Thành tích của

ông Rumsfeld

hay là một chuỗi những sai lầm

khốc hại cho Hoa Kỳ 

 

 

Nguyễn Anh Tuấn

 

 

 

Có nhiều nguyên nhân để giải thích v́ sao ông tổng trưởng quốc pḥng Donald Rumsfeld bị cho thôi việc một cách nhanh chóng và bất ngờ ngay sau khi kết quả cuộc bầu cử Quốc Hội Mỹ diễn ra vào ngày 7 tháng 11: sự bất tài đă không điều hành cuộc chiến tại Iraq (để chống khủng bố) một cách hữu hiệu, hay sự thất bại trong việc cải tiến bộ máy quân sự ở Ngũ Giác Đài, hoặc là con dê tế thần đắc ư nhất để thoả măn sự bực tức của đa số cử tri Hoa Kỳ đối với chính quyền Bush trước những thất bại liên tiếp tại chiến trường Iraq.

 

Cũng có thể là TT Bush phải miễn cưỡng cách chức ông Rumsfeld v́ ông không muốn tên tuổi và uy tín cá nhân của ḿnh sẽ đồng nghĩa với cuộc thất bại quân sự hiện nay tại Iraq, hoặc v́ ông Bush muốn chạy theo một chiến lược mới hữu hiệu hơn, muốn tránh tạo nên t́nh trạng nổi loạn và chống đối ngầm từ phía các tướng lănh cao cấp ở Bộ Tổng Tham Mưu, hoặc là để c̣n hy vọng cứu vớt cho tương lai của phe Cộng Hoà trong cuộc bầu cử kỳ tới vào năm 2008.

 

Quả thật là trong số những khiếm khuyết để người khác có thể chỉ trích ông, đề tài Iraq đứng đầu trong danh sách với những lỗi lầm chiến lược vô cùng quan trọng. Đúng lư ra th́ những lỗi lầm của người đứng đầu bộ máy quốc pḥng của Mỹ đă phải khiến ông mất chức từ lâu rồi, chứ không phải đợi đến sau kết quả bầu cử giữa mùa vào cuối năm 2006. Đầu tiên là quyết định một cách độc tài và ngoan cố của ông trong việc cứ khư khư chủ trương một lực lượng cơ động và nhẹ (hiểu là ít quân, khoảng 150,000 người) để thực hiện cuộc chiến tấn công Iraq lần này thay v́ cứ phải đeo đuổi theo quy ước cũ là phải có một lực lượng hùng hậu cỡ nửa triệu binh lính như trường hợp của cuộc chiến tại Iraq lần đầu vào năm 1991. Rồi đến chuyện ngạo mạn và ỷ y về một chiến thắng vinh quang và tất yếu nên không cần quan tâm hay chú trọng đến việc lập kế hoạch b́nh định sau khi đè bẹp được địch thủ trong bước đầu. Bởi thế cho nên ông đă dửng dưng phán một câu xanh rờn "Stuff happens" (?, th́ chuyện đó xảy ra như vậy) khi bị báo giới hỏi về nhận xét trước cảnh dân Iraq cướp bóc hôi của tại thủ đô Baghdad trong khi quân lính Mỹ án binh bất động. Và trong thời gian b́nh định Iraq sau khi đă đánh đổ được chế độ của Saddam Hussein, ông Rumsfeld cũng đă có hai quyết định sai lầm nghiêm trọng khác, dẫn đến việc lớn mạnh của phong trào nổi loạn của phiến quân khiến cho t́nh h́nh an ninh tại Iraq không c̣n được bảo đảm để tính đến chuyện tái thiết: đó là việc giải giới toàn bộ quân đội Iraq cũng như thanh trừng tất cả những thành viên của đảng Baath, không cho nhận bất cứ công ăn việc làm nào trong bộ máy điều hành của chính quyền mới. Hậu quả là đất nước Iraq rơi vào t́nh trạng thiếu nhân sự cần thiết và có kinh nghiệm gồm thành phần đa số các công chức và quân nhân để điều hành bộ máy của chính quyền. Tệ hơn nữa là thành phần mất việc này trút sự bực tức của họ lên đạo quân chiếm đóng, và từ đó bước sang lằn ranh của phiến quân một cách không khó khăn, khiến cho lực lượng phiến quân lúc ban đầu chỉ gồm lẻ tẻ một ít tàn dư của Saddam để tổ chức một vài vụ đặt bom nội hoá trong một tháng, nhưng rồi sau đó lớn dần một cách mau chóng và có tổ chức phối hợp để thực hiện thường xuyên các vụ tấn công quậy phá khắp nơi với cường độ khốc liệt hơn và nhịp độ tăng cao hàng chục vụ mỗi ngày, trở thành một mối ám ảnh kinh hoàng cho các đạo quân tuần tiễu của Hoa Kỳ trong thời gian qua.

 

Chính v́ những lỗi lầm chiến lược to lớn này của ông Rumsfeld đă khiến cho cuộc chiến tại Iraq, từ khởi thuỷ đă là một chiến dịch khó khăn, nay trở thành một cuộc chiến không thể thắng được (unwinnable), theo như lời thú nhận mới đây của ông Henry Kissinger, cựu cố vấn an ninh quốc gia thời TT Nixon. Tương tự như vậy, cũng v́ bản tính hiếu chiến, hiếu thắng và ngạo mạn, xem thường đối thủ, rẻ rúng đồng minh với những lời nói xấc xược chưa từng thấy ở một viên chức cao cấp trong chính quyền một cường quốc, ông Rumsfeld đă bỏ lỡ cuộc chiến tại A Phú Hăn để vội quay sang mục tiêu mới là Iraq, khiến cho chiến thắng lúc ban đầu của quân đội Hoa Kỳ không được hoàn hảo để có thể dứt điểm được đối phương. Chính v́ thế mà hơn năm năm sau, phe Taliban đă bị đánh tả tơi lúc trước nay đă bắt đầu mon men hồi sinh để tiếp tục tổ chức các vụ tấn công dằng dai khiến cho t́nh h́nh tại đây cũng bất an và lực lượng NATO đă phải huy động lực lượng hơn 30,000 quân đồng minh để tiếp tục trong sứ mạng khó khăn để bảo vệ an ninh tại nước này.

 

Những lỗi lầm trên không phải là những sơ hở, lầm lỗi chiến thuật như bà ngoại trưởng Condoleezza Rice đă phát biểu trước đây để ra cái điều là ta đây cũng biết nh́n nhận lỗi lầm chứ không phải lúc nào cũng ngoan cố như lời chỉ trích thường xuyên của giới truyền thông. Nó có tính cách trọng đại hơn, ở tầm mức chiến lược đă sai lầm cho nên dù có những toán quân tinh nhuệ đến mấy đi chăng nữa, hoặc với vũ khí tinh khôn hay tối tân, cùng với những chiến thuật khôn ngoan và kinh nghiệm già dặn của các toán quân thiện chiến của Hoa Kỳ, cũng không thể vượt qua được những sai lầm trở ngại nặng nề như vậy để mong t́m được thắng lợi sau cùng. Trách nhiệm sai lầm chiến lược chắc chắn phải nằm ở những ông tướng tư lệnh chiến trường và bộ tổng tham mưu ở Ngũ Giác Đài dưới quyền của ông Rumsfeld, và có lẽ quan trọng hơn hết là nằm ở vị tổng tư lệnh tối cao của quân đội là TT George W. Bush.

 

Chẳng trách nào mà ban chủ biên của các tạp chí quân đội từ Lục Quân sang Không Quân và Hải Quân cũng như của Thuỷ Quân Lục Chiến đă buộc ḷng và can đảm dám nói lên tiếng nói trung thực của ḿnh khi viết một bài quan điểm phê b́nh về sự thất bại của ông Rumsfeld trong khi các vị tướng lănh khác th́ không ai dám lên tiếng phê b́nh nếu như không muốn con đường binh nghiệp của ḿnh bị ông Rumsfeld trù dập. Tuy vậy cũng có một số ít các tướng lănh đă can đảm xin giải ngũ để có thể tự do lên tiếng chỉ trích thẳng thừng ông sếp dân sự cao ngạo này.

 

Quả thật là cuộc chiến Iraq, nếu tính từ chiến công chiếm được thủ đô Baghdad và kéo sập được bức tượng của nhà độc tài Saddam Hussein vào tháng 5-2003 đến thời điểm hiện nay vào cuối năm 2006, th́ nó đă đi từ thất bại nhỏ đến thất bại lớn, để rồi cuối cùng tạo nên một con quái vật mới là Iraq đang trên đà hỗn loạn v́ nội chiến xâu xé v́ sắc tộc và giáo phái. Hậu quả thê thảm không lường trước được, không những cái giấc mộng huy hoàng về một Iraq tự do dân chủ làm đuốc soi đường cho khối Ả Rập và Hồi-giáo đă trở thành ác mộng kinh hoàng, mà nó c̣n cơ nguy kéo theo những sự bất ổn tràn lan sang các quốc gia lân cận, có thể biến cả vùng Trung Đông này rơi vào một t́nh trạng nhiễu nhương rộng lớn, gây lo ngại cho nhiều quốc gia trên thế giới với nhu cầu tiêu thụ dầu thô được sản xuất từ vùng đất này. Ấy thế mà cho đến ngày 7 tháng 11 năm 2006, không có một tướng lănh tư lệnh ở chiến trường cũng như viên chức chỉ huy dân sự cao cấp nào đă phải chịu lănh trách nhiệm. Chỉ có ông tướng 3 sao Ricardo Sanchez, tư lệnh lực lượng quân đội ở chiến trường Iraq, là coi như mất cơ hội được thăng 4 sao v́ vụ x́-căng-đan hành hạ và tra tấn tù nhân ở Abu Ghraib cũng như đă không dẹp tan được lực lượng phiến quân, khiến cho những lời hứa huyên hoang của ông PTT Cheney (về bọn phiến quân đang sửa soạn dẫy chết) trở thành lố bịch.

 

V́ chính quyền Bush đă cố t́nh móc ngoéo cuộc chiến tại Iraq với cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu (để biện minh sau khi những bằng chứng về cái gọi là kho vũ khí tàn sát quy mô đă trở thành tin t́nh báo sai lạc), nên thất bại tại Iraq cũng có thể coi là sự thất bại của cuộc chiến chống khủng bố. Rơ ràng là Ngũ Giác Đài dưới quyền của ông Rumsfeld đă không có một chiến lược rơ ràng và cụ thể nào để mong giành được thắng lợi trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu này. Trong một công văn gửi cho các phụ tá trong bộ tham mưu của ḿnh vào tháng 10 năm 2003 (và sau này được x́ ra ngoài cho báo giới biết), chính ông Rumsfeld cũng đă phân vân tự hỏi rằng không biết chúng ta (Hoa Kỳ) có định h́nh được những tiêu chuẩn khách quan nào để có thể xác định hay đánh giá rằng Hoa Kỳ đang thắng hay thua trong cuộc chiến này. Điều đáng lo ngại nhất là hơn ba năm sau đó, và hơn năm năm sau ngày quyết định tấn công tổ chức al-Qaida, ông Rumsfeld cũng chưa t́m ra lời giải đáp thoả đáng cho câu hỏi hóc búa đó.

 

Có lẽ thành tích cá nhân của ông trong việc lấn áp các người đồng sự khác trong nội các (như cố vấn an ninh quốc gia Condoleezza Rice và ngoại trưởng Colin Powell) cũng như gây khiếp sợ cho tất cả các vị tướng lănh dưới quyền trong thời gian qua đă khiến cho chính quyền Bush cứ biết nhắm mắt đi theo con đường mù quáng do ông tự vạch ra, không cần đếm xỉa ǵ đến những lời khuyên can hay cố vấn, góp ư của nhiều chuyên gia kinh nghiệm khác. Đă đành là những h́nh ảnh tang thương và kinh hoàng của vụ tấn công khủng bố 9/11 vẫn c̣n in sâu trong kư ức của mọi người dân Mỹ khiến cho không ai ngần ngại hay chống đối việc chính quyền Bush quyết sử dụng sức mạnh quân sự để giải quyết vấn đề, nhưng việc chỉ chú trọng đến gần như duy nhất cho một giải pháp quân sự chưa chắc đă là một đáp số hoàn hảo nhất. Biết đâu rằng nếu như Hoa Kỳ chịu khó áp dụng một kế hoạch rộng lớn bao gồm đủ địa hạt từ chính trị, ngoại giao, quân sự, t́nh báo cho đến an ninh nội địa th́ có thể đă lôi kéo sự ủng hộ mạnh mẽ và lâu dài của hầu hết các quốc gia đồng minh khác, như họ đă biểu lộ sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, để có thể chiến đấu trường kỳ trong một cuộc xung đột có thể kéo dài cả thế hệ là cuộc chiến chống khủng bố.

 

Kể từ ngày nhậm chức vào đầu năm 2001, ông Rumsfeld đă tung ra một loạt những hứa hẹn to lớn và táo bạo là sẽ t́m cách biến đổi bộ máy quân sự của Hoa Kỳ, chuyển từ giai đoạn kỹ nghệ sang thời kỳ tin học mau lẹ và tân kỳ. Phương pháp mà ông sẽ áp dụng là cách mạng hoá cả bộ máy quân sự gồm chiến cụ lẫn hệ thống và tư duy điều hành của Ngũ Giác Đài, vốn là một bộ máy hành chánh khổng lồ với những nề nếp đă thành h́nh từ lâu và khó phương thay đổi trong một sớm một chiều. Ông Rumsfeld không chấp nhận quan điểm và tinh thần cố hữu đó. Ông tự cho ḿnh đảm nhận vai tṛ của một ông tổng giám đốc có kiến thức và tinh thần can đảm dấn thân, sẵn sàng bắt tay vào việc cải tổ bộ máy hành chánh nổi tiếng là ĺ lợm và quan liêu khó sửa đổi này. Thế nhưng đằng sau những lời lẽ đao to búa lớn có vẻ hùng hổ như vậy, cuối cùng ông cũng chẳng tạo nên được những thay đổi sâu xa ǵ lắm trong chiến dịch cải tiến này. Ông muốn dẹp bỏ những loại chiến cụ cồng kềnh cũng như các căn cứ đồn trú với quân số đông đảo, và thay vào đó bằng những loại vũ khí tân kỳ hơn như hệ thống pḥng thủ phi đạn, các chiến đấu cơ tối tân và thần tốc như F-35 (Joint Strike Fighter), kế hoạch Future Combat Systems tức là trang bị cho các binh lính thuộc Lực Lượng Đặc Biệt đầy đủ phương tiện tân kỳ để có thể tự điều động và phối hợp các phương tiện của đủ quân binh chủng khác khi lâm trận. Tuy nhiên, cuối cùng th́ ông cũng chẳng đạt được thành tích ǵ khả quan, một phần v́ ông đă gặp sự chống đối âm ỉ những mănh liệt của nhiều thế lực khác nhau từ hệ thống tổ chức của quân đội cho đến các công ty đấu thầu về quân sự cũng như là Quốc Hội Mỹ, cơ quan có thẩm quyền kiểm soát hầu bao của tất cả các ngành trong chính quyền.

 

Trong nỗ lực chống chỏi với nhiều thế lực khác nhau đó, ông Rumsfeld cuối cùng đă phải chịu thua, nhưng đồng thời ông cũng đă tạo ra những hậu quả tai hại cho quân đội cũng như quốc gia Hoa Kỳ. Thứ nhất là với bản tính cao ngạo, ông đă xem thường tất cả các vị tướng tư lệnh trong bộ tổng tham mưu, không thèm đếm xỉa ǵ đến ư kiến hay nhận định của các sĩ quan chuyên nghiệp này. Một số những chi tiết khá lư thú được tiết lộ trong cuốn sách State of Denial của nhà báo Bob Woodward cũng đủ cho thấy là ông Rumsfeld đă xem thường đến gần như "rút hết lông cánh" (emasculated) của Đại tướng Richard Myers, tổng tham mưu trưởng quân lực Mỹ. Trên nguyên tắc, tuy vị tướng này nằm dưới quyền chỉ huy của ông tổng trưởng quốc pḥng, nhưng ông cũng được coi là một cố vấn đặc biệt cho tổng thống trong các vấn đề quân sự, và do đó có đặc quyền được tiếp xúc trực tiếp với tổng thống để có thể đưa ra những lời b́nh phẩm thẳng thắn hay nhận xét trung thực.

 

Tuy nhiên, dưới thời ông Rumsfeld, tất cả các vị tướng tư lệnh đều phải răm rắp tuân lệnh và thi hành, và chớ có đưa ra ư kiến khác biệt nào khác. Thí dụ điển h́nh nhất để chứng minh cho hành động uy hiếp và khoá miệng các tướng lănh cao cấp là việc ông Rumsfeld đă bôi bác và sau đó t́m cách giải nhiệm sớm Đại tướng Eric Shinseki, Tư lệnh Lục Quân, chỉ v́ ông này đă trót dại khai thật trước Thượng Viện rằng cuộc chiến tại Iraq sẽ đ̣i hỏi một lực lượng vài trăm ngàn quân Mỹ đến trú đóng, và trong một thời gian dài, để có thể giữ ǵn được an ninh tại đây. Tuy ông không ra lệnh cách chức nhưng ông Rumsfeld chỉ cần tuyên bố là đă bổ nhiệm cho một vị tướng khác làm Tư Lệnh Lục Quân, một lời tuyên bố phong chức sớm cả năm trời trước khi nhiệm kỳ của ông Shinseki đáo hạn. Ngụ ư của việc làm này là biến ông tướng Shinseki trở thành một người hết thực quyền, "có tiếng mà không có miếng", trở thành "ngồi chơi xơi nước" v́ tất cả các tướng lănh đồng sự hay dưới quyền đều biết rằng các quyết định quan trọng đều sẽ phải chờ cho vị tướng lănh mới sẽ lên cầm quyền sau đó. Hành động đàn áp trả thù tiểu nhân kiểu này đă làm cho mối liên lạc giữa ông tổng trưởng quốc pḥng và các tướng lănh tư lệnh càng căng cứng hơn nữa, đồng thời cũng là một thông điệp rơ ràng cho mọi người biết rằng đối với ông Rumsfeld sự trung thành sẽ có giá trị hơn là sự thông minh hay danh dự.

 

Đă đành là trong một thể chế tự do dân chủ, các vị tướng lănh tư lệnh phải nằm dưới quyền điều hành của các vị chỉ huy dân sự, nhằm tránh t́nh trạng kiêu binh và dễ nổi loạn. Giống như cựu Thủ tướng George Clemenceau của Pháp thời Đệ Nhất Thế Chiến đă từng nói rằng "chiến tranh là một chuyện rất quan trọng nên chúng ta không thể hoàn toàn phó mặc cho các ông tướng quyết định." Tuy nhiên, chiến tranh cũng rất quan trọng, với nhiều chi tiết rắc rối, để cho chúng ta có thể hoàn toàn phó mặc cho các chính trị gia quyết định mà không đếm xỉa ǵ đến nhận xét của các tướng lănh ở chiến trường. Những chiến lược thành công nhất chỉ có thể có được sau khi có sự tham khảo và bàn bạc sâu rộng giữa các tướng lănh có kinh nghiệm ở chiến trường cùng với những quyết định có tính cách chính trị của các lănh tụ dân sự. Với bản tính cao ngạo, phách lối và tự kiêu, cùng với thành tích đấu đá nổi tiếng trong hậu trường và nội bộ, ông Rumsfeld đă tạo được uy quyền riêng cho cá nhân ḿnh, khiến cho việc tham khảo hay hội ư với các tướng lănh không bao giờ có được dưới thời của ông, và v́ đó mà chiến lược quân sự của Hoa Kỳ đă đi vào sai lầm nhưng không một vị tướng nào dám lên tiếng phê b́nh.

 

Theo lời nhận xét của nhà báo William Arkin, một chuyên gia phân tích về các đề tài quân sự của tờ Washington Post, th́ cái tội lớn nhất của ông Rumsfeld có lẽ là chuyện ông tin rằng chỉ có ông, và duy nhất ông mà thôi, là người hiểu biết khôn ngoan và giỏi nhất. Ông có tinh thần cố chấp khi nghĩ rằng hầu hết các tướng lănh đều rập khuôn theo những mô h́nh hay hệ thống quân đội cứng ngắc từ thời Đệ Nhị Thế Chiến, không có tinh thần cầu tiến hay học hỏi để thích ứng cho t́nh h́nh mới. Và v́ lẽ đó, ông không thèm cũng như không thể nào t́m hay nghe các ư kiến hay sự hiểu biết của họ. Hơn thế nữa, ông Rumsfeld c̣n là một vị chỉ huy độc tài, lúc nào cũng muốn kiểm soát kỹ lưỡng tất cả mọi hành vi của nhân viên thuộc cấp, quyết không để lộ ra ngoài những tranh căi nội bộ. Vô t́nh, ông đă tạo nên một t́nh trạng sợ hăi cho các thuộc cấp, và từ đó diệt luôn tinh thần tranh luận để đón nghe nhiều ư kiến khác nhau, khiến cho những ư kiến chống đối hay phê b́nh phải bị đè nén hay bí mật tiết lộ ra ngoài.

 

Điều trớ trêu là ông tổng trưởng quốc pḥng, vị chỉ huy cao cấp để điều khiển một kế hoạch quốc pḥng hay một cuộc chiến tranh, cuối cùng lại bị thất sủng v́ những yếu tố không tiên đoán trước được của cuộc chiến. Thật vậy, chiến lược mà ông Rumsfeld thích đem khoe ra là "nhanh và nhẹ" (fast and light) để áp dụng cho cuộc chiến tấn công Iraq, thay v́ nặng nề (v́ đông quân) và chậm chạp, cuối cùng có lẽ đă làm hại cho ông. V́ cái chiến lược nhanh và nhẹ đó nên quân đội Mỹ đă đạt được những thành quả chiến thuật mau lẹ, như việc tiến chiếm thủ đô Baghdad một cách thần tốc với cuộc rút quân hay tan hàng mau lẹ của nhiều sư đoàn trung thành với nhà độc tài Saddam. Tuy nhiên, chiến thắng chớp nhoáng này cũng đă tạo nên những môi trường và thử thách mới, khác hẳn với những ǵ đă trù liệu lúc ban đầu. Nói một cách khác, giá như quân đội Mỹ đă phải đụng độ dữ dội với lực lượng của Iraq trong một thời gian khá dài trước khi bị đánh tan tành, th́ có lẽ có khá nhiều thành viên đảng Baath cũng như vô số quân lính của Iraq đă phải thiệt mạng, đồng thời những thiệt hại về vật chất (như kho súng đạn và thuốc nổ) và hạ tầng cơ sở sẽ bị nặng nề hơn, th́ có lẽ sau đó đội quân chiếm đóng là Hoa Kỳ đă không gặp phải sự chống đối dai dẳng và khốc liệt của các lực lượng phiến quân.

 

Trong phần phát biểu sau khi biết tin ḿnh bị giải nhiệm, ông Rumsfeld tỏ vẻ ngậm ngùi khi cho rằng quả t́nh là cuộc chiến tại Iraq đă thành công trong lúc ban đầu với chiến thắng quân sự mau lẹ, nhưng chỉ trong thời gian sau đó mới bị lâm vào cảnh lúng túng v́ không thể nào diệt được quân phiến loạn. Ngụ ư của ông muốn nói là chiến lược "nhanh và nhẹ" của ông có giá trị xác đáng của nó. Tuy nhiên, mới đây bộ lục quân cũng đă bác bỏ quan điểm này, qua việc tu chỉnh nội dung chương tŕnh huấn luyện binh pháp giành cho quân chủng này. Thật vậy, một bản dự thảo mới nhất trong hồ sơ binh pháp của Lục Quân cho thấy là các chiến lược gia quân sự hiện nay tin rằng ngoài công tác chính là việc dẹp tan được kẻ thù, các đơn vị quân đội cũng c̣n phải chú tâm đến việc bảo vệ an ninh cho dân chúng trong vùng, ngay cả giữa lúc chiến cuộc đang lên cao điểm.

 

Theo lời của ông Clinton Ancker III, tác giả của bản phác thảo này và hiện là giám đốc của Nha nghiên cứu về chủ thuyết quân sự phối hợp của Lục quân (Army's Combined Arms Doctrine Directorate), th́ "cái ư tưởng quan trọng nhất ở đây là công tác b́nh định cần phải được lưu tâm ở bất cứ cấp bậc nào cũng như ở trong bất cứ cuộc hành quân nào." Bản phác thảo này, sau khi được đúc kết, sẽ được coi như là kim chỉ nam cho các huấn luyện viên quân sự đem ra giảng dạy tại các quân trường cho mọi sĩ quan về mọi h́nh thức của chiến tranh.

 

Trong cuốn binh thư cũ của Lục Quân Mỹ, công tác b́nh định thường được đặt ra sau khi các cuộc giao chiến chấm dứt. Tuy nhiên, dự thảo của cuốn mới, dự kiến thực hiện kể từ năm 2007, nhấn mạnh cho các sĩ quan đơn vị trưởng rằng họ không thể ngồi chờ cho đến khi nào chấm dứt việc giao chiến rồi mới tính đến chuyện b́nh định hay tái thiết cho dân chúng trong vùng. Nội dung của bản dự thảo mới này đă được giải thích cho các nhà báo của tờ Los Angeles Times và đă được thuật lại bởi kư giả Julian Barnes trong số ra ngày 20-11 vừa qua, trong đó có câu: "Lực lượng bộ binh cần phải đánh thắng kẻ thù và đồng thời uốn nắn t́nh thế dân sự bằng các công tác b́nh định và tái thiết cho nhu cầu của người dân."

 

Nội dung của tập binh thư mới này không phản bác lại quan điểm của ông Rumsfeld về chuyện một đạo quân tinh nhuệ nhanh lẹ của Hoa Kỳ có thể đánh thắng một đạo quân đối phương to lớn nhưng cồng kềnh hơn. Nhưng khi cuộc chiến dẫn đến sự sụp đổ của một chính quyền th́ quân đội cần có một lực lượng đông đảo hơn chứ không phải chỉ có thành phần chiến đấu cơ hữu. Trong trường hợp chính quyền dân sự bị sụp đổ v́ cuộc tấn công quân sự (như ở Iraq) th́ các vị tướng lănh của Mỹ phải t́m cách bảo đảm cho dân chúng trong vùng có an ninh cũng như được ăn uống đầy đủ, cho dù là cuộc chiến vẫn c̣n tiếp diễn ở mặt trận. Điều này có nghĩa là, theo ông Ancker, Lục quân Mỹ có thể nhanh hay nhẹ, nhưng không thể nào gồm cả hai thứ cùng một lúc, và nhờ vào đó mới có thể đặt nền tảng cho việc đạt được chiến thắng và hoà b́nh.

 

Nguyễn Anh Tuấn

Houston, Texas 28-11-06

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHÍNH NGHĨA 

 

   

Chính Nghĩa Tự Có Tính Thuyết Phục - Nhân Nghĩa Tự Có Tính Cảm Hoá