CHÍNH NGHĨA

 

DIỄN HÀNH VĂN HÓA QUỐC TẾ TẠI NEW YORK

Đặc biệt trong lần diễn hành này, Tổ Chức International Immigrants Foundation chọn một cô gái Việt Nam làm xướng ngôn viên chính thức. Mấy ngày trước cuộc diễn hành, cô Nguyễn Kim Ảnh đă thổ lộ tâm t́nh qua cuộc phỏng vấn do phóng viên Hoàng Lan Chi  thực hiện trên làn sóng của đài phát thanh Việt Nam Hải Ngoại.>>>>>

Vietnam's  ‘Lost Commandos’ Gain Recognition in Senate 19 -6- 1996                                      New York Times

 

 

 

 

 

 

Chính Nghĩa Tự Có Tính Thuyết Phục - Nhân Nghĩa Tự Có Tính Cảm Hoá

Thanh và tục

trong văn chương

 

Hoàng Long Hải

 

Tự biện:

Qua một người bạn, tôi mượn Hợp Lưu 8 & 9/97 về đọc, mà mượn những hai lần, đọc 2 lần, cũng chỉ những bài nói về thanh và tục. Tôi thấy một điều, các tác giả như Phạm Triệu Luật, Đỗ Kh. Ngô nhật Tân, v.v... nói những điều chưa trúng với ư tôi, nên tôi phải viết, dù là trễ, “Trễ c̣n hơn không”. Đó là tục ngữ.

Cái ǵ là tục? Lời nói tục hay hành động tục?

Có hành động tục mới có lời nói tục bởi v́ lời nói là phương tiện biểu thị, truyền thông hành động. Nhưng hành động nào là tục: “Ăn, ngủ, đụ, ỉa” là tứ khoái mà cũng là hoạt động tối cần thiết của con người ta. Giá trị hành động đều như nhau bởi v́ không có những hành động đó th́ không c̣n con người, không c̣n nhân loại, sao gọi là tục?

“Til death do us part” - Bobby Doran

Trên Bách Khoa, lâu lắm, trước Tết Mậu Thân, tôi có đọc một bài của ông Bùi Bạt Tụy (BBT), nói về một vài phong tục cổ ở một vài địa phương. Theo ông BBT, ở B́nh Định (hay Phú Yên, khoảng đó, tôi không chắc) có một làng chài thờ trong một cái hang đá hai cái vật bằng đá. Nói theo BBT th́ hai cái này là hai cái sinh thực khí của đàn bà và đàn ông. Mỗi năm, đến ngày lễ rước, th́ người đầu làng (Ông tiên chỉ), cầm cái của người đàn bà đưa lên cao, rồi cầm cái của người đàn ông, thọc qua thọc lại cái lổ nơi cái của người đàn bà, rồi đọc rằng: “Cái sự làm sao. Cái sự làm vầy. Cái sự làm vầy, cái sự làm sao”. Sự làm vầy là sự trời đất sinh ra nó làm vậy. Có ǵ mà phải thắc mắc. Có người cho rằng làng đó thờ “Dâm thần”. Nói thế chưa chắc đă đúng. Dẫu có đúng th́ việc thờ cúng đó có sai chăng? Không có ai cho dâm là bậy, kể cả Phật, khác là ở “Chánh dâm” hay “Tà dâm”. 

Ai dám nói chữ dâm là chữ bậy,

Nếu không dâm sao nảy ra hiền. 

Như cô Kiều, một đời khổ v́ chữ dâm. V́ cô Kiều dâm hay v́ người ta muốn dâm với cô? Nguyễn Công Trứ th́ cho rằng cô ta tà dâm: “Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm”. Thế khi Nguyễn Du viết truyện Kiều, mà như một số nhà phê b́nh hay viết sách giáo khoa về Kiều, th́ cho rằng Nguyễn Du gởi gắm tâm sự vào cô Kiều, không lư Nguyễn Du lại tạo ra một nàng Kiều đa dâm, tà dâm để gởi tâm sự vào chỗ dâm đó. Tôi nghĩ đó không phải là ư cụ Nguyễn. Ở thời đại của ông, tả nàng Kiều khi tắm, “Dày dầy sẵn đúc một ṭa thiên nhiên” hay “Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề.” Thế cũng là tiên phong, là quá lắm rồi.

Vấn đề, cho đến thế hệ chúng ta hôm nay, không phải là có tục hay không có tục trong văn chương. Kẻ nói nên có, kẻ nói nên không. Không ai giống ư ai. Tôi th́ cho rằng phải “chính danh”: 

“Quân quân, Thần thần, Phụ phụ, Tử tử”. 

Không phải tôi muốn đem đạo lư ông Thánh Khổng mà giảng ở đây, nhưng theo Khổng Tử, qua câu nói trên, ta thấy một ư hay lắm. Cái ư đó là: “Cái ǵ ra cái đó.” Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con. Mỗi con người, mỗi hành vi, mỗi lời nói, trong trường hợp nào th́ phải làm cho đúng với cái hoàn cảnh, trường hợp đó. Lộn xộn là không được.

Trong văn chương, cũng thế thôi. Khi nào tục, khi nào thanh, người nào tục, người nào thanh, lời ai nói là tục, lời ai nói là thanh, phải đúng cho từng người, từng trường hợp. Cái hay cái dở là tại ta làm lộn tùng phèo. 

Khi Nguyễn Du viết truyện Kiều, ông đâu có nghĩ là sau này đưa vào giáo khoa. Cho nên khi Kiều vào trong trường học rồi th́ ư kiến rất đối chọi nhau:

Linh mục Sảng Đ́nh Nguyễn Văn Thích, năm 1956, trong một dịp “Kỷ Niệm Nguyễn Du” tổ chức ở rạp Ciné Morin Huế, ông đăng đàn gay gắt lên án việc cho học tṛ học Kiều. Đó là một “dâm thư” (nguyên văn). Ông dẫn chứng ngay trong Kiều; “Phong t́nh cổ lục c̣n truyền sử xanh” Rơ ràng là truyện phong t́nh, không nên cho học tṛ học. Các giáo sư khác, như ông Lê Hữu Mục, dĩ nhiên ư kiến ngược lại, bởi mấy ông này cho rằng linh mục Thích là một hủ nho chăng?

Dâm thư là v́ nó tục, là v́ tả chuyện yêu đương giữa Kiều và Kim Trọng, Kiều vào lầu xanh, Kiều tắm, Kiều chơi bời “Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề.”

Vấn đề không phải ở chỗ truyện Kiều có là dâm thư hay không mà vấn đề là có nên cho học tṛ Trung Học (13, 14, 15 tuổi, lớp Đệ Tứ bấy giờ) học truyện Kiều hay không? Đừng đem tuổi trẻ ngày nay mà nói chuyện ngày đó. Ngày đó, thập niên 50, con gái, mà lại là con gái Huế, những đứa con gái mà cha mẹ luôn luôn dạy rằng “Giấy rách phải giữ lấy lề”, phải giữ “Nếp nhà”, phải giữ “Gia Phong” th́ có nên cho chúng nó học Kiều hay không. Không gian ấy, thời gian ấy, con người ấy, xă hội ấy, phong tục ấy, đọc “Dâm thư”, học “Dâm thư” là nên hay không nên?

Quan điểm đó c̣n rộng hơn quan điểm xưa: 

Đàn ông chớ đọc Phan Trần

Đàn bà chớ đọc Thúy Vân Thúy Kiều.

 

Bây giờ chúng ta mới đặt vấn đề Thanh và Tục trong văn chương là quá trễ. Ca dao, tục ngữ không phải là văn chương đó sao. Vậy mà từ lâu lắm, trong ca dao, tục ngữ đă có những câu tục, chữ tục:

 

Ba cô xuống tắm dưới khe,

Một cô thóc thách bẻ que đo lồn.

 

Chữ thóc thách (tiếng địa phương Trị Thiên) dùng ở đây là hay lắm. Thóc thách có nghĩa là ṭ ṃ, nghịch ngợm. Có lẽ ba cô này vừa mới lớn, vừa tuổi dậy th́, lông lồn vừa mới nhú, lồn vừa mới nở. Cái đó làm cho cô ta ngứa ngáy, thắc mắc, suy nghĩ. Và lại có tánh nghịch ngợm, muốn bẻ que đo thử nó dài ngắn ra làm sao để đối chiếu, so sánh với những ǵ cô đă nghe, đă thấy.

Một câu khác:

Đối ra:

Lồn vàng, bẹn ngọc, đóc san hô

Đối lại:

Cặc ngọc, dái ngà, da hủ tiếu.

Đối như thế là hay, là chỉnh. Văn chương như thế c̣n chê nỗi ǵ?

Hoặc là một câu than khá hay mà tôi đă nghe ḥ từ lúc 5, 7 tuổi:

Than rằng cặc một đái (dái) đôi,

Cặc đi ăn trộm đái ngồi giữ triêng

 

(Thổ âm Trị Thiên th́ dái gọi là đái. Triêng là đ̣n gánh và gióng, thúng mũng. Đ̣n triêng là đ̣n gánh. Cho tới bây giờ, tôi cũng không hiểu câu này nói ǵ. Một câu nói tục cho vui v́ cặc than ḿnh cô đơn (cặc một). Cặc đi ăn trộm là đi đâu, ăn trộm cái ǵ?

Ở quê tôi có tục ngày mùa, đêm trăng, thường tổ chức giả gạo, hai phe trai gái hai bên ḥ đối đáp qua lại. Ai ḥ hay, đối hay th́ có thưởng. Đề bài ḥ là do những người giàu có, phú hộ trong làng ra cho.

Có ông phú hộ, ỷ ḿnh có tiền, ra câu đố. “Này, hăy ḥ theo đề của bác. Bác sẽ thưởng.

Đề bác ra là thế này: “Cặc”.

Ai cũng tưởng thế là mấy cô bí ḥ.

Thế nhưng có cô gái vừa đưa chày lên giả gạo, vừa cất giọng ḥ:

“Bác ơi.

Cháu là phận tử phận tôn.

Bác có con cặc của bác

th́ cháu có cái lồn của cháu đây.”

Đối đáp như thế cũng là tuyệt. Nếu bác có cặc th́ cháu có lồn, dĩ nhiên. Và nếu như bác nói tục với cháu trước đám đông, tức là không tôn trọng cháu th́ làm sao cháu trọng bác được.

Ở đây, ta thấy nảy sinh một vấn đề. Nói tục với người khác, nhất là giữa chốn đông người là không tôn trọng họ. Đó là phong tục của người Việt ta.

Vậy ta nên nói tục lúc nào. Và có cần phải nói tục hay không?

Tôi nghĩ là cần.

Nói tục, nhất là chưởi tục là biểu lộ một tâm lư. Thường th́ v́ giận giữ, tức bực một việc ǵ đó. Ngay mấy ông tổng thống Mỹ, theo một tài liệu của BBT, có biết bao nhiêu ông Tổng Thống, bao nhiêu lần chưởi kẻ khác là “Son of bitch” th́ việc người Việt ḿnh chưỡi “đụ mẹ” hay “đụ má” là chuyện thường.

Nói lời nói dâm, viết dâm người ta cũng cho là một sự ẩn ức về tâm lư. Có biết bao nhiêu sách giáo khoa cho rằng bà Hồ Xuân Hương làm thơ dâm cũng bởi ẩn ức tâm lư như thế đó. Bà làm bé ông Phủ Vĩnh Tường, ông Tổng Cóc và v́ làm bé nên không thỏa cái dâm chăng? Viết dâm như thế cũng là chuyện tâm lư thường t́nh. Vấn đề là viết dâm để câu khách, viết dâm để bán sách cho chạy. Cái việc như thế là không đứng đắn. Đó là sự buôn bán. Lợi dụng văn chương để buôn bán kiếm lợi tức là việc mà tôi không muốn bàn ở đây.

Sau Mậu Thân, buồn t́nh v́ cảnh tang thương ở Huế, tôi bỏ dạy, tự động tŕnh diện nhập ngủ. Cùng khóa với tôi có cả chục anh học tṛ của tôi. Thầy tṛ cùng nhập ngũ. Cũng vui. Một hôm, chủ nhật, có anh học tṛ tới kêu tôi ra nhà thăm nuôi chơi với anh ta. Bố anh vừa đến thăm. Sau khi giới thiệu đâu đó xong xuôi, tôi ngồi nói chuyện chơi với hai bố con anh ấy. Ông bố nói với tôi.

- “Thầy giáo đi lính mà như thầy th́ hỏng, là không chỉ huy được lính. Ra tới đơn vị, lính nó hỏi nhau cái ǵ thầy biết không: “Ông chuẩn úy mới ra trường này có biết uống rượu không hay chỉ là “sữa nước sôi.” Ông có biết chưởi thề không. Biết chưởi thề, biết uống rượu mới chỉ huy được chúng. Lính thời chiến là vậy, khác xa với lính thời b́nh”.

Tôi biết chửi thề, biết uống rượu từ đó. Không biết chửi thề, nói tục, uống rượu là không chỉ huy được lính, nhất là lính tác chiến. Không làm vậy làm sao chỉ huy lính tấn công “vô mục tiêu” địch? Cho nên việc nói tục, chửi tục, trong một số trường hợp là sự thực của đời, là cần thiết. Làm văn nghệ là tả chân, là tả sự thực. Sự thực có người như thế này, như thế khác, phải tả sao cho đúng với con người ấy, tâm lư ấy, học hành ấy, tư cách ấy. Không lư Chí Phèo lại không biết nói tục hay một người khi c̣n sống trong cảnh kín cổng cao tường như Kiều đă biết nói tục? Kiều, khi c̣n ở với cha mẹ, đi chơi thanh minh là một cô Kiều khác, mà khi đă lưu lạc rồi, “thanh lâu hai lượt thanh y hai lần” rồi th́ phải khác chứ.

Một vấn đề nữa. Ai đọc những cái viết tục đó?

Cái đó tùy sự lựa chọn của độc giả. Phim Titanic th́ cũng có người cho trẻ em xem nhưng những phim action chưởi thề tùm lum th́ chỉ nên để người lớn xem mà thôi. Những phim như thế, trước khi vào phim, trên màn ảnh bao giờ cũng có lời khuyến cáo khán giả. Không lẽ sợ trẻ con xem những truyện ấy mà cấm kỵ hay lên án người viết tục?

Có người cho rằng viết tục nói tục là kém văn hóa, kém tác phong. Nói thế là không đúng. Viết là phản ảnh sự sống, không phải viết theo kiểu thời thượng, học mót Âu Mỹ, kiểu theo đuôi Fracoise Sagan, Bonjour Tristesse hay La nausée mà một thời các nhà văn Sài G̣n bắt chước để chứng tỏ ta đây cũng rành Tây tà. Viết thế chẳng ích ǵ. Cuối cùng cũng chẳng c̣n lại ǵ, chẳng ai nhắc nhở.

C̣n “Văn dĩ tải đạo?”

Tải đạo hay không là do ở nội dung tác phẩm, ở tâm lư hành động của nhân vật, không phải chỉ ở lời họ nói ra. Năm 1984, sau khi đi cải tạo về, dính vào một vụ vượt biên bị bể, tôi phải trốn ở góc lầu một nhà người quen ở đường Trương Minh Kư. Sát tầng dưới là nhà của ông giám đốc Thông Tấn Xă VN (của Việt Cọng, dĩ nhiên). Chiều chiều, ông đi làm về, bắt ghế ngồi trước cửa đọc báo. Một hôm, có hai người đàn bà Bắc chưởi lộn nhau, “bài bản” nghe hay lắm. Nhưng điều đó làm phiền tai ông. Thấy tôi đi về ngang qua, ông giám đốc mắng họ là “thiếu văn hóa” (và cũng để cho tôi nghe - ông biết tôi là người chế độ cũ) - để tôi biết rằng ông là người có văn hóa.

Sau đó một thời gian ngắn, ông bị ngưng chức v́ một vụ tham nhũng. Tôi tự hỏi: Hai người đàn bà chưởi tục và ông giám đốc ăn hối lộ bị ngưng chức kia, ai là người có văn hóa và ai là người thiếu văn hóa?

V́ vậy, một tác phẩm tải đạo không phải là một tác phẩm không nói tục như ông giám đốc mà nhiều khi nó lại là một tác phẩm không biết ăn hối lộ như hai người đàn bà kia. Thực ra, cái không tục để khoe ta đây là có văn hóa chẳng qua là đạo đức giả. Chúng ta ai cũng đă từng gặp những người lúc nào cũng cố làm ra vẻ ta đây là người đứng đắn, không nói tục, không chưởi thề, giữ ǵn tác phong nghiêm túc. Trong khi, thực ra, họ rất bê bối. Đó là bọn đạo đức giả.

Hơn ba mươi năm trước, Thế Uyên viết truyện dài “Tiền Đồn”, trong đó, ông có “sáng tác” câu thơ:

“Quan to súng lớn bề bề,

Thần lồn ám ảnh cũng mê mẩn đời.

Nhiều người chê như thế là viết tục. Tục là bởi ông viết lên báo (Bách Khoa) có nhiều người đọc. Nhưng đó không phải là trong thực tế đời sống hay sao? U Vương nhà Châu mê Bao Tự mà mất nước là chỉ v́ Bao Tự đẹp mà thôi sao? Trịnh Sâm mê Đặng Thị Huệ, chỉ v́ Huệ đẹp mà thôi sao? Thế không phải v́ mê “cái ấy” sao? Nói thế là chưa đủ. Theo sách tướng, đàn bà có 72 tướng dâm nhưng có tướng dâm làm cho đàn ông nên sự nghiệp, như hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh lông lồn dài tới đầu gối nên dựng được nghiệp đế cho chồng là Hán Cao tổ. Nhưng dâm và tục là hai cái rất “bà con” với nhau.

Coi phim sex, nói tục, chửi thề, uống rượu là chuyện thường. Thói nói tục đă có từ ngàn xưa, trong thực tế đời sống và trong văn chương. Vấn đề là nơi chốn, thời điểm, độc giả, thính giả của sự phô diễn sao cho phù hợp mà thôi.

Trước Mậu thân vài năm, giám học trường tôi dạy, cụ LT- là một ông cụ già sắp về hưu, một nhà giáo nổi tiếng ở Huế. Ông chọn tôi làm phụ tá cho ông để giải quyết những việc cấp bách, nhất là những khi ông vắng mặt. Trong số bạn đồng nghiệp với tôi, cũng có vài người giỏi hơn tôi nhưng xem ra không được ông cụ ưa lắm v́ so với họ, tôi “ngoan” hơn. Ngoan là v́ ông biểu sao tôi làm vậy, không bày tỏ ư kiến ngược ông mà nhiều khi tôi rất muốn. Dạy với ông gần mười năm, ông biết tính tôi. Với lại, không biết sao, ông rất tin tôi. Trong khi làm việc, ông rất nghiêm túc. Tuy nhiên, có những lúc v́ công việc, đă cuối giờ học, trường lớp đóng cửa, ông c̣n lui hui, tôi ở lại làm việc với ông. Những khi đó, ông thường đem chuyện vài người có danh vọng lớn ở Huế ra để chê bai. Ông hay dùng những chữ tục - tuy không tục lắm - để đă kích họ. Tiếng ông thường chê họ là: “Thứ xái ḅ ǵ!”. “Nó là cái thứ xái ḅ ǵ!” Thời ấy, những thứ “xái ḅ” ông ta nói đang “hét ra lửa” ở Huế, đang có chức cao quyền trọng. Tuy nhiên, cũng có người hay chê ông - Tôi “méc” lại chuyện “xái ḅ” với bạn đồng nghiệp và chúng tôi cười với nhau. Đằng sau cái nghiêm túc của ông mà lắm khi ông đă rầy chúng tôi thiếu nghiêm túc nên chúng tôi ít ai ưa ông, nhất là chúng tôi phần đông c̣n trẻ. Nghe chuyện, có anh bạn tôi bắt chước giọng nói của ông, đùa: “Các anh phải ăn mặc cho đàng hoàng, luôn luôn thắt cà vạt - qui tắc của trường khi vào lớp, giáo sư phải thắt cà-vạt - đi ỉa mới được tháo cà vạt ra nghe chưa!” Chúng tôi cười vui v́ câu nói tục đó. Chuyện tục hay không tục cũng giống như khi nào th́ phải thắt cà-vạt và khi nào th́ khỏi thắt cà-vạt vậy.

Trong văn chương, đông tây kim cổ ǵ cũng vậy, người ta đă tốn biết bao nhiêu giấy mực công lao để viết về t́nh yêu. Xuân Diệu, nhà thơ của tuổi thanh xuân có mấy câu định nghĩa về t́nh yêu:

 

Làm sao định nghĩa được t́nh yêu?

Nào có ǵ đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu.

 

Nhiều người khoái mấy câu này, - trong đó có tôi, khi tôi c̣n trẻ - như tôi đă thuộc.

Tuy nhiên, trong văn chương b́nh dân, hai câu ca dao sau đây cũng định nghĩa t́nh yêu không hay hay sao?

 

Em như cục cứt trôi sông

Anh như con chó đứng trông trên bờ.

 

Đă là cứt rồi, mà cục cứt trôi sông tức là cục cứt ở dưới nước đă lâu, sắp ră ra rồi. Thứ này chẳng c̣n “giá trị” bao nhiêu. Người ta chê lắm. Nhưng “anh” th́ thèm. Nó không có “giá trị” với con người nhưng rất có “giá trị” với con chó, nhất là con chó đói. Anh đứng trên bờ, anh thèm em. Anh định xuống nước, bơi ra để vớt em nhưng nước sâu, chảy mạnh nên anh sợ. Em cứ trôi, anh cứ chạy theo, mấy lần dợm, định xuống nước, nhưng lại sợ nước sâu. T́nh anh với em như thế th́ c̣n chê ǵ nữa!

Tả t́nh yêu, người ta phải dùng văn chương bóng bẩy, hoa ḥe, ví von những cái thanh, cái đẹp mới là hay. Ở đây tả t́nh anh và em rất tục, nhưng ai bảo là không hay?!

Thơ tả chân nhiều khi nó không hay v́ nó thực quá. Nó không c̣n sự mơ mộng nữa.

Thơ, có người nghĩ, phải mơ mộng, phải bay bướm, phải hoa lá cành. Ở đây, t́nh yêu không những được tả chân, lại là một sự tả chân rất tục. Vậy th́ nó không hay chăng? Không hay sao nó c̣n tồn tại trong văn chương, ít ra trong văn chương b́nh dân. Tôi th́ nghĩ rằng câu ca dao trên tả t́nh yêu hay nhất mà văn học thế giới chưa có câu nào sánh được.

Bây giờ Hợp Lưu đem chuyện Thanh và Tục ra mà bàn. Có ai muốn bỏ ca dao tục ngữ tục đi chăng? Vậy th́ những cái tục trong Văn Chương B́nh Dân Việt Nam đem mà bỏ vào sọt rác cả hay sao?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

R