cải tiến cho quân đội Mỹ trở thành một đội quân "nhanh nhẹn hơn và có khả năng viễn chinh hơn" (more agile and more expeditionary). Ai cũng biết và nhiều người cũng muốn đề cao về cái gọi là tham vọng của ông Rumsfeld muốn cách mạng hoá bộ máy của quân đội Mỹ mà ông cho là quá chậm chạp và cồng kềnh, nặng nề nên sẽ không thể đảm nhiệm được trọng trách trong những cuộc chiến tranh bất quy ước trong thế kỷ thứ 21. Nhiều người cũng đă biết rơ v́ tham vọng đó đă khiến ông trở thành gần như ngoan cố, cương quyết không chấp nhận giải pháp dùng một đội quân to lớn cho cuộc chiến tấn công Iraq.

 

Trong cuộc chiến tại Iraq lần đầu vào năm 1991 dưới thời TT Bush Cha, liên minh do Mỹ lănh đạo gồm khoảng nửa triệu quân chỉ để giành cho mục đích đánh đuổi đạo quân xâm lăng của Saddam Hussein ra khỏi lănh thổ Kuwait. Đằng này, trong cuộc tấn công Iraq vào năm 2003, với mục đích lật đổ chế độ Saddam, dẹp tan quân đội Iraq, tiến chiếm toàn thể lănh thổ cũng như b́nh định và tái thiết đất nước theo một mô h́nh dân chủ kiểu mẫu, một sứ mạng rơ ràng là to lớn và nhiều thử thách hơn lúc trước, ông Rumsfeld đă áp lực cho Đại Tướng Tommy Franks phải lập ra một kế hoạch chỉ dùng khoảng 150,000 quân. Ông đưa ra lư do để biện minh cho chiến lược mới này là nếu phải đợi một liên quân đông đảo như lúc trước th́ sẽ tốn kém thời giờ để huy động và thực hiện, đồng thời sẽ mất yếu tố bất ngờ về thời gian tính để có thể đánh bại đối phương. Theo ông, một đạo quân tuy nhỏ nhưng lại tinh nhuệ hơn v́ nhanh nhẹn và được trang bị tối tân hơn, sẽ dư sức hoàn thành nhiệm vụ. Đó là lư do khiến ông và phụ tá Paul Wolfowitz đă bác bỏ và chê bai thậm tệ lời khuyến cáo của Đại tướng Eric Shinseki, Tư lệnh Lục quân lúc bấy giờ, là cần phải có một đạo quân cỡ vài trăm ngàn hiện diện trong nhiều năm trời tại Iraq để thực hiện công tác b́nh định cả một quốc gia rộng lớn như Iraq. Và cũng chính ở điểm này mà sau đó các thầy tṛ của ông Rumsfeld ở Bộ Quốc Pḥng đă bị nhiều giới đồng thanh chỉ trích và coi đó là một trong lỗi lầm thất bại to lớn nhất trong cuộc chiến Iraq.

 

Có lẽ ông Rumsfeld quá tự tin vào sự thành công của Lực Lượng Đặc Biệt tại chiến trường A Phú Hăn, đă nhanh chóng lật đổ được phe cầm quyền Taliban và đánh bật được tổ chức Al-Qaida của Osama bin Laden ra khỏi sào huyệt an toàn tại quốc gia này. Trong cuộc chiến này, mỗi một quân nhân tinh nhuệ được trang bị bởi nhiều chiến cụ tinh vi nhất, và với sự yểm trợ đắc lực của không lực hùng hậu, nên có thể đạt được sức mạnh tương đương như cả một đại đội cơ hữu gồm cả trăm binh lính. Ngoài các vũ khí tối tân, họ mang theo cả máy truyền tin và computer để có thể tính toán, xác định vị trí của địch quân, và từ đó có thể truyền báo ngay lập tức về bộ chỉ huy hành quân để xin các phi tuần đến dội bom chính xác hầu diệt tan nhanh chóng các đơn vị đông đảo địch quân. Chính nhờ ở sự thành công chớp nhoáng này, mà không cần phải đổ bộ nhiều đơn vị bộ binh lên chiến trường khắc nghiệt và đầy rủi ro ở A Phú Hăn, mà ông Rumsfeld đă tuyệt đối tin tưởng vào mô h́nh mới của quân đội Mỹ, cũng như đă thúc đẩy ông nâng cấp Lực Lượng Đặc Biệt lên thành một bộ tư lệnh riêng biệt trong số 9 bộ tư lệnh cấu thành bộ máy quân sự của Hoa Kỳ.

 

Trong t́nh h́nh tại Iraq hiện nay, khi ông Rumsfeld tỏ vẻ khoe khoang về thành tích biến đổi quân lực Hoa Kỳ thành một đạo quân nhanh nhẹn hơn và có khả năng viễn chinh hơn, nhiều người đă nghĩ ngay đến sự xuất hiện hữu hiệu của các toán quân Lực Lượng Đặc Biệt này v́ đây là sở trường của họ: mỗi khi có biến động nào xảy ra tại bất cứ phần đất nào trên thế giới, các toán quân biệt kích này sẽ được thảy vào chiến trường, diệt tan địch quân một cách dễ dàng trước khi rút lui một cách nhanh chóng.

 

Thế nhưng theo lời phân tích của ông Arkin th́ sự việc nhiều khi không đơn giản như nhiều người lầm tưởng. Bộ máy quân sự không phải lúc nào cũng hoạt động nhanh gọn ở bất cứ thời điểm và địa điểm nào như các vị chỉ huy mong muốn, và địch thủ không phải lúc nào cũng lựa chọn chiến trường thích hợp cho sở trường của ta. Hơn thế nữa, cơ cấu điều hành của quân đội Mỹ cũng không đơn giản. Ngay cả trong đạo quân to lớn hiện nay (khoảng 140,000 người) hiện diện hay có thể được bổ sung vào chiến trường Iraq, chỉ có một số nhỏ có thể được coi có là có khả năng viễn chinh là các toán quân thuộc Lực Lượng Đặc Biệt, và ngay cả trong thành phần này, cũng chỉ có một thiểu số nhỏ hơn nữa là những chiến binh cầm súng để giao chiến thực sự với kẻ thù tại chiến trường. Lực lượng này, theo ngôn ngữ trong quân đội Mỹ, được gọi là bộ răng (the teeth) có trọng trách chiến đấu thực sự. Phần c̣n lại, đông đảo hơn nhiều, gọi là cái đuôi (the tail), giữ nhiệm vụ quan trọng không kém là hỗ trợ và tiếp tế. Các đội quân cơ hữu hay viễn chinh của Hoa Kỳ, từ bộ binh hay thuỷ quân lục chiến, đều đ̣i hỏi một bộ máy khổng lồ về tiếp liệu và yểm trợ: một lực lượng hùng mạnh bên không quân để không kích, hoặc giải cứu và tải thương, một lực lượng hải quân túc trực gần đó để hỗ trợ bằng các đợt phóng phi đạn tấn công, và một lô những lực lượng liên hệ khác đảm nhiệm các công tác từ truyền tin, quân y, tiếp tế đạn dược, xăng nhớt, ăn uống và cả các môn giải trí đầy đủ. Có lẽ trên thế giới này chỉ có quân nhân Mỹ, dù tham dự ở chiến trường khốc liệt như ở Iraq, vẫn có đầy đủ tiêu chuẩn ăn uống ngon lành, được tắm nước nóng và c̣n được bộ chỉ huy lo lắng đầy đủ để gắn hệ thống satellite chiếu các trận đá banh lớn như Super Bowl. Chẳng thế mà các quân nhân Mỹ ngày nay đă được gọi là lính nhà giầu cũng là điều không sai. Những ai đă từng tham chiến trong chiến trường tại Việt Nam lúc trước bên cạnh các lực lượng của quân đội Mỹ đều thấy rơ sự cách biệt to lớn giữa hai tiêu chuẩn của quân đội Mỹ giầu có và đầy đủ với quân đội Việt Nam Cộng Hoà, nghèo đói và thiếu thốn hơn nhiều.

 

V́ lẽ đó mà các đạo quân của Hoa Kỳ không có khả năng tiến công và rút lui khỏi chiến trường một cách mau lẹ như nhiều người lầm tưởng. Hơn nữa, cuộc chiến tại Iraq đă bước vào giai đoạn du kích chiến từ lâu, đ̣i hỏi sự có mặt của các chiến binh phải hiện diện mỗi ngày trên các đường phố, hoặc tảo thanh trên nhiều ngơ ngách để truy lùng những kẻ thù không lộ h́nh dễ dàng, lại trà trộn trong nhiều tầng lớp dân chúng, vốn đă không c̣n một chút thiện cảm nào với đội quân chiếm đóng. Nó không c̣n là một cuộc chiến tranh quy ước, với các toán địch quân đối đầu một cách công khai để cho quân đội Mỹ có thể dùng sở trường về hoả lực dồi dào của pháo binh và không quân đè bẹp.

 

Thật ra đă từ lâu rồi, các vị tướng lănh tư lệnh ở chiến trường cũng đă nh́n ra nhu cầu cần phải có một lực lượng quân nhân đông đảo hơn để dễ dàng đảm nhận công tác mà họ được giao phó, nhất là sau ngày TT Bush tuyên bố "Sứ Mạng Thành Công" (Mission Accomplished) vào đầu tháng 5 năm 2003. V́ ở thời điểm đó, các chiến dịch hành quân lớn coi như đă chấm dứt, chế độ Saddam bị lật đổ và các đạo quân của Iraq bị tan ră, vấn đề chỉ c̣n là việc tảo thanh để tiễu trừ tất cả các thành phần phiến quân trong chiến dịch b́nh đ́nh và tái thiết. Nhưng những khó khăn lúc ban đầu với các vụ gài bom nội hoá lẻ tẻ đă dần dần lan rộng cùng với các vụ nổ bom tự sát khác đă khiến cho quân đội Mỹ phải tiếp tục bị thiệt hại và vẫn c̣n lúng túng cho đến ngày nay nhưng vẫn chưa t́m ra một lối thoát khả quan. Nhưng tất cả những lời thỉnh cầu đôn quân đều đă bị ém nhẹm một cách gián tiếp, cho dù là các vị chỉ huy dân sự của họ như Tổng trưởng Rumsfeld và TT Bush lúc nào cũng nói rằng họ sẵn sàng lắng nghe tiếng nói của vị tướng này.

 

 

Điều thực tế là các lời thỉnh cầu của các vị tướng ở chiến trường đều gặp phải những lời cản ngăn gián tiếp từ Bộ Tổng Tham Mưu cho biết là cấp chỉ huy dân sự của họ, từ TT Bush, cho tới PTT Cheney và tổng trưởng Rumsfeld đều không mấy hào hứng ǵ lắm để duyệt xét các lời thỉnh cầu này. V́ nhiều lư do và áp lực chính trị khác nhau, việc chấp nhận đôn quân sau khi đă tuyên bố "sứ mạng hoàn thành" cũng như đă chối bỏ lời khuyến cáo lúc trước là phải có một đạo quân lớn hàng trăm ngàn quân nhân, sẽ mặc nhiên là lời thú nhận về sai lầm của các nhà lănh đạo. Mà điều này lại là điều tối kỵ cho TT Bush và bộ máy tuyên truyền của Bạch Cung, lúc nào cũng muốn đánh bóng cho h́nh ảnh "cương quyết" của một vị lănh tụ thời chiến. Trong suy nghĩ của họ, việc thú nhận những lỗi lầm được đồng nghĩa như là một thái độ lưng chừng, không dứt khoát, và như thế khó có hy vọng thuyết phục được nhiều thành phần cử tri trong nước để tiếp tục ủng hộ chính quyền Bush. Hơn nữa, họ lo sợ rằng nếu có lên tiếng chấp nhận sai lầm th́ lại càng tiếp sức cho phe đối lập và những thành phần phản chiến có thêm dữ kiện xác đáng để tấn công chỉ trích tiếp, một điều họ không thể nào chấp nhận được v́ sợ thất bại trong cuộc tranh cử ngang ngửa vào năm 2004, và măi cho đến gần ngày bầu cử năm 2006, họ vẫn c̣n cương quyết cho rằng nếu có những sai lầm th́ chỉ là về mặt chiến thuật, nhưng trên b́nh diện chiến lược to lớn hơn, cuộc chiến tại Iraq vẫn sẽ đem lại thành công tất thắng.

 

Hiện tượng không bao giờ chịu nh́n nhận lỗi lầm vẫn c̣n hiện hữu cho đến ngày nay, cho dù là uỷ ban lưỡng đảng nghiên cứu cho một lối thoát tại Iraq do hai ông Baker và Hamilton đồng lănh đạo đă gián tiếp công nhận là chính sách của TT Bush đă thất bại và t́nh h́nh tại Iraq đang đi dần vào chỗ nghiêm trọng và tồi tệ hơn. Bởi v́ cho dù đă phải cách chức ông Rumsfeld, một biểu tượng điển h́nh cho những thất bại và khó khăn hiện nay tại Iraq, sau ngày kết quả bầu cử đầu tháng 11 vừa qua đă rơ ràng, các ông Bush và Cheney vẫn tiếp tục đề cao quá đáng thành quả của ông Rumsfeld mà không biết ngượng. Thật vậy trong buỗi lễ tiễn đưa ông Rumsfeld rời khỏi chức vụ, với lễ nghi quân cách trang trọng bằng một hàng dàn chào với đầy đủ quốc quân kỳ, kèm theo tiếng nổ của 19 khẩu thần công đại bác, ông đă được hội ngộ và khen ngợi bởi nhiều phụ tá như phó tổng trưởng Paul Wolfowitz, thứ trưởng Douglas Feith, những người đă cùng ông tạo ra chiến dịch đẩy đưa Hoa Kỳ vào cơn sa lầy khốn đốn hiện nay. Tệ hơn hết có lẽ là lời khen ngợi đặc biệt của ông Cheney: "Ông Rumsfeld là một vị tổng trưởng quốc pḥng xuấtsắcnhấtcủa Hoa Kỳ, từ trước tới nay Chưa Bao Giờ Có Được!" (The Greatest Secretary of Defense, EVER!). Lời khen này đă khiến cho nhà báo Thomas Friedman, một bỉnh bút gia uy tín của tờ New York Times đă phải chua chát nhận định khá thực tế rằng: "Có lẽ rằng TT Bush là một trong những người ngu ngốc nhất v́ đă cách chức một vị tổng trưởng xuất sắc nhất ngay giữa trong thời chiến. Hoặc là PTT Cheney là một kẻ nói dối ngông nhất, Chưa Bao Giờ Có Được."

 

Trong cuộc điều trần mới đây tại Thượng Viện để được chuẩn thuận vào chức vụ tổng trưởng quốc pḥng, ông Robert Gates đă được nhiều người ủng hộ và khâm phục về đức tính can đảm dám nh́n nhận sự thật khi ông cho rằng "chúng ta (Hoa Kỳ) hiện nay không chiến thắng tại Iraq" (We are not winning). V́ lời nói này đi ngược lại với những ǵ mà TT Bush đă từng hô hào trước đây. Hồi đầu năm 2006, Toà Bạch -c đă sửa soạn kỹ lưỡng để tŕnh làng nhiều bài diễn văn của ông Bush trong một kế hoạch rộng lớn gọi là "Kế Hoạch Vinh Quang" (Plan of Victory). Thậm chí cho đến tháng Mười vừa rồi, trong những dịp đi vận động cho các ứng viên bên đảng Cộng Hoà, TT Bush vẫn c̣n mạnh miệng nói rằng "chắc chắn là chúng ta sẽ thắng, chúng ta đang chiến thắng đây." Sau đó ông Tony Snow, phát ngôn viên tại Bạch Cung, đă phải lúng túng để bào chữa cho sự khác biệt rơ rệt về nhận định giữa ông Gates và TT Bush. Sau này, Đại Tướng Pace, Tổng Tham Mưu Trưởng, đưa ra nhận định theo kiểu nước đôi: "Chúng ta không thắng, nhưng cũng không thua." (We are not winning, but we are not losing either.) TT Bush liền chụp lấy cơ hội này để từ đó biện minh rằng những lời nhận định của ông cũng không hẳn hoàn toàn sai sự thật.

 

Mới đây, ông Gates đă tuyên bố: "Thất bại tại Iraq vào thời điểm này là một tai hoạ to lớn. Nó sẽ ám ảnh đất nước chúng ta, làm thui chột đi uy tín của Hoa Kỳ, cũng như đem lại sự nguy hiểm cho người dân Mỹ trong nhiều thập niên tới." Tuy nhiên, theo lời nhận định và phân tích của nhà báo William Arkin th́ Hoa Kỳ đă thật sự thất bại rồi tại chiến trường ở Iraq. Chỉ cần nh́n kỹ vào những hồ sơ sau đây th́ ông tổng trưởng quốc pḥng cũng có thể thẩm định được một cách khách quan rằng phải chăng Hoa Kỳ đă gặp thất bại:

 

* Huấn luyện quân đội Iraq để khi họ đủ sức mạnh đứng lên th́ quân đội Mỹ có thể đi xuống: Thật ra th́ quân đội Mỹ đă nỗ lực công tác này từ gần ba năm qua rồi, chứ không phải đợi đến giờ này mới bắt đầu bàn đến. Khởi đi từ năm 2004, một Bộ Tư lệnh Liên minh để Chuyển giao An ninh (Multi-National Security Transition Command) do Trung tướng Dave Petraeus cầm đầu đă thực hiện việc huấn luyện cho một đạo quân của Iraq có thể tự lập và đảm nhận vai tṛ giữ ǵn an ninh cho quốc gia. Những con số đă được đưa ra về những tiểu đoàn, rồi trung đoàn được nâng cấp I, cấp II v.v... về mức độ có thể tự chiến đấu mà không cần sự sát cánh của quân đội Mỹ. Để rồi sau đó mới khám phá rằng có những tiểu đoàn có đến hơn phân nửa đào ngũ thay v́ theo lệnh đến tấn công vào các nơi cùng giáo phái với họ.

 

* Quân đội và lực lượng cảnh sát tại Iraq, những thành phần chủ lực để bảo vệ an ninh, cho đến ngày hôm nay vẫn chưa có thể gọi là một lực lượng chuyên nghiệp, không đảng phái. Tệ hơn nữa, những thành phần này, c̣n lợi dụng các chương tŕnh huấn luyện của quân đội Mỹ để được cung cấp thêm phương tiện và chiến cụ và để dành nó như là kho vũ khí riêng để đối phó với các toán dân quân khác giáo phái. Thật ra, điều này cũng không có ǵ khó hiểu, v́ nó chỉ phản ảnh bộ mặt thật của xă hội Iraq ngày nay: hỗn loạn, vô tổ chức, tham nhũng và chia rẽ v́ giáo phái. Không ai chịu nghĩ đến quyền lợi chung của một nước Iraq mà chỉ lo lắng thật sự đến quyền lợi của giáo phái ḿnh có thể sẽ bị tấn công bất cứ lúc nào bởi các toán dân quân của giáo phái khác. Cái không khí nghi kỵ đó vẫn c̣n bao trùm trong nhiều tầng lớp dân quân tại Iraq ngày nay.

 

* Quân đội Mỹ vẫn c̣n gặp nhiều khó khăn, nhất là đă phải trải qua một cuộc chiến khó khăn kéo dài lâu nhất từ hơn 30 năm qua: Không chóng th́ chầy, các toán quân bị đưa vào chiến trường Iraq đến vài lần trong ṿng bốn năm qua cũng phải cảm thấy chán nản hay mệt mỏi, hết c̣n tin tưởng vào chính nghĩa của cuộc chiến, cũng như không c̣n thực sự quan tâm đến ǵ sẽ xảy ra cho Iraq. Đến ngay cả việc tuyển mộ nhiều thông dịch viên hay các chuyên viên am tường về văn hoá Ả Rập và Hồi-giáo, Hoa Kỳ vẫn c̣n quá nhiều thiếu sót trầm trọng th́ nói ǵ đến mục tiêu thu phục nhân tâm (winning the hearts and minds) của người Iraq để mong đạt được một giải pháp khả quan trong lâu dài.

 

* Việc bổ sung các cố vấn Mỹ đi kèm với các đơn vị lính Iraq (embedding) chỉ tổ đem lại những hậu quả tai hại. Bởi v́ trong thực tế, tuy mang danh là thuộc vào quân đội của Iraq, nhưng các binh lính thường vẫn trung thành để bảo vệ cho giáo phái riêng của ḿnh nhiều hơn thay v́ cho tổ quốc Iraq, một khái niệm chưa ăn sâu vào tâm năo của đa số. Trong bối cảnh đó, các sĩ quan cố vấn Mỹ nhiều khi sẽ vô t́nh tiếp tay cho các vụ bắn giết lẫn nhau giữa các toán dân quân Iraq, và điều này chắc chắn sẽ đi ngược lại tôn chỉ và sứ mạng của quân đội Mỹ.

 

Vấn đề chính hiện nay cần giải quyết vẫn là t́m ra một giải pháp chính trị, và phải để cho người Iraq giải quyết chuyện nội bộ trước khi nói đến chuyện tiếp tay của quân đội Mỹ. Dĩ nhiên chuyện giải quyết nội bộ của Iraq cũng không hứa hẹn một viễn tượng êm thắm, nhiều phần là dẫn đến nội chiến, bạo loạn tiếp tục. Cho dù có không hài ḷng lắm th́ quân đội Mỹ cũng không làm được ǵ trong t́nh huống đó, cũng như không t́m ra được một chọn lựa nào ưng ư hơn.

 

TT Bush và Đại Tướng Pace, tổng tham mưu trưởng quân lực, th́ cố biện minh rằng thật ra Hoa Kỳ tuy không thắng, nhưng cũng chưa thể gọi là thua. Đây cũng chỉ là một h́nh thức tránh né và nguỵ biện vụng về. Nếu như TT Bush có can đảm và ḷng ngay thẳng của một chính trị gia, và nếu như Đại Tướng Pace có liêm sỉ và danh dự của một dũng tướng, cho dù ông đang đeo 4 sao trên cổ áo, các ông phải thấy xấu hổ cho thành tích của quân đội Mỹ. Với một đạo quân khoảng 140,000 quân trú đóng tại Iraq trong gần 4 năm qua, với sức mạnh khống chế của hải, lục, không quân tối tân và những chiến cụ tinh vi như oanh tạc cơ tàng h́nh B2, các loại bom tinh khôn hay phi đạn b́nh phi Tomahawk, với các chiến đoàn thiết giáp tinh nhuệ gồm xe tăng Abrams, Stryker, Humvee, với một kinh phí khổng lồ khoảng từ 5 tới 8 tỷ Mỹ-kim cho một tháng, nhưng rồi cho đến ngày nay đạo quân hùng mạnh đó vẫn chưa diệt gọn được các nhóm tàn quân phiến loạn, những thành phần mạt lộ (dead-enders) như lời ông Rumsfeld dè biểu, để đến nỗi ngày nay vẫn c̣n phải bị ám ảnh bởi những vụ ôm bom tự sát, những vụ gài ḿn được gọi một cách huê dạng là IED (improvised explosive device) mà thực chất chỉ là những loại ḿn nội hoá do những thành phần mạt lộ trốn chui trốn nhủi đó đă tiếp tục sáng chế và sản xuất dài dài trong thời gian qua.

 

Nếu không gọi là thất bại th́ không biết có phải gọi bằng từ ngữ tránh né nào khác nữa hay chăng?

 

Mai Loan

Houston, Texas 26-12-2006

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHÍNH NGHĨA 

 

   

Chính Nghĩa Tự Có Tính Thuyết Phục - Nhân Nghĩa Tự Có Tính Cảm Hoá