Không ǵ nguy hiểm hơn bạn bè ngu dốt; tôi thà có kẻ thù khôn.

Nothing is as dangerous as an ignorant friend; a wise enemy is to be preferred.

La Fontaine

 

 

 

 

  

Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy

 1

 

 

Một buổi chiều, một buổi chiều nào đó, như tất cả những buổi chiều ta đă lang thang trên xứ lạ, như tất cả những buổi chiều mặt trời rơi xuống xoáy buồn vào trái tim, ta nh́n đời sống ḿnh bốc khói. Khói cay ngun ngún cháy đi tất cả những ngày đă qua, cháy đi những mộng tưởng cũ kỹ, những hè đường đầy lá úa ướt át, những ḍng sông thở nồng mùi gỗ mục. Đời đă ngun ngún cháy đi những giây phút hạnh phúc đẹp đẽ và mơ mộng nhất của ta, cháy đi những cửa sổ mở tung nh́n con chim bay trên trời, những ngơ hẹp cất giấu bóng chiều âm ỉ, và khuôn mặt em, khuôn mặt ướt mưa mà hai bàn tay ta đă nâng niu như một cánh hoa gần. Trong mắt em ta nh́n thấy ngoài kia cơn mưa chụp xuống giăng kín buổi chiều. Em chớp mi, và bầu trời phủ đầy bóng tối. Một bóng tối thơm ngát mùi hoa chanh.

Một buổi chiều, một buổi chiều nào đó, giam ḿnh giữa ḍng xe cộ trùng điệp của giờ tan sở, để chiếc xe tự động lăn theo ḍng nối tiếp mệt nhoài, tâm tư ta lại nhớ về những buổi chiều cũ ở quê nhà. Những buổi chiều đă ngun ngún bay đi. Bay đi như khói thuốc, như hương khói mùa xưa. Những buổi chiều trời thắp măi tiếng mưa sầu. Làm thế nào để quên được nhau. Hạt mưa kia long lanh nỗi nhớ niềm từ biệt, hoàng hôn bàng hoàng màu khói nhạt... 

Ta chợt nhớ đến người thi sĩ ấy. Thanh Tâm Tuyền. Bây giờ, ông đang nuôi những cơn mộng nào. Ông đă sống như thế nào giữa ḷng quê nhà mưa bay gió thổi [1] . Ông nh́n ngắm như thế nào những con đường, những buổi chiều, những băng đá, những ḍng sông, những thành phố ngày xưa. Trời th́ c̣n mưa, mưa măi. Mưa rơi ướt những hoài vọng, những ước mơ, và bóng tối như đang đổ xuống không cùng. Ta muốn bật một que diêm để cùng Thanh Tâm Tuyền nh́n lại những buổi chiều cũ, có hơi ấm ngày xưa. 

 

Buổi chiều vào chật khoang xe. Đèn thắp lên

Tiếng máy nổ bỗng thành tiếng cười dài

Mưa xuống bên ngoài, ngoài cửa sổ. Những bàn tay níu lấy ṿng sắt lạnh

Mỗi ngày chúng ta đứng bên nhau không quen nhau

Thân mật ngó lên mái tóc rối nền trời khuya

Ngó vào mắt hoang xa ḍng sông không bờ

(...)

Chuyến xe buưt chạy trong buổi chiều. Trời mưa, mưa ngoài châu thành.

Không t́m thấy bến không đỗ lại

Vai áo đă ướt đầy

Tóc em rét mướt

Một ngày mới bắt đầu với tờ báo phát hành sớm gói trên tay.

Xe c̣n chạy mưa hoài ḍng sông hoang mắt bỏ cố níu lấy cửa xe... 

(“Một chỗ trên ô-tô-buưt”) 

 

Que diêm đă bật lên rồi đó, chúng ta có ngửi thấy hơi ấm quê nhà? Ôi, một chiều mưa, mưa rơi ngoài châu thành, chiếc xe buưt xanh chạy vào trái tim, ḍng sông và những chấm mưa lổ đổ, buổi chiều xanh lơ màu sương khói, vai áo em mềm ướt hồng da thịt, vùng tóc rối rét đầy. Em hiền, em hiền như bánh không men, như ngọn tháp giáo đường ngoài xa kia vươn lên như một búp nến. Hơi lửa nhỏ nhẹ cháy vào ḷng ta rét mướt. Xe chạy hoài ḍng sông nuối mắt. Búp nến buồn hiu hắt những hơi mưa. Sợi tóc quệt ngang vành môi theo đường bay của gió. Những con chim bay vào cơi sa mù.

Tôi muốn viết về Thanh Tâm Tuyền như ông vẫn c̣n đang đứng ở đó, bên một cây cầu hay một ḍng sông, tay sờ lên đường viền của những ṿng sắt lạnh. Tôi muốn viết về ông như viết về những kỷ niệm của mỗi một chúng ta. Tôi không nghĩ là thơ ông đă tạo được những rung động trong đông đảo quần chúng hay được tất cả những người thưởng ngoạn, những người làm văn nghệ thời đó nhất trí chấp nhận như một giá trị hiển nhiên. Thanh Tâm Tuyền, và một vài người khác cùng thời với ông, đă có công giới thiệu và làm bùng nở một ḍng thơ tự do đầy sức sống trong một giai đoạn phát triển của văn học miền Nam. Trong cái nhiệt t́nh thắp lửa, có những lúc có thể là ông đă phát biểu cái tiếng nói thơ, chuyên chở tâm t́nh và sự suy tư của ông, ở những cung bậc quá khác lạ với những âm điệu vẫn được những người khác - những người cùng sống ở một thời đại với ông - thường dùng. 

Thanh Tâm Tuyền đă được yêu thương, ca tụng cũng như đă bị lên án và chối bỏ trong những năm ông bám lấy thơ, coi thơ như một cung cách sống, một nỗ lực để có thể sống cái đời sống của ḿnh một cách trọn vẹn. Ngoài một số những bài thơ làm sau giai đoạn 1964, chưa được in thành tập, những bài thơ tiêu biểu nhất của ông, làm trong những giai đoạn trước đó, đă được ông thu góp trong hai tập Tôi không c̣n cô độc (1955) và Liên-đêm-mặt trời t́m thấy (1964). Hai tập thơ đă tŕnh bày trước độc giả con người của Thanh Tâm Tuyền một cách khá rơ nét. Kiêu căng, ngạo mạn, lạnh lùng, cô độc, cô đơn, cô lữ, lăng mạn, tha thiết, dằn vặt, yêu thương, khô khan, bùng cháy, mệt mỏi, hoài nghi, thất vọng, siêu h́nh, trong sáng, rắc rối, phức tạp, xót xa, phẫn nộ... Đó là một số từ chúng ta có thể dùng để nói về thơ Thanh Tâm Tuyền, về Thanh Tâm Tuyền. Ông đă sống thiết tha và vũ băo như vậy. Có những lúc ông cũng đă cảm thấy mệt mỏi, hoài nghi, và thất vọng, nhưng trong tất cả những trạng thái sống đó, tôi chưa từng thấy ông sợ sệt. 

Như con sư tử và như đứa trẻ thơ (đúng, Thanh Tâm Tuyền cũng có đôi khi như thế) của Nietzsche, Thanh Tâm Tuyền đi vào đời sống với tất cả những say đắm, yêu thương, thơ dại và phẫn nộ chất chứa trong hồn ông. Ông đă được yêu ghét thế nào, chúng ta chắc chẳng cần nhắc lại. Hăy chỉ nhớ là, bây giờ, Thanh Tâm Tuyền vẫn đang ở tại quê nhà, vẫn c̣n canh giữ cho ta những giấc mộng cũ, và những bài thơ của ông, lang thang ở những xó góc tối tăm nào đó của đời sống, của trí óc ta, lâu lâu vẫn c̣n khua gơ những bước chân âm thầm trở về. Và ta lại nh́n ra những bóng mưa của thời gian xưa cũ, những ḍng sông vẫn chảy lặng lẽ, mưa vẫn rơi, mưa rơi nhỏ nhẹ, mưa rơi ngoài châu thành. Trái tim ta ướt đẫm nước mắt... 

 

Anh ngắm hai bàn tay anh nhớ tàn lá về chiều

Khóc thờ ơ ngoài không trung. 

 

 

Đọc lại những bài thơ Thanh Tâm Tuyền, tôi thấy ḿnh yêu và gần ông ở những bài, những đoạn, những ư ông nói về t́nh yêu. Thật ra, bài nào của Thanh Tâm Tuyền lại không có t́nh yêu trong đó. T́nh yêu giữa nam và nữ. T́nh yêu mến thiên nhiên, yêu thương con người nói chung. T́nh yêu giữa ánh sáng và bóng tối, t́nh yêu đồng loại bị dồn nén bởi sự tàn ác, bất công và nước mắt - nổ bùng ra thành phẫn nộ. T́nh yêu làm Thanh Tâm Tuyền trở nên lăng mạn, và đau khổ, nhục nhằn. T́nh yêu xót xa hoà chung với sự đau khổ v́ nỗi đời, v́ mệnh nước. 

Nói như thế có nghĩa là tôi gần như yêu hết tất cả những bài thơ của Thanh Tâm Tuyền, v́ có thể nói bài thơ nào của ông mà lại không chứa đựng t́nh yêu, tôi lại muốn nói một lần nữa như vậy. Dù sao, có những bài thơ trong đó ông đă đưa vào quá nhiều những h́nh ảnh, những tư tưởng siêu h́nh, và những điều đó, theo ư tôi, làm bài thơ ông mất bớt đi sự lôi cuốn. Điều tôi đang nói đây có thể là một điều kỳ lạ đối với một số người yêu thích Thanh Tâm Tuyền và nghĩ rằng thơ ông chủ yếu ở chỗ siêu thực, như thơ của Paul Eluard, Breton, Aragon, Rimbaud, Lautréamont... Thật sự, nói chung, thơ Thanh Tâm Tuyền đúng là rất gần với thơ của các nhà thơ siêu thực của Pháp; nhưng trong thơ của ông, những bài mà cảm tính và lư tính được diễn ra ở một mức độ cân bằng, hoặc nghiêng nhiều hơn về phía cảm tính, lại cuốn hút tôi hơn. Những bài quá nghiêng về lư tính không mời gọi tôi trở lại với chúng nhiều lần như những bài kia. Như vậy, có phải tôi là con người nghiêng nhiều về cảm tính? Tôi cũng không rơ. Nhưng nếu tôi là một mẫu người thích để cảm tính ngự trị, chắc tôi đă không chọn con đường đi vào phân tích, lư luận hay phê b́nh. Có lẽ, cuối cùng tôi đă nghĩ, không biết có phải là một sự bất công đối với Thanh Tâm Tuyền không, là những bài thơ quá nghiêng về lư tính của Thanh Tâm Tuyền, những bài thơ có vẻ quá sức siêu thực hay siêu h́nh của ông, làm cho tôi thấy ông bớt đi sự tự nhiên, tự tại của ḿnh [2] . Những bài thơ ấy che giấu ông lại, thay v́ mở ông ra với nụ cười tiếng khóc, với sự xót xa thương yêu, dằn vặt, phẫn nộ... của ông. Mà chính những điều ấy lại làm Thanh Tâm Tuyền gần gũi chúng ta hơn. 

Hăy đọc ít đoạn thơ cũ của Thanh Tâm Tuyền, những lời thơ rất cũ gơ cửa trái tim nàng kia, để thấy lại bóng dáng của t́nh yêu, sự dịu dàng của bóng tối, những xót xa, đau khổ của nỗi đời, mệnh nước đan kín lấy nhau. 

 

Hỡi Liên những Liên và Liên

Anh muốn nghe một bài hát buồn - lời anh không thành điệu - muốn

nghe một bản hát buồn. Thí dụ. Trưa nắng giữa ngă năm ngă sáu có

chợ có ga, đường tàu mải miết. Bóng tối lặng thinh em hát lên

làm sao mà chịu đựng, hoa lá chia sầu. Một góc bàn anh hôn màu

gỗ trống.

 

Hỡi Liên những Liên và Liên

Chẳng là anh ngông cuồng kiếm t́m tổ quốc vậy em biết không. Mà

tổ quốc ngàn đời nín thở v́ trời th́ xanh mà khổ đau nói sao cho

hết. Chẳng là anh chót yêu em vậy em biết không? Mà khi yêu nhau,

trong những đêm sao hằng hà, làm thế nào để quên được nhau... 

(“Nói về dĩ văng”) 

 

Đôi khi ở nơi đất lạ này, trưa nắng giữa ngă năm ngă sáu có chợ có ga, đường tàu mải miết, tôi chợt rưng rưng nhớ nhà. Tổ quốc ngàn đời nín thở v́ trời th́ xanh mà khổ đau nói sao cho hết. Người thi sĩ ấy đă cảm ra những điều xót xa bàng hoàng này từ những ngày xưa. Sự bén nhạy của người thi sĩ đă khiến cho chàng ta được gọi tên như những nhà tiên tri thấu thị. Những nhà tiên tri này lên tiếng báo trước định mệnh của con người. Định mệnh có thể mang h́nh một cây thập tự nhưng cũng có thể là sự phục sinh. Nó có thể có mùi vị ẩm mốc của những đám lá chết nhưng cũng có thể có mùi thơm mát của những giọt sương long lanh đầu lá. Lên tiếng nói về những điều đó là nỗi khao khát đồng thời cũng là chức năng của người thi sĩ. Thế nhưng, đối với những chế độ đ̣i hỏi sự đồng phục trong lề lối sống của những con người mà nó nắm giữ, định mệnh con người phải hiểu là của nhà nước và do nhà nước định đoạt, ban phát. Thi sĩ không có quyền cất lên tiếng nói để làm tṛn chức năng cũng như để thỏa măn những khao khát của chàng. Thi sĩ bị lưu đày khỏi quê hương hay bị lưu đày vào đời sống cùng khốn theo cả hai nghĩa đen và bóng. Ngày xưa, thời Platon, người ta trịnh trọng và lễ phép (giả h́nh) choàng ṿng hoa vào cổ người thi sĩ, rồi đuổi họ ra khỏi xứ sở. Bây giờ, người ta không cần triết học, người ta vất bỏ sự lễ phép (giả h́nh và không giả h́nh), người ta tóm lấy cổ thi sĩ và tống chàng vào ngục. Hăy vào trong ngục mà rao giảng cho bóng tối ḷng yêu thương và những điều tiên tri của ngươi, hỡi kẻ thi sĩ kia. Trong vùng bóng tối đó, ngươi hăy nói lên sự thấu thị của ngươi. Đâu là sự thật của cuộc đời? Mặt trời đang lên ngoài kia, và ngươi là kẻ ngồi trong bóng tối. Hỡi kẻ thi sĩ kia, ngươi không sản xuất ra của cải vật chất, ngươi đ̣i lên tiếng nói năng ǵ?!! 

Ngày xưa, người thi sĩ đă phẫn nộ, đă hét lên, đă run lên, đă giận dữ, đă tràn nước mắt... v́ những kẻ đ̣i độc quyền ban phát sự thật như thế. Hăy nhớ về Hung gia lợi, 1956. 

 

Hăy cho anh khóc bằng mắt em

Những cuộc t́nh duyên Budapest

Anh một trái tim em một trái tim

Chúng kéo đầy đường chiến xa đại bác

Hăy cho anh giận bằng ngực em

Như chúng bắn lửa thép vào

Môi son họng súng

Mỗi ngă tư mặt anh là hàng rào

Hăy cho anh la bằng cổ em

Trời mai bay rực rỡ

Chúng nó say giết người như gạch ngói

Như ḷng chúng ta thèm khát tương lai

Hăy cho anh run bằng má em

Khi chúng đóng mọi đường biên giới

Lùa những ngón tay vào nhau

Thân thể anh chờ đợi

Hăy cho anh ngủ bằng trán em

Đau dấu đạn

Đêm không bao giờ không bao giờ đêm

Chúng tấn công hoài những buổi sáng

Hăy cho anh chết bằng da em

Trong giây xích chiến xa tội nghiệp

Anh sẽ sống bằng hơi thở em

Hỡi những người kế tiếp

 

Hăy cho anh khóc bằng mắt em

Những cuộc t́nh duyên Budapest

 

(‑Hăy cho anh khóc bằng mắt em những cuộc t́nh duyên Budapest“)

 

Phẫn nộ là phẫn nộ trước sự đè nén, áp bức và dối trá, bưng bít sự thật. Sự thật của người thi sĩ, sự thật cháy hoài trong trái tim người thi sĩ là ǵ? Đó là t́nh yêu. T́nh yêu trong tất cả mọi thể thái và lốt vỏ của nó: hạnh phúc, đau khổ, hoang mang, xót xa, hoài nghi, tuyệt vọng, rạng rỡ, âm u, hơi thở, tiếng cười, ngọt ngào, cay đắng, gần gũi, cách xa, dịu dàng, hung bạo, phương phi, rực rỡ, mệt mỏi, chán chường...

 

Hăy khép mắt khép mắt thật khẽ

Có thấy chúng ta rơi vào giấc ngủ sâu vào những giấc mơ

Hương hoàng lan lẫn mái tóc người yêu

Xa thành phố bỗng lạc đường

Tại sao cánh rừng cháy tôi một ḿnh

Người nào ngủ đây người nào chết đây thân xác tan tành

Hăy khép mắt khép thật kín

Và chúng ta rơi vào cơn ác mộng một ḿnh

 

(‑Khai từ của một bản anh hùng ca“)

 

Em gối đầu sương xuống

Chuyện tṛ bằng bóng h́nh

Tôi đẹp như h́nh tôi

Như cuộc đời

Như mọi người

(...)

Em là lá biếc là mây cao là tiếng hát

Sớm mai khua thức nhiều nhớ thương

Em là cánh hoa là khói sóng

Đêm màu hồng

 

(‑Bài ngợi ca t́nh yêu“)

 

T́nh yêu trong thơ Thanh Tâm Tuyền ít khi được nh́n thấy dưới một khía cạnh vẹn toàn. T́nh yêu ấy luôn luôn xao động, sấp ngửa giữa ánh sáng và bóng tối, giữa chúm môi lá biếc những cḥm hôn vội vàng và con đường đi buổi chiều hấp hối, ôi buổi chiều sương mù, giữa những 

 

Ngón tay âm thầm tṛ chuyện

Những bước chân thỏ rừng

Chạy trên cỏ sắc

Sợi tóc đen như một chuỗi cười 

 

và: 

 

(...)

Điếu thuốc bỗng trở niềm hắt hủi

Khói tím buồn

V́ chiều theo chân em sang bên kia đồi

Nụ cười mang theo

(...)

Em có biết sau lúc em từ biệt

Điếu thuốc cháy trên môi như người bạn chết

Hơi nóng khô nhành củi gẫy tàn... 

 

T́nh yêu trong thơ Thanh Tâm Tuyền c̣n là t́nh nhân ái, là lời yêu thương cho những con người cô độc, lẻ loi, trong bóng tối chảy thảm giọt lệ sầu. Thi sĩ khi nghĩ đến ḿnh, đồng thời, chàng nghĩ đến những người xung quanh. Nh́n cuộc lênh đênh ch́m nổi của người khác, chàng nghĩ đến cuộc lang thang, nỗi cô đơn của chính ḿnh. Những mơ-ước-hoài-nghi-ngọt-ngào-cay-đắng-thiết-tha cứ thế quyện lấy trái tim chàng. 

 

Tôi biết những người khóc lẻ loi

không nguôi một phút

những người khóc lệ không rơi ngoài tim ḿnh

em biết không

lệ là những viên đá xanh

tim rũ rượi

 

đôi khi anh muốn tin

ngoài đời chỉ có trời sao là đáng kể

mà bên những v́ sao lấp lánh đôi mắt em

đến ngày cuối

đôi khi anh muốn tin

ngoài đời thơm phức những trái cây của Thượng Đế

mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em

nguồn sữa mật khởi đầu

đôi khi anh muốn tin

ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết

mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em

ṿng ân ái

đôi khi anh muốn tin

ôi những người khóc lẻ loi một ḿnh

đau đớn lệ là những viên đá xanh

tim rũ rượi

 

(‑Lệ đá xanh“)

 

Trong ngôn ngữ t́nh yêu của Thanh Tâm Tuyền, những sợi tóc không c̣n chỉ là những sợi tóc, những sợi tóc đen như một chuỗi cười. Những giọt lệ không c̣n là những giọt lệ, nhưng lệ là những viên đá xanh. Và môi em là trái cây ngọt ngào. Cánh tay, thân thể em là cỏ hoa quyến rũ. Buổi chiều không c̣n đứng yên, nhưng chiều theo chân em sang bên kia đồi. Và bệnh viện mắt kín mưa đêm. Đêm trong thơ Thanh Tâm Tuyền, như thế, có một thân xác và một linh hồn. 

 

Đêm hiền từ nhỏ to trên trán

Màu đen sáng đủ ngó vào nụ cười

Có đấy không này em mưa chan hoà

Trên ngực trên ngực em bát ngát 

 

Thân thể người con gái, người đàn bà trở thành một cái ǵ vừa cụ thể, gần gũi, có thể ăn cắn như một thứ trái cây, có thể ngửi được, vùi đầu vào được, sờ mó, nâng niu, vuốt ve được..., vừa trở nên một cái ǵ trừu tượng hoặc thanh thoát xa vời: 

 

Da trắng như tiếng hát ở trên trời...

Anh cúi xuống hôn cánh môi tím màu đêm mà thương nhớ...

 

Đừng trói anh vào trần gian bằng mắt em nh́n kia...

 

Người đàn bà rũ tóc thành một cơn băo mặn

Hương nồng chiều ḍng kinh mùa hè... 

 

Tất cả những sự chuyển dịch, biến hoá từ hơi thở của t́nh yêu ấy luôn luôn kéo thi sĩ vào thiên nhiên. Một thiên nhiên khi th́ trong xanh, bừng lên sáng sủa như một tiếng chim, nhưng cũng có những lúc cái thiên nhiên ấy lại chỉ hiện ra ở những h́nh thể sắc cạnh, chỉ là những khối gỗ, sắt vô tri.

 

Trước hết, đây là thiên nhiên mềm, mở tung cửa sáng vào trời xanh. Tiếng mưa gơ nhịp lách tách vào mắt em.

 

 (...)

Cửa sổ trời những mắt chưa quen

trán hoang đồng cỏ

run đường môi kỷ niệm

đi qua những thành phố đầy tim

cười đổ mưa một ḿnh 

(‑Của em“) 

 

Hay là thiên nhiên của mùa về với những bông mía trắng phất phơ hay đám lau buồn lắt lay trong gió. 

 

(...)

Ai xui rằng mùa măng chưa tới

Mà mùa về măng thôi chẳng ngọt

Vườn măng rừng tháng sáu đêm sâu

Muốn làm người học tṛ mười bảy tuổi

Đạp xe trên đường đồng

Bông mía trắng những căn nhà ngủ dưới cây...

 

(‑Bao giờ“)

 

(...)

Tuổi ấu thơ ḥn cù lao xa khuất

Và t́nh yêu như đám lau buồn

Vàm sông nước xoáy như tiếng cười thầm

Ở sau lưng ở trước mặt

Anh thả người trôi nổi

 

(‑Sầu khúc“) 

 

Đó là những mảnh thiên nhiên hiền lành, thơ mộng, hoặc buồn bă, nhưng trong chúng, người ta vẫn thấy một cái ǵ thân mật, gần gũi. Nhưng đó là khi con người c̣n giữ lại được ḿnh. Khi người ta cảm nhận được sự mất mát, xa lạ của ḿnh đối với chính ḿnh, khi người ta thấy ḿnh đang bị cái thiên nhiên của sắt thép gỗ đá, của tiếng cơ khí chạm vào nhau và phát ra tiếng kêu của một loài sắt lạnh, của những cao ốc, những cột đèn... bao phủ lấy họ, người ta không c̣n thấy được nét mềm mại thơ mộng của thiên nhiên nữa. 

 

Anh sợ những cột đèn đổ xuống

Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta

Bóp chết mọi hy vọng

Nên anh d́u em đi xa

 

Đi đi chúng ta đến công viên

Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối

Ôi môi em như mật đắng

Như móng sắc thương đau

Đi đi anh đưa em vào quán rượu

Có một chút Paris

Để anh được làm thi sĩ

Hay nửa đêm Hà Nội

Anh (...)ôm em trong tay mà đă nhớ em

ngày sắp tới.

Chiếc kèn hát măi than van

Điệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng

Sao tuổi trẻ quá buồn

Như con mắt giận dữ

Sao tuổi trẻ quá buồn

Như bàn ghế không bầy...

 

(...)

Anh đưa em đi trốn

Những dày ṿ ngày mai

 

(“Dạ khúc”) 

 

Khi người ta ư thức được t́nh trạng bị mất mát, bị xâm chiếm, bị tha hóa của ḿnh th́ người ta hoặc là chạy trốn, hoặc chống cự lại, hoặc là trở nên chai ĺ, mất hết rung động trước những hiện hữu quanh ḿnh. Ḷng trở nên dửng dưng, hoang vắng. 

 

(...)

Vứt mẩu thuốc cuối cùng xuống ḍng sông

Mà ḷng ḿnh phơi trên kè đá

Con thuyền xuôi

Chiều không xanh không tím không hồng

Những ống khói tàu mệt lả

 

(“Bao giờ”)

 

 

Trước một đời sống đang bị cuộn tṛn vào tiếng cười của cơ khí, của tiếng động cơ xô anh vào bẫy, trên cát lầy lún măi, tuổi thiếu niên chạy về nhảy múa trên tóc anh và gọi, có những lúc người thi sĩ đă dửng dưng một cách xót xa như thế, buổi chiều bây giờ trở thành dửng dưng, như ḷng ta dửng dưng nh́n những ống khói cơ khí kia kiệt sức. Màu sắc thường làm dậy lên những rung động trong hồn người. Buổi sáng sắc xanh, buổi trưa sắc trắng, buổi chiều sắc tím, hay hồng. Cũng có khi yêu đời, người ta thấy buổi chiều sắc xanh, hoặc đang yêu người, ta thấy chiều lên sắc hồng; c̣n khi người ta buồn hoặc để ḷng ḿnh lăng mạn vu vơ bập bềnh tiếng sóng, người ta thấy chiều tím. Chiều

không xanh không tím không hồng, ấy là chiều đă không c̣n chỗ trú ngụ trong ḷng người. Chiều đă đi ra ngoài trí nhớ. Chiều đă trở thành một thực thể biệt lập, ngoại tại. Và chiều dửng dưng:

 

 

Em biết không?

Em biết không?

Trong ngục tù giam giữ những than van

Người ta kêu một ḿnh

Thành tiếng động rửng rưng đống sắt rỉ hoen rơi đổ

Năo óc anh hàng chấn song nguyền rủa

Khi em đi qua những đường phố dẫm nát những giấc mộng theo đ̣i

Hy vọng dội lên trong mọi hồi trống rỗng

Anh ngắm hai bàn tay anh nhớ tàn lá về chiều

Khóc thờ ơ ngoài không trung...

 

(“Sầu khúc”)

 

 

 

––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

[1]Bài này được viết vào năm 1986, khi Thanh Tâm Tuyền c̣n sống tại Việt Nam, chưa định cư tại Mỹ.

[2]Thật ra, có thể nói tính chất siêu thực thường không dung nạp lư tính. Siêu thực ở ngoài lư trí. Thế nhưng, những đoạn thơ mà nhiều người nghĩ có vẻ “siêu thực” nhất của Thanh Tâm Tuyền lại chứa đựng đầy lư tính. Và h́nh ảnh trong những bài này thường mang màu sắc ẩn dụ. Xin xem Liên-đêm-mặt trời t́m thấy ở các bài “Hơi thở”, “Thành phố”; “Bài không tên” ở trang 72, đoạn 10,; “Sầu khúc”, đoạn 5; “Từ chối”; “Bài không tên” trang 113-123. 

 

Nguồn: Đăng lần đầu trên nguyệt san Văn Học, California, 1986. In lại trong Lư luận và phê B́nh / Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước 1975-1995 của Bùi Vĩnh Phúc, nhà xuất bản Văn Nghệ, California, 1996. Đăng lại trên talawas với một số thay đổi và bổ túc của tác giả.

Bùi Vĩnh Phúc

 

Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy

2

 

Nhưng Thanh Tâm Tuyền không để cho những tù ngục của mệt mỏi, dửng dưng ấy giam giữ ông. Ông bám vào t́nh yêu, vào sự lăng mạn của ḿnh. Đó là chiếc ch́a khóa giúp ông mở tung những cánh cửa của chán nản, của tuyệt vọng, của mệt mỏi, của sự đồng phục trong đời sống, của những sắt thép gỗ đá và những mệnh lệnh liên tiếp được dựng lên, tung ra để cầm nắm, để giam giữ tâm-ư-thể con người. Khuôn mặt t́nh yêu có trong sáng hay buồn bă, đôi mắt t́nh yêu có rạng rỡ hay thảm sầu, chàng thi sĩ vẫn t́m ra ở đó những phúc âm của đời ḿnh.

 

 

(...)

Hăy ngửa khuôn cổ tṛn như một cành hoa trắng,

anh đeo vào đây ṿng ca ngợi

Hăy ch́m mắt xuống những lớp nhớ nhung

như biển lớn anh đang dâng

Hăy đặt bàn tay mười ngón lửa

sưởi lên môi anh từng lạnh giá bởi những lời đă thốt

Anh sẽ hôn em, thời khắc hạnh phúc vẫn mong manh

 

(...)

Bởi con chim vẫn giam trong lồng ngực vừa được bay nên bay

mau hơn ánh sáng, anh nh́n được mắt em tuyệt vời tận muôn ngh́n quá khứ.

Bởi con chim đă bay kịp thời-gian nên chậm lại, anh nh́n

thấu hồn em trong suốt những mai sau.

Bởi con chim c̣n x̣e cánh liệng tṛn, anh thâu nhận hết em qua vô vàn h́nh ảnh

 

(“Liên-đêm-mặt trời t́m thấy”)

 

(...)

 

Anh đưa tiễn em, gửi theo những giấc mộng giấu kín hết đời. Em

lên đường và anh chỉ c̣n chân tay tẻ nhạt vô duyên như xứ sở

tang thương v́ bom đạn.

 

(“Chiều trên phi trường”)

 

 

Trong t́nh yêu riêng của ḿnh, Thanh Tâm Tuyền đă sống và chết trong đời sống như thế, đă hạnh phúc và đớn đau như thế, nhưng người thi sĩ ấy không để t́nh yêu che mờ hết những rung động khác trong con người chàng. Thanh Tâm Tuyền đ̣i hỏi tự do. Tự do trong mọi thể thái của nó. Người thi sĩ ấy đă làm thơ, và thơ của ông trước tiên là một sự phá bỏ những xiềng xích cũ. Sự cân đối, mực thước, cùng nhịp điệu, lối gieo vần của những thể thơ cũ có lẽ đă cản trở Thanh Tâm Tuyền trong cách diễn đạt những tư tưởng vỡ bờ, những lề lối suy nghĩ nằm ngoài khuôn phép của ông. Thanh Tâm Tuyền muốn cho hơi thở ḿnh được tự do, tư tưởng ḿnh được phóng khoát, nên ông đă đẩy thơ tự do của ông, thời ấy, vào những con đường hết sức mới lạ. Dĩ nhiên là Thanh Tâm Tuyền không thể thoát khỏi ảnh hưởng của những trào lưu Tây Phương đang ghi những dấu ấn trên tâm thức của thanh niên thời đó. Nhưng việc ông can đảm đưa vào thi ca chúng ta thời ấy những thể mới, ư mới như ông đă làm cũng đă cho chúng ta thấy tính cách khai phá của ông. 

Trên đường đi t́m một tự do hằng khao khát, Thanh Tâm Tuyền, như bất cứ ai chọn cuộc lên đường đầy thử thách để t́m một dải đất mới cho ḿnh, đă có những lúc phẫn nộ. Có những phẫn nộ chính đáng, trong đó có những mầm hạt cho một hạnh phúc ước mơ sau này. Có những phẫn nộ vô lư, vô cớ, không dựa trên một lư do chính đáng nào cả. Nhưng thật sự ra th́ phẫn nộ, phản kháng là yếu tính của con người nghệ sĩ, của kẻ sáng tạo. Tôi thấy, ở một mức độ nào đó, sự phản kháng của Thanh Tâm Tuyền có một số nét gần gũi với cung cách phản kháng của Albert Camus. 

Trong Con người phản kháng (L'homme révolté), và trước đó, thể hiện trong Kẻ xa lạ (L'étranger), Camus đă tŕnh bày ư nghĩa của cung cách phản kháng này. Nhiều người và nhiều nhà phê b́nh đă không hiểu rơ ư nghĩa phản kháng trong các tác phẩm của Camus nên đă đưa ra những bàn căi và phê b́nh đi ra ngoài những điều ông muốn nói, và bởi thế, đă thất bại trong việc đánh giá các tác phẩm của ông. Bây giờ, sau khi những bàn căi sôi nổi đă lắng xuống, Albert Camus đă chết, và tác phẩm của ông đă được xếp vào loại những tác phẩm chứa đựng những giá trị thâm sâu và nhân bản nhất của con người [1] , người ta mới nh́n kỹ hơn những ư nghĩa mà Camus đă mang đến cùng với từ “phản kháng” trong văn chương ông. Camus đă không dùng từ này theo nghĩa vẫn được chấp nhận. Sự phản kháng của ông không trực tiếp để chống lại cái khát vọng có tính cách lăng mạn để thăng hoa và tiêu diệt những giới hạn ràng buộc con người. Sự phản kháng này nhắm thẳng vào tất cả những âm mưu, những sức cản làm giảm bớt đi cái khả năng của con người trong việc nắm bắt những cơ hội để sống hạnh phúc trong ṿng những giới hạn ấy. Những kẻ thù mà Camus vạch mặt và không ngừng chiến đấu để chống lại là tất cả những sức mạnh làm đông cứng, mô-mi-hoá con người, cho dù bất cứ những sức mạnh này ở dưới dạng nào - tinh thần, cá nhân, hay định chế - bắt nguồn từ sự vô cảm, mơ ngủ, hay từ những mạng lưới chằng chịt của các ư thức hệ, xanh hay đỏ, của thời đại này nhằm trói buộc và cầm bắt tâm-ư-thể con người. [2] 

Hăy đọc lại Hăy cho anh khóc bằng mắt em những cuộc t́nh duyên Budapest để thấy sự phản kháng này của Thanh Tâm Tuyền. Hay là đọc bài sau đây: 

 

Ngực anh thủng lỗ đạn tṛn

lưỡi lê thấu phổi

tim c̣n nhẩy đập

nhịp ba nhịp ba nhịp ba

t́nh yêu tự do măi măi

 

(...).

 

núi cao uốn cây rừng

nhịp ba nhịp ba nhịp ba

t́nh yêu tự do măi măi

đất nước ào ào vỗ nhịp

triều biển chập chùng

Hà Nội Huế Sài g̣n

ôm nhau nức nở

 

(...).

 

nhịp ba

 

t́nh yêu

tự do

măi măi

t́nh yêu tự do măi măi

t́nh yêu tự do măi măi

t́nh yêu tự do

măi măi anh ơi

 

(“Nhịp ba”) 

 

Hoặc sự phản kháng của Thanh Tâm Tuyền trước những bất hạnh, những bất công, những bất túc của lương tâm con người. Trong lời phản kháng này, ta vẫn c̣n nghe ra một niềm hy vọng. 

 

Một người da đen một khúc hát đen

Bầu trời đen sâu không cùng

Những ḍng nước mắt

 

Xé nát thân thể bằng tiếng kèn đồng

Bằng giọng của máu của tủy của hồn bắt đầu ngày tháng

Giữa rừng không lời rừng măi trống không

 

(...).

V́ Blues không xanh v́ điệu Blues đen

Trên màu da nức nở

Trong hộp đêm

Bắt đầu chảy máu thầm kín khóc cổ họng ḿnh

Ngón tay cấu lấy ống kèn như một bùa thiêng

 

(...).

 

thế giới va chạm những loài kim réo gọi

Thời gian mềm

không gặp thời gian

Không gian quay thành những ṿng kỷ niệm

Rồi một buổi nào Blues hiện về xanh

 

(‑Đen“) 

 

Và sau đây là một cơn phẫn nộ vô cớ. Nào ai có biết tôi phẫn nộ ǵ. Cuộc đời này lúc nào cũng chật hẹp, tù túng, người nh́n người hau háu những móng vuốt giơ ra. Tôi phẫn nộ với tất cả mọi thứ đảo lộn hay đă được sắp xếp để đặt vào thế giới này. Hăy hét lên cho nguôi giận. 

 

Tôi buồn chết như buồn ngủ

dù tôi đang đứng trên bờ sông

nước đen sâu thao thức

tôi hét tên tôi cho nguôi giận

thanh tâm tuyền

đêm ngă xuống khoảng th́ thầm tội lỗi... [3]

 

(‑Phục sinh“) 

 

Ngôn ngữ của Thanh Tâm Tuyền mạnh và chắc; nhịp điệu sắc gọn ở những bài mang ư phẫn nộ. Trong những bài nói chuyện yêu đương chan chứa, những h́nh ảnh dịu được đưa vào đă giúp điều chỉnh giọng thơ. Chính Thanh Tâm Tuyền cũng có nói xa gần đến điều này khi bảo thơ tự do “không gieo vần lối đồng âm đồng thanh, vần của nó là vần ẩn giấu cách xa (có thể đi tới khác âm, nghịch thanh), nhịp điệu của nó là sự phối hợp của một toàn thể không khuôn trong một số câu nhất định khiến cho hơi thơ tự do dễ kéo dài hơn các hơi thơ khác” [4] . Ngoài ra, cũng trong đoạn tŕnh bày về thơ tự do, cũng như về thái độ, cung cách làm thơ của ḿnh, như Vơ Phiến đă dẫn trong Văn học Miền Nam, Tổng quan (Văn nghệ 1986), trong tập Liên-đêm-mặt trời t́m thấy, Thanh Tâm Tuyền cũng nhắc đến một thứ nhịp điệu gọi là nhịp điệu của h́nh ảnh, một thứ nhịp điệu khác là nhịp điệu của ư tưởng, cả hai thứ này là sự thể hiện của nhịp điệu của ư thức. 

Tôi nghĩ là Thanh Tâm Tuyền cũng đă khá hào hứng khi nói về những bài thơ cũng như những khám phá của ḿnh - mặc dù nhiều điều trong những suy nghĩ của ông rất đáng cho chúng ta lưu ư. Nhưng, thật sự, như tôi đă nhận xét ở trên, trong những bài có chủ ư rơ là nói về t́nh yêu nam nữ, t́nh yêu đôi lứa, Thanh Tâm Tuyền vẫn dùng những nhịp găy, nhịp trắc trở, những dấu nhấn khác thường so với những thể thơ cũ. Nhưng những h́nh ảnh rất đẹp và lạ và mới trong những bài thơ này đă làm cho cả bài thơ mềm đi và bay lên như một tiếng chim vào cửa sổ trời mở rộng. 

Đọc kỹ, thật sự, ở một số bài, người ta vẫn thấy Thanh Tâm Tuyền c̣n sử dụng những vần hoặc nhịp điệu của thơ cũ. Những bài này không nhiều, nhưng vẫn có. Và vẫn rất đáng yêu. Hăy đọc lại năm câu thơ này: 

 

Vứt mẩu thuốc cuối cùng xuống ḍng sông

Mà ḷng ḿnh phơi trên kè đá

Con thuyền xuôi

Chiều không xanh không tím không hồng

Những ống khói tàu mệt lả.

 

(‑Bao giờ“) 

 

Vần vẫn c̣n đấy, mặc dù nhịp điệu có được làm cho sai khác đi. Đoạn thơ sau đây cũng thế. Vần vẫn c̣n đó, nhưng nhịp điệu đă được chuyển hoá đi làm cho khác lạ, tạo nên những syncopes như trong âm nhạc. Những âm được sử dụng cũng là những âm chơi, cùng với những nhịp nhấn khác lạ, làm cho bài thơ toát ra một cảm giác buồn bực, dồn nét, bứt rứt. Tất cả những điều đó dọi phóng thành một cảnh buồn, chiếu măi trong tâm thức người đọc. Những cảnh này được tạo nên bằng những bức ảnh đen trắng hoặc có màu xám xịt. Tiếng lóc cóc của vó ngựa trên đường về huyệt mộ và tiếng kèn harmonica nổi bật lên trong bối cảnh này. 

 

Khi đêm chạy trở lui

Người nào thổi harmonica

Tôi đến bằng mọi cách

Tiếng kèn khóc oà

 

Mưa bẩn sân ga

Toa tầu hạng ba

Chuyến xe hàng ốm yếu

Thổ mộ con ngựa già

 

Đường ṃn đưa đến huyệt

Đứa trẻ con thổi harmonica

Trong hoàng hôn tóc rối

Tiếng kèn khóa oà...

 

(“Sầu khúc”) 

 

 

 

Tôi đă yêu thơ, đă làm thơ, và đă đọc thơ của nhiều người. Càng đọc nhiều tôi lại càng yêu nhiều. Càng yêu nhiều, tôi lại cứ muốn đọc măi. Thơ làm cho ta yêu cuộc sống hơn, thiết tha với sự sống hơn. Nếu thơ không làm được những điều đó, không gợi lên trong ḷng người đọc những t́nh cảm đó, thơ không đạt đến cứu cánh của nó nữa. 

Thơ Thanh Tâm Tuyền cho tôi nhiều cảm xúc. Mỗi lần trở lại với thơ ông, tôi đều t́m ra một nét ǵ mà tôi đă chưa hề thấy trước đó. Bởi những ư tưởng, những h́nh ảnh Thanh Tâm Tuyền sử dụng thường không nằm trong những ước lệ của tiếng nói hay của lối suy tư hàng ngày, ta thường không nh́n ra được hết cái chân diện mục của chúng. Gần gũi với trường phái thơ siêu thực của Pháp, những h́nh ảnh mà Thanh Tâm Tuyền sử dụng trong thơ ông cũng, phần nào, có tác dụng của những đường nét trong những bức tranh siêu thực của các hoạ sĩ thế kỷ 20. Dù sao, nếu nh́n dưới khía cạnh hội họa, tôi nghĩ chúng ta đều thấy rằng những “bức tranh cất tiếng” [5] của Thanh Tâm Tuyền có nhiều nét gần gũi với các bức tranh của những họa sĩ siêu thực lớp sau như Max Ernst, René Magritte, Salvador Dali, Pierre Roy... hơn là với những họa sĩ siêu thực lớp trước như Jean (Hans) Arp [6] . Nói về tính chất siêu thực trong văn chương, cũng như trong các thể thái khác, có lẽ không ai có thẩm quyền hơn André Breton. Ông định nghĩa: tính cách siêu thực là cái tính cách tự động thuần túy xét trên mặt tâm linh, qua đó, nó được diễn tả ra hết sức rơ ràng - bằng chữ viết, hoặc bằng bất cứ một thể thái nào khác - cái tiến tŕnh tư duy thật sự của con người. Đây là tiếng nói của bất cứ một h́nh thái thẩm mỹ hay đạo đức nào. Được sáng tạo ra từ những thúc đẩy ở ngoài phạm vi luận lư và lấy chất liệu từ tiềm thức và từ những thị kiến nghệ thuật, các thi sĩ hoặc họa sĩ thuộc trường phái siêu thực đă sáng tạo nên những tác phẩm xuất phát từ những mơ mộng thuần túy của họ về một thế giới mà họ mong ước đạt tới. Tác phẩm của họ không c̣n nằm trong phạm trù thực tại mà đă bước chân sang một biên địa khác, có những lư tưởng, những ước mơ, và ngay cả những ảo vọng nữa. Đây là những con chim vô h́nh đập cánh và bay vào cơi vô biên, để rơi lại những tiếng hót vương vất trong cơi trần gian. 

Thơ Thanh Tâm Tuyền, ở một số khía cạnh, đă bay nghiêng về những vùng không gian đó. C̣n ông, trong chốn trần gian tăm tối và đầy lệ thảm kia, nơi tất cả những tiếng nói b́nh thường của con người đang bị bóp nghẹt hay bóp méo, nơi những trái tim không c̣n được tiếp tục nhẩy đập những nhịp yêu thương cũ, ông sẽ ra sao? 

Những câu thơ tiên tri ngày nào có trở về trong đời sống kẻ thi sĩ?

 

 

Những giấc ngủ xiềng xích

Cuộc lưu đày thêm xa

Tôi trốn về lẩn lút

Đất đai không t́m ra

Đâu cũng toàn quỷ sứ

Riễu cợt tôi ngây ngô

 

Cớ sao nhà ngươi khóc

Muốn làm người là điên

Con người th́ cô độc

Không phép thuật nhiệm mầu

 

Tôi khóc mặc tôi khóc

Bầy quỷ nhảy xung quanh

Tôi khóc hoài tôi khóc

Và chúng nó phát điên

 

Chúng tước lấy tiếng nói

Giam tôi trong bóng tối.

Tôi khóc không ra lời

Và tôi đi lang thang

Tôi đi t́m tiếng nói

Cho cổ họng của tôi

 

(...)..

 

Tôi nh́n người tuyệt vọng

Tôi nh́n người khẩn cầu

Linh hồn tôi rách nát

Lời nói c̣n ở đâu ....

 

(“Liên-đêm-mặt trời t́m thấy”) 

 

 

 

Thanh Tâm Tuyền, ngay trong những ngày xưa, thời ông c̣n được tự do làm thơ hạnh-phúc-yêu-thương-phẫn-nộ, đă cho thấy ông là một con người đă từng nếm nhiều trái-cây-đau-khổ. Tôi nghĩ là ông đă đọc nhiều, đi nhiều, thấy nhiều, cảm nhiều, mơ mộng nhiều, suy nghĩ nhiều, nhớ thương nhiều... Ông đă sống nhiều và ông đă trải đời sống ḿnh ra thơ. Con người ấy, nh́n ở một góc cạnh nào đó, có những lúc ngạo mạn, vô lư, rừng rú, nhưng cũng có những lúc sôi nổi, thiết tha, đắm đuối, dịu dàng. 

Để tóm kết bài viết này, tôi muốn ghi lại những ḍng chữ sau đây của Rainer Maria Rilke. Người thi sĩ Đức tài hoa và tha thiết ấy đă nói những lời hết sức thật và sống động về thơ, về sự làm thơ: 

Người ta phải chờ đợi và gom góp những cảm xúc và sự dịu ngọt của cả đời dài, có khi cả một đời người, tới lúc đó, ở cuối cuộc gom góp đó, người ta mới có thể viết được mươi câu thơ hay. Bởi lẽ, thơ, không phải như người ta tưởng chỉ là những cảm xúc giản dị, mà nó chính là kinh nghiệm. 

Để có thể viết được một câu thơ, người ta phải thấy bao nhiêu là thành phố, bao nhiêu là người là vật, người ta phải hiểu biết về loài vật, người ta phải cảm được sự sung sướng của con chim bay và biết được những cánh hoa nhỏ bé đă mở mắt chào đón b́nh minh như thế nào. Người ta phải có khả năng nhớ lại những con đường ở những xứ sở xa xôi mà người ta đă đi qua, những gặp gỡ bất ngờ và những chia tay xa tắp trong trí nhớ. Người ta phải có khả năng nhớ lại được những ngày niên thiếu với những dấu vết khó giải thích, nhớ lại những bậc sinh thành mà người ta đă làm cho đau khổ khi những bậc sinh thành này mang đến cho người ta niềm vui mà người ta không thèm đón bắt, nhớ lại những cơn đau yếu hết sức kỳ lạ bắt đầu bằng một số những thay đổi sâu xa và trầm trọng, nhớ lại những ngày người ta ẩn kín, im lặng trong pḥng, nhớ lại những buổi sáng bên bờ biển, những biển hồ sông rạch, nhớ lại những buổi tối lang thang đă bay qua đời người ta rồi bay tuốt lên trời cao với những v́ sao (...).Người ta phải có những kỷ niệm về những đêm yêu đương, không đêm nào giống một đêm nào, có những hồi tưởng về những tiếng la hét của phụ nữ trong khi sinh đẻ, và về những người đàn bà nhẹ hẫng, tái nhợt, nằm thiêm thiếp trên giường với em bé ở bên. Nhưng người ta cũng cần phải có kinh nghiệm ở bên cạnh một người đang chết, người ta cần phải có kinh nghiệm ngồi bên cạnh một người đă chết rồi trong một căn pḥng có cửa sổ mở tung ra những cơn ồn ào từng chập. Nhưng chỉ có hồi niệm không vẫn chưa đủ. Người ta phải có khả năng để quên chúng đi khi chúng trở nên quá nhiều, quá đầy trong óc người ta, và người ta phải có ḷng nhẫn nại để chờ cho đến khi chúng quay trở lại. Bởi v́ đấy chưa phải là hồi niệm đâu. Chúng chỉ là hồi niệm khi chúng biến thành máu chảy trong trái tim, trong thân thể người ta, khi chúng trở thành cái nh́n và những điệu bộ, không tên tuổi và không c̣n có thể tách thoát, phân biệt khỏi chính chúng ta. Chỉ tới lúc đó người ta mới có thể bất ngờ, trong một thời khắc hiếm hoi nào đó, viết ra chữ đầu tiên của một câu thơ đang bắt đầu ngoi lên từ trong những vùng âm u mờ mờ sương đục của hồi niệm và chảy tràn ra ngoài. [7] 

Thanh Tâm Tuyền đă dâng hiến cho đời nhiều ḍng thơ rất đẹp, những câu thơ đau khổ và phẫn nộ, hạnh phúc và thương yêu của ông làm cho ta chảy nước mắt. Nhưng nếu Thanh Tâm Tuyền chỉ có được mươi câu thơ hay, ông cũng xứng đáng cho ta yêu mến và cảm phục, bởi lẽ ông đă sống, đă tân toan trong đời sống, đă chịu đựng và ǵn giữ tất cả để trở nên một thi sĩ. 

Hăy choàng vào cổ thi sĩ một ṿng hoa và hăy để chàng ngồi giữa chúng ta trong cuộc đời này. 

Thi sĩ, hăy cho ta khóc bằng mắt anh những cuộc t́nh duyên và những đời người khốn khổ! 

1986

 

 

 

––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

[1]Trong một tiểu luận tựa đề là “Camus in America”, Serge Doubrovsky đă cho rằng Camus là một nhà văn vĩ đại của nước Mỹ. Và mặc dù Camus đương nhiên là một nhà văn lớn của Pháp, nh́n dưới khía cạnh quần chúng, ông vĩ đại hơn nữa trong ḷng người Mỹ. Trường hợp đặc biệt và độc nhất của Camus được tạo ra do một sự liên đới cảm nhận và chia sẻ giữa Camus, tác phẩm của ông và quần chúng Mỹ. Cái chết đột ngột của Camus làm chấn động bất cứ một con người nào có suy tư. Chưa nói đến phản ứng của giới văn học, có nhiều người b́nh thường đă nước mắt đầm đ́a khi nghe tin Camus chết; có những người khác thề nhịn ăn trong nhiều ngày. Trên nước Mỹ, nơi văn chương chỉ được coi là một hoạt động có tính cách phụ thuộc, cái chết của Hemingway và Faulkner không để lại những giọt nước mắt. Chưa nói là một tác giả ngoại quốc, một nhà văn nổi tiếng của Mỹ chết đi cũng không gây xúc động ǵ lắm trong ḷng quần chúng Mỹ cho bằng cái chết của một tay chơi football hồi hưu. Trường hợp Camus là trường hợp đặc biệt và độc nhất (“Camus in America”. Trích N.R.F., XCVIII (01/02/1961), 292-296, Ellen Conroy Kennedy dịch ra Anh văn).

[2]Xem Germaine Brée, Introduction to Camus, Prentice Hall, Inc. 1962.

[3]Thật sự, Thanh Tâm Tuyền không phải là người đầu tiên tự gọi tên ḿnh một cách đau khổ trong thơ. Trước đó, một nhà thơ khác cũng đă tự gọi tên ḿnh một cách thống khổ như thế. Xem Federico García Lorca, “Thơ ở New York”, “Đất và trăng”.

 

 

Quiero llorar porque me da la gana

como lloran los ninos del último banco

porque yo no soy un poeta, ni un hombre, ni una hoja

pero sí un pulso herido (...)

Quiero llorar diciendo mi nombre,

Federico García Lorca, a la orilla de este lago...

 

(Tôi muốn khóc bởi v́ tôi muốn khóc

như những đứa trẻ con khóc buồn trên những tay ghế dựa của những

kẻ ngẩn ngơ

bởi v́ tôi không là thi sĩ, cũng chẳng là con người, chẳng là cánh lá

nhưng chỉ là cái nẩy bật chảy máu của một vết thương (...)

Tôi muốn khóc và gọi tên tôi

Federico García Lorca, bên bờ hồ này...

[4]Xem Liên-đêm-mặt trời t́m thấy, 1964.

[5]Chữ của Plutarch (diễn lại ư của Simonides): “Painting is mute poetry, and poetry a speaking picture”, Irving Babbitt, The New Laokoon, Boston and New York, 1910.

[6]Những họa sĩ siêu thực đầu tiên, trong nỗ lực diễn tả những kinh nghiệm nội tâm, ở bên ngoài ư thức, đă đi theo con đường sử dụng các kỹ thuật của tâm lư học hiện đại. Sơn hay mực được vẩy đổ trên vải vẽ không có một mục đích để tạo một h́nh thể rơ rệt nào trong óc người sáng tạo. Những mảnh giấy nhỏ cũng được xé ra và thả xuống mặt tranh, tạo nên những sự kết hợp bất ngờ. Nhà nghệ sĩ siêu thực hy vọng rằng những sự kết hợp bất ngờ đó có thể là ch́a khoá mở toang cánh cửa tiềm thức của họ. Những họa sĩ siêu thực lớp sau phát triển tính cách siêu thực theo một kỹ thuật khác. Họ diễn tả lại cái thế giới của những giấc mộng mà họ có qua nỗ lực thực hiện những bức tranh tiến đến độ chính xác và rơ ràng như sự chính xác, rơ nét của một tấm ảnh chụp. Mặc dù có vẻ đứng ở một cực bên kia với những họa sĩ siêu thực đầu tiên trong kỹ thuật sáng tạo, những họa sĩ siêu thực lớp sau này cũng nhấn mạnh rằng h́nh ảnh trong tranh của họ là những h́nh ảnh tự phát, tự sinh, và có những liên hệ trực tiếp với những kinh nghiệm vô thức của thế giới nội tâm họ.

[7]Rainer Maria Rilke, The Notebooks of Malte Laurids Brigge, M.D. Herter Norton dịch ra Anh văn (W.W. Norton & Company, Inc., 1949).

 

 

 

 

 


 

 

Những người lính một thời bị lăng quên: Viết Lại Lịch Sử

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

 

 

 

 

 

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Your name:


Your email:


Your comments:


  Trang ChủKim ÂuBáo ChíDịch ThuậtTự ĐiểnThư QuánLưu TrữESPN3Sport TVMusicLotteryDanceSRSB RadioVideos/TVLearningLịch SửTác PhẩmChính NghĩaVấn ĐềĐà LạtDiễn ĐànChân LưBBCVOARFARFISBSTác GỉaVideoForum

 

 

US Senator John McCain , Kim Âu Hà văn Sơn

NT Kiên , UCV Bob Barr, Kim Âu Hà văn Sơn

 

 

 

 

 

 

NT Kiên , Kim Âu Hà văn Sơn, Ross Perot  Cố Vấn An Ninh Đặc Biệt của TT Reagan và NT Sám

 


Sai Gon Echo

Viễn Đông Daily

Người Việt

Việt Báo

Việt List

Xây Dựng

Việt Thức

Việt Tribune

Bia Miệng

Saigon Times USA

Người Việt Seatle

Cali Today

Dân Việt

Việt Luận

Nam ÚcTuần Báo

Tin Mới

Tiền Phong

Xă Luận

Dân Trí

Tuổi Trẻ

Express

Lao Động

Thanh Niên

Tiền Phong

Tấm Gương

Sài G̣n

ThếGiới

Bắc Bộ Phủ

Nguyễn Tấn Dũng