Nhà Thờ Họ Đạo Tha La.

 

 

 

 

 

Thơ Vũ Anh Khanh

Tha La Xóm Đạo:

 

Buồn trưa trưa lây lất buồn trưa trưa

Buồn xưa xưa ngây ngất buồn xưa xưa

 

 

 

 

THA LA

 

XÓM ĐẠO

 

 

 

 

Năm 1950 tôi không được biết một văn nghệ sĩ nào ở Hà Nội, năm 1951 tôi không được biết một văn nghệ sĩ nào ở Sài G̣n, lại c̣n đi học sống nhờ cơm cha, áo mẹ, tôi không có điều kiện t́m biết về t́nh h́nh văn nghệ Sài G̣n thời ấy. Đọc trong mấy tờ tạp chí, tuần báo Sài G̣n thấy có những văn đoàn hàm thụ, tôi gửi thư gia nhập hai, ba văn đoàn. Những văn Thi Đ̣an có những cái tên thật hay nhưng tôi sớm thấy sự hiểu biết về văn chương của những ông Trưởng Đoàn không hơn ǵ tôi, tôi hỏi “Tiểu thuyết luận đề” là ǵ? Không ông nào trả lời tôi được suông sẻ.

Nhưng tôi thấy một t́nh trạng đáng ghi là trong những năm 1948, 1949 nhiều tác phẩm tiểu thuyết có đề tài kháng chiến chống Pháp, tất nhiên là không ra mặt tuyên truyền, không đả kích thẳng mặt thực dân cướp nước, không lộ liễu đề cao người kháng chiến, được xuất bản và bán đàng ḥang trong những tiệm sách Sài G̣n. Nhà Xuất Bản Sông Gianh năm ấy ở đường Trần Hưng Đạo, in mấy quyển tiểu thuyết tôi thấy thật hay của Lư Văn Sâm. Tôi nghe nói những năm 1948, 1949 ông Nguyễn Văn Lộc, Luât sư, từng làm Thủ Tướng Chính Phủ Quốc Gia, là người chủ trương Nhà Xuất Bản Sông Gianh. Không nhớ có phải là truyện của Lư Văn Sâm hay không, một tiểu thuyết của Nhà Xuất Bản Sông Gianh tôi đọc năm 1951 làm tôi cảm khái là truyện viết về hai anh em một ông Vua, có thể Vua nước Ai Lao. Ông Vua Anh phải cộng tác với người Pháp để giữ nước, giữ dân và giữ ngôi, ông Vua Em bỏ kinh đô đi lập chiến khu chống Pháp dành độc lập. Cảnh làm tôi cảm động là cảnh ở cuối truyện: buổi chiều Ông Vua Anh chống kiếm đứng trên thành, nh́n về chân trời mây bạc xa xa, nhớ người em đang phiêu bạt dưới chân trời ấy.

 

Và tôi đọc mấy bài thơ của Vũ Anh Khanh. Lọai thơ kháng chiến ấy không có trong sách báo Hà Nội những năm 1950. Năm mươi năm, tính từ 1951 đến nay 2006, tôi nhớ những câu Thơ Vũ Anh Khanh:

 

* Hỡi ơi cô gái đô thành nội

Ai điểm trang mà Em phấn son?

* Ngày xưa Mẹ đóng cho con sách

Dành dụm cho con đến học đường.

Ngày nay khi thấy non sông rách

Mẹ gửi con ra băi chiến trường..

* B́nh minh trên đỉnh Trường Sơn lạnh

Ngạo mạn nh́n ra biển Thái B́nh.

 

Tôi biết bài thơ Tha La Xóm Đạo của Vũ Anh Khanh, nhưng tôi không nhớ câu nào.

Tháng 12 năm 1974, trên xe ô tô từ Quảng Nam ra Huế,

lần qua Đèo Hải Vân cuối cùng trong đời tôi ; khi xe lên tới đỉnh đèo, tôi nh́n lên đỉnh núi, tôi nh́n xuống biển, thây những làn sóng biển vào ghềnh đá tung bọt nước lên trắng xóa, tôi nói với người bạn trẻ ngồi bên :

- Chắc chú không biết hai câu thơ này. Thơ của một người làm thơ ngày xưa tên là Vũ Anh Khanh : B́nh minh trên đỉnh Trường Sơn lạnh.. Ngạo mạn nh́n ra biển Thái B́nhà

Lư Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, năm 1954, từ Đồng Tháp Mười đến nơi ị tập kết Ể, lên tầu biển Ba Lan ra miền Bắc. Những ngày như lá, tháng như mây theo nhau qua, tôi nghe nói, nhưng không chắc, Lư Văn Sâm trở vào Nam, bị bắt làm tù binh, bị bắn chết trong một cuộc phá trại. Chuyện biết chắc về Lư Văn Sâm là sau năm 1954 Nhà Văn mất tích trên cơi đời này.

Nhà Văn Xuân Vũ, những năm 1985, 1995 ở Hoa Kỳ có viết về Lư Văn Sâm và Vũ Anh Khanh. Xuân Vũ kể Vũ Anh Khanh bị bọn Bắc Cộng canh sông bắn chết khi ông lội qua sông Bến Hải về bờ Nam của ḍng sông Định Mệnh. Nhà Thơ về Nam, Nhà Thơ không sang Nam.

Năm 2006, Tha La Xóm Đạo của Vũ Anh Khanh trở lại với tôi khi tôi sống những ngày sầu muộn cuối đời ở Kỳ Hoa Đất Trích. Nguyễn Đạt, ở Sài G̣n, người cảm động v́ Thơ Tha La Xóm Đạo những năm 1950, Tháng Tám 2006, đă t́m đến Tha La Xóm Đạo Đây là bài Nguyễn Đạt viết về Xóm Đạo Tha La :

THA LA XÓM ĐẠO. Nguyễn Đạt, viết ở Sài G̣n, Tháng Tám 2006.

 

Đây Tha La xóm đạo

Có trái ngọt, cây lành

Tôi về thăm một dạo

Giữa mùa nắng vàng hanh.

Ngậm ngùi Tha La bảo:

- Đây rừng xanh, rừng xanh.. !

Bụi đùn quanh ngơ vắng

Khói đùn quanh mái tranh

Gió đùn quanh mây trắng

Và lửa loạn xây thành.. !

 

 

Một đoạn trong bài thơ rất dài của Vũ Anh Khanh tôi thuộc ḷng từ những năm tôi học trung học ở Sài G̣n. Bài thơ tôi nhớ tên, nhưng không biết Tha La Xóm Đạo ở đâu trên quê hương tôi. Bài thơ qua bao năm tháng không nhẩm lại, tôi đă quên gần hết. Thi sĩ viết bài thơ bằng nhiều thể lọai, như một vở Kịch Thơ.

Từ lúc biết bài thơ Tha La Xóm Đạo, tôi có nghe nói về Thi sĩ Tác giả : Vũ Anh Khanh, tham gia kháng chiến, tập kết ra Bắc sau Hiệp Định Geneve năm 1954 chia đôi đất nước. Năm 1957, Vũ Anh Khanh vượt tuyến trở về miền Nam. Khi bơi qua sông Bến Hải, lúc bấy giờ là vùng phi quân sự, những viên chức chính quyền hai bờ không được có súng, Vũ Anh Khanh bị những người canh sông bờ Bắc bắn chết bằng mũi tên tẩm thuốc độc.

Ở Sài G̣n có nhiều người biết bài thơ Tha La Xóm Đạo, nhưng ít người thuộc cả bài, mỗi người nhớ vài đọan thơ ḿnh cảm khái nhất. Lại có bản Tân Cổ Nhạc giao duyên làm theo lời thơ Tha La Xóm Đạo nên càng có nhiều người biết, đa số người biết và nhớ là người b́nh dân. Bài thơ và cái tên Tha La Xóm Đạo ám ảnh tôi, nhưng khi tôi hỏi Tha La Xóm Đạo ở đâu, không ai biết cả.

Sau ngày 30 Tháng Tư 1975 tôi quen một người làm văn nghệ tên là Hoài Anh từ miền Bắc Xă Hội Chủ Nghĩa vào làm việc ở Sài G̣n. Nhà văn Hoài Anh đă trọng tuổi, thường viết những bài khảo cứu văn học. Trong một lần tṛ chuyện, tôi nghe ông nói ông đang biên soạn một tác phẩm về những văn nghệ sĩ miền Nam trong thời kháng chiến chống Pháp. Tôi hỏi ông có viết về Vũ Anh Khanh không ? Dĩ nhiên là ông lắc đầu, nhưng ông nói ông có gặp Vũ Anh Khanh ở Hà Nội, ông khen Thơ Vũ Anh Khanh. Ông nói :

- Thơ Vũ Anh Khanh đăỳc sắc nhất trong số những nhà thơ miền Nam thời đó, như Khổng Dương, Hoàng Tố Nguyên, Thẩm Thệ Hà, Kiên Giang. Nh́n bề ngoài, Vũ Anh Khanh không có vẻ nhà thơ như ta thường thấy, Vũ Anh Khanh lầm ĺ, nước da sạm đen, mắt sắc, trông như tráng sĩ Kinh Kha bên bờ sông Dịch một đi không trở lại.

Đó là lời nhà biên khảo Hoài Anh nói với tôi về Vũ Anh Khanh. Lại chính Hoài Anh, người từ miền Bắc vào Nam ấy lại cho tôi biết Tha La Xóm Đạo ở đâu,

- Anh đến Trảng Bàng, hỏi bất cứ người dân địa phương nào, người ta cũng chỉ đường cho anh đến Tha La Xóm Đạo.

Cách đây vài năm, lần thứ nhất tôi tới quận Trảng Bàng để t́m Tha La Xóm Đạo, nhưng lần ấy tôi không đến được Tha La. Từ Sài G̣n, tính từ bến xe đi Tây Ninh ở Bà Quẹo, Tân B́nh, tới Trảng Bàng chỉ trên dưới 45 cây số. Tôi đến Trảng Bàng, hỏi đường một bà ở bến xe, bà nói :

- Chú thấy con đường bên hông chợ đó, chú đi vào đường ấy, chỉ ba, bốn cây số là tới ấp Tha La. Chú thấy bên đường có cái bảng Ấp Văn Hóa ở đầu con lộ nhỏ, chú quẹo vô đi một quăng là thấy nhà thờ Tha La.

Tôi đi theo lời bà. Đúng như bà nói, đi chừng hai, ba cây số tôi đến Ấp Tha La, rồi tôi thấy cái bảng Ấp Văn Hóa bên đường. Trên xe đạp, tôi đi vào con đường đó. Đường đất đỏ, bằng phẳng, thẳng tắp. Hai bên đường là hai hàng cây xanh, nhưng tôi đi măi, đi ra tới ruộng mà vẫn không thấy nhà thờ đâu. Tôi quay lại, ghé vào một quán nứơc bên đường. Vào đây hỏi chắc chắn tôi sẽ t́m ra được Nhà Thờ Tha La, chỉ quanh đây thôi. Nhưng vào quán, vừa ngồi chưa kịp hỏi, tôi nh́n thấy trong quán có một thanh niên mặc đồ thường nhưng có bộ mặt rất công an mật vụ. Anh ngó tôi lom lom. Tôi tự nhủ : Không hồn th́ đi khỏi nơi đây ngay ! Tôi nhấp qua loa ly cà phê đá, trả tiền rồi lẳng lặng đi ra.

Ra đường, tôi tiếc công, đă đến được đây mà không t́m ra xóm đạo, ḿnh bét quá. Tôi lại đạp xe đi chầm chậm trở lại đọan đường tôi đă đi, vừa đi vừa nh́n quanh hai bên. Tôi không gặp người nào để hỏi. Đi tới bờ sông là hết đường đi. Tôi đang ngừng xe xớ rớ ở đó th́ anh công an bận thường phục trong quán nước tới sau lưng tôi, anh cũng đi xe đạp. Anh lạnh lùng nói :

- Tôi là công an địa phương. Anh cho tôi coi chứng minh nhân dân.

Có mấy hàng chữ trên cái thẻ mà anh đọc thật lâu. Rồi, vẫn cầm cái thẻ của tôi, nh́n mặt tôi như nh́n kẻ thù, anh hỏi :

- Anh đến đây làm ǵ ?

Tôi trả lời tôi đến t́m người quen, nghe nói ở đây nhưng tôi t́m không thấy, chắc đă đi nơi khác mà tôi không biết. May cho tôi. Nếu tôi nói thật tôi đến t́m Tha La Xóm Đạo v́ bài thơ Tha La Xóm Đạo của Nhà Thơ Vũ Anh Khanh làm tôi cảm động từợ những năm 1950 tôi 15, 16 tuổi, rất có thể anh công an cho là tôi nói láo, rất có thể anh nghi tôi đến t́m mối vượt biên, hay liên lạc với tổ chức phản động, anh bắt tôi về trụ sở công an để điều tra. May sao hỏi đáp trật ch́a một lúc anh trả thẻ tôi, tôi đạp xe một mạch thẳng ra bến xe, xe đạp theo người lên xe hàng, trở về Sài G̣n. Hú vía !

Thế rồi mới đây tôi trở lại Trảng Bàng t́m Tha La Xóm Đạo. Lần này tôi biết Tha La Xóm Đạo thuộc Xă An Ḥa, huyện Trảng Bàng. Xă An Ḥa có 7 Ấp, Ấp nào cũng là Ấp Văn Hóa, Ấp nào cũng có cái bảng Ấp Văn Hóa dựng ở đầu đường vào Ấp. Lần trứơc tôi đă vào lầm Ấp An Qưới, xă An Ḥa.

Lần này tôi đến được Tha La Xóm Đạo. Con đường dẫn vào Ấp An Hội đất đỏ có trải đá vụn, thẳng tắp giữa hai hàng cây xanh, nhà thờ Tha La ở cuối đường, giáp bên ḍng sông, sông này là con sông tôi đă đến lần trước.

 

Nhà Thờ Tha La khang trang, giữa khưôn viên rộng. Trên khu đất trống trứơc nhà thờ chất cao những đống tre tầm vông. Bên trái nhà thờ có ṭa nhà lớn, không biết là trường học hay cơ quan. Hôm nay là ngày Chủ Nhật 20 Tháng Tám, 2006, cửa ra vào và cửa sổ ṭa nhà đóng kín, thấy có tấm bảng nhỏ ị Tổ Văn Hóa Ể gắn trên một cửa sổ ṭa nhà.

Cổng sắt nhà thờ Tha La khép hờ. Trong sân vài em trai chín, mười tuổi, dong xe đạp chạy chơi quanh nhà thờ. Phía trái nhà thờ, giữa những hàng cây, một ṭa nhà kiến trúc theo kiểu nhà ở của những ông Cha Xứ Đạo bên Tây. Xóm đạo ở bên nhà thờ, đa số nhà cửa đều khang trang, khá giả, có vài biệt thự to đẹp không khác ǵ những biệt thự của người Pháp xưa ở Sài G̣n.

Tôi vào một quán nước. Chủ quán, một phụ nữ ngoài 40 tuổi, cho tôi biết thường ngày có hai buổi lễ ở nhà thờ, sáng và chiều, ngày chủ nhật thêm môt phiên lễ buổi sáng. Chị nói :

- Những người già như bà ngọai của tui dâng lễ ở nhà. Mỗi tuần ít nhất là một lần Cha Sở đến tận nhà thăm hỏi những ông bà già.

Tôi hỏi :

- Cha Sở nhà thờ là người Nam, phải không ạ ?

Chi chủ đáp :

- Dạ. Hai cha đều là người Nam.

- Chị có biết bài thơ Tha La Xóm Đạo không ?

- Biết chớ. Bài đó là bài ca mà ?

Chị chủ nói ḍng sông ở đây là một con kênh : Kênh Vàm Trắng, từ sông Vàm Cỏ Đông lên tới Tây Ninh. Ghe buôn các nơi theo kênh đến bến Vàm Trảng gần ngay đây đổ hàng, nhiều ghe lấy cát ở đây đem đi. Từ năm 1975 có tới một nửa dân số Tha La Xóm Đạo đi ra nứơc ngoài. Những người này gửi tiền về giúp thân nhân nên cuộc sống của người dân Tha La rất đỡ khổ.

Buổi chiều, tôi đến thăm Thầy Tuệ Sĩ, kể chuyện tôi đến Tha La Xóm Đạo. Thầy chầm chậm đọc :

Buồn trưa trưa lây lất buồn trưa trưa

Buồn xưa xưa ngây ngất buồn xưa xưa..

Tôi kêu lên :

- Ồ.. Thầy nhớ Thơ Tha La Xóm Đạo nhiều hơn tôi.

Thầy mỉm cười :

- Không nhớ nhiều hơn ai đâu. Tôi mới đọc lại bài thơ ấy trong Khởi Hành số Tháng Sáu, Tháng Bẩy ǵ đó. Ông Viên Linh có nhiều văn liệu xưa hay lắm.

Tôi hỏi muợn số báo Khởi Hành có bài thơ Tha La Xóm Đạo của Vũ Anh Khanh, thầy nói có người đang mượn. Thầy hỏi tôi đến Tha La có làm được câu thơ nào về Xóm Đạo Tha La không ? Tôi nói có. Tôi nói bừa đi, tôi có phải là thi sĩ đâu mà tức cảnh sinh t́nh, thấy cảnh làm ngay được thơ. Thầy Tuệ Sĩ với tôi nói sang chuyện cuộc sống và cái chết của Vũ Anh Khanh. Cái chết ấy đừng ai nói đắt, rẻ, đúng, sai. Vũ Anh Khanh cần Tư Do nên đi t́m Tự Do. Thi sĩ sống trong “tấm màn sắt “ có hơn ǵ cái chết !

Sau mấy ly trà, tôi cũng đọc được mấy câu thơ để thoát tội nói dối tôi có làm thơ khi đến Xóm Đạo Tha La :

 

Tôi tới nơi này giữa giấc trưa

Tha La Xóm Đạo nhớ hôm xưa.

Bài thơ hận cũ muà ly loạn

Trong gió hôm nay vẫn dật dờ !

                                               

 Nguyễn Đạt

 

Những người làm văn học miền Bắc Xă Hội Chủ Nghĩa không kể Thi sĩ Vũ Anh Khanh trong số những Nhà Thơ Kháng Chiến Miền Nam v́ Thi sĩ bỏ miền Bắc trở về miền Nam.

Sự việc Vũ Anh Khanh khi vuợt sông Bến Hải, bị bọn công an Bắc Cộng canh sông, đuổi theo bắn chết bằng cung, bằng tên tẩm độc, cho thấy bọn Bắc Cộng gian manh có ác ư giết người và có sự chuẩn bị cho việc chúng giết người : Hiệp Định Geneve có khoản hai bên bờ sông là khu phi quân sự, viên chức chính quyền hai bên trong khu đó không được dùng súng; không được dùng súng th́ bọn Quỉ Bắc Cộng dùng cung, dùng nỏ, dùng tên độc để giết người Việt Nam. Chúng qua mặt cái rẹt những vị trong Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến, các sĩ quan Ấn Độ, Canada đâu có ai biết ǵ về cung tên.

 

                                                                       

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG

                       

 

 

 

 

CHÍNH NGHĨA 

 

   

Chính Nghĩa Tự Có Tính Thuyết Phục - Nhân Nghĩa Tự Có Tính Cảm Hoá