Trung-Hoa: Một chế-độ “phát-xít”?

 

 

 

Cổ-Lũy

 

 

 

 

 

Đầu Mùa Hè năm nay, một chuyên viên về ngoại giao thuộc viện nghiên cứu bảo thủ Enterprise Institute đi gần với chính quyền George W. Bush, ông Michael Ledeen đưa ra nhận định về nước Trung-Hoa mới trên nguyệt san uy tín hàng đầu ở Châu Á Far Eastern Economic Review. Ông đưa ra bằng cớ xem nước này như một nước “phát-xít,” giống như nước Ư ngay sau Thế-chiến Một (1914-1918). Ông không giải thích nhiều về “phát-xít,” nên có lẽ cũng cần một cái nh́n tổng quát.

 

Fascism nguyên là một phong trào chính trị quá khích nhấn mạnh trung thành với nhà nước và tuân phục người lănh đạo, do nhà báo và chính trị Benito Mussolini dựng lên năm 1919, ngay khi Ư thất vọng ê chề sau tham chiến trong Thế-chiến Một. Người phát-xít nhấn mạnh tinh thần quốc gia cực đoan và quân phiệt, sẵn sàng xung đột hay gây hấn với các quốc gia khác. Họ nguyện trung thành với lănh tụ độc tài hướng dẫn và đem đến trật tự, an ninh trong nước. Họ mặc đồng phục một mầu, chào nhau một kiểu, và tổ chức, tham dự những mít-tinh vĩ đại với kỷ luật chặt chẽ. Fascism giống cộng sản (communism) ở vài điểm căn bản: hai hệ thống chính trị đều tuân theo lănh tụ độc tài với chỉ một chính đảng; cả hai đều phủ nhận quyền tự do cá nhân. Cả hai đều không thực hiện thể chế dân chủ; nhà nước là trên hết. Tuy nhiên, khác với cộng sản, fascism không nhắm thiết lập một xă hội không giai cấp; họ tin rằng mỗi giai cấp có vị trí và vai tṛ của ḿnh (gần giống khía cạnh kinh tế, chính trị trong Khổng-giáo, lại đang “thịnh hành” ở Trung-Hoa). Đảng phát-xít bao gồm người thượng lưu và giới đại kỹ thương, cựu chiến binh và giới trung lưu thấp. Người phát-xít mang tinh thần quốc gia; người cộng sản ban đầu mang tinh thần quốc tế với mục đích đoàn kết giới lao động thế giới. Khi lănh tụ Mussolini đe dọa bạo lực để lên nắm chính quyền năm 1922, ông băi bỏ dân chủ, dẹp hết chính đảng trừ đảng Phát-xít; mật vụ bỏ tù đối lập; mọi h́nh thức truyền thông đều bị kiểm duyệt và phải đi một chiều; nhà nước cấm lao động đ́nh công nhưng liên minh với giới chủ nhân cũng như địa chủ lớn.

 

Theo ông Ledeen, từ đầu Thế kỷ 21, Cộng-ḥa Nhân-dân Trung-Hoa đă thay đổi; tuy vẫn gọi chính ḿnh là người cộng sản, và đảng Cộng-sản nắm giữ quyền hành trong nước, Trung-Hoa đă giống như một điển h́nh cho chủ nghĩa phát-xít cổ điển. Nhân sự lănh đạo có thể thay đổi nhưng chính quyền vẫn c̣n nguyên vẹn; đảng nắm hết quyền hành và dân chúng nằm dưới quyền kiểm soát của những nhà chính trị chuyên nghiệp - một phần của giới ưu quyền hủ hóa - thay v́ những người theo đuôi cuồng tín. Đây không c̣n là một hệ thống quyền lực dựa trên quyền rũ ma lực của lănh tụ, mà dựa hẳn trên áp chế chính trị: những lănh tụ cư xử b́nh thường và đạo đức giả, không lư tưởng chút nào, nhưng họ đều đận hô hào cái vinh quang vĩ đại của nước và người Trung-Hoa. Họ không muốn đi theo bước xe đổ Mikhai Gorbachev ở Nga cởi mở chính trị cuối thập niên 1980; họ muốn nắm chặt lấy quyền chính trị đồng thời cho phép “đổi mới” tương đối về mặt kinh tế-không khác mấy đường lối người phát-xít Châu Âu 80 năm trước. Giới lănh đạo nhà nước ngày nay hồ hởi ôm chầm lấy những vinh quang sáng ngời trong lịch sử lâu dài của Trung-Hoa giống như người phát-xít đi trước. Trung-Hoa nay kêu đ̣i một vai tṛ quan trọng trên thế giới dựa trên căn bản lịch sử và văn hóa của ḿnh - không chỉ dựa trên trên căn bản quyền lực, thành quả khoa học hay văn hóa hiện nay - giống hệt như Mussolini và Adolf Hitler (ở Đức) đă làm trong thập niên 1920 và 1930. Trung-Hoa cũng thử nghiệm ư định hoàn toàn tự túc lương thực như hai nhà phát-xít châu Âu trước đây, dù thế giới đă thay đổi “toàn cầu hóa” từ nửa đầu Thế kỷ 20. Giới lănh đạo cũng rất bài ngoại, và lo sợ dân chúng trong nước sẽ “phản” họ nếu người ta biết quá nhiều về thế giới bên ngoài; giới học giả về Trung-Hoa hiện đại xem chế độ Bắc-Kinh như rất lo âu sợ hăi, và có thể rất bấp bênh, khi họ chứng kiến phản đối dữ dội ở Trung-Hoa trước những phản kháng tương đối ôn ḥa của các sư săi và dân chúng Tây-Tạng. Trung-Hoa cũng rất nhậy cảm trước những chỉ trích về thành quả của ḿnh, từ nhân quyền đến không khí ô nhiễm, từ sửa soạn cho Thế-vận-hội đến thất bại trong việc kiểm soát phẩm chất đồ ăn súc vật và đồ chơi xuất cảng sang Hoa-Kỳ.

 

Nh́n những thí dụ nói trên, người ta dễ nghĩ rằng chế độ lo lắng về chính sự tồn tại của ḿnh, và để sách động dân chúng, chế độ cảm thấy phải phô trương h́nh ảnh Trung-Hoa như một nạn nhân của thế giới: rêu rao thân phận nạn nhân luôn luôn là một điều thông thường của phát-xít. Giống như Ư và Đức trong giai đoạn lịch sử 20 năm giữa hai Thế-chiến (1918 và 1938) thế kỷ vừa qua, Trung-Hoa cảm thấy bị phản bội và sỉ nhục ít nhất từ Thế kỷ 19 qua giữa Thế-kỷ 20, và t́m cách trả thù những vết thương lịch sử này. Nhưng ông Ledeen nghĩ rằng Trung-Hoa đang ở trong t́nh trạng bất ổn vô cùng, một mặt v́ những háo hức dân chủ từ cởi mở kinh tế, một mặt v́ những hành động áp chế của chế độ cộng sản độc tài. Đây là phát-xít đă trưởng thành, không phải một phong trào quần chúng điên cuồng, và chế độ hiện tại không gồm những người hăng say cách mạng. Giới lănh đạo Trung-Hoa ngày nay là những người thừa kế hai cuộc cách mạng khác nhau vô cùng của họ Mao và Đặng: cuộc cách mạng cộng sản (Mao) đă thất bại và những biến chuyển phát-xít (Đặng) với tương lai chính trị khá mù mịt. Nếu khuôn mẫu phát-xít có đúng ở Trung-Hoa, người ta hẳn không ngạc nhiên mấy về những tuyên ngôn chính thức hoặc biểu t́nh tập thể vĩ đại gần đây. Ư dưới sự lănh đạo của Mussolini và Đức dười Hitler cũng rất nhậy cảm với với bất cứ phê phán chỉ trích nào từ bên ngoài giống Trung-Hoa ngày nay: kêu gào ḿnh là nạn nhân thuộc bản chất những nước này, và đây cũng là kỹ thuật căn bản để nắm lấy quần chúng. Như thế, phản ứng gay gắt trước những phê phán từ Tây Phương không hẳn là dấu hiệu lo âu trong nước hay yếu đuối; đây rất có thể là là dấu hiệu sức mạnh, một biểu hiện dân chúng đoàn kết ủng hộ chính quyền. Sử sách cho thấy chế độ phát-xít Châu Âu không sụp đổ v́ khủng hoảng trong nước - phải cần một thế chiến đẫm máu mới triệt hạ được nó. Đại đa số người Ư và Đức chỉ chống đối chế độ khi thấy rơ thất bại trong cuộc chiến: việc dân chúng Trung-Hoa đồng loạt lên án Tây Phương đ̣i hỏi cởi mở chính trị hơn ở đây rất có thể là một dấu hiệu thành công chính trị của nhà nước.

 

V́ chế độ phát-xít Châu Âu có một đời sống ngắn ngủi, khó mà biết một chế độ phát-xít ổn định và vững chắc có thể kéo dài ở Trung-Hoa không. Về mặt kinh tế, nhà nước tổ chức và hành xử giống như một công ty ở Trung-Hoa có thể uyển chuyển và dễ thích ứng hơn hệ thống kinh tế chỉ huy từ trung ương từng triệt tiêu cộng sản ở đế quốc Nga Xô-viết vĩ đại cùng những nơi khác. Về mặt chính trị, kinh nghiệm ngắn ngủi với phát-xít Châu Âu cộng với nhiều bí mật khó biết ở Trung-Hoa không giúp mấy việc dự đoán tương lai. Các nhà chiến lược thận trọng có lẽ đồng ư với nhận xét chế độ sẽ sống c̣n lâu dài - rất lâu dài - ở Trung-Hoa. Nếu chế độ Trung-Hoa là phát-xít “được ḷng dân” như trong giai đoạn hiện nay, thế giới phải sửa soạn những đương đầu khó khăn và nguy hiểm với Cộng-ḥa Nhân-dân này chăng? Những nước phát-xít đi trước rất là hung hăng; giới lănh đạo Trung-Hoa có thể muốn ảnh hưởng bao trùm khắp vùng và xa hơn nữa. Trung-Hoa không che giấu việc sửa soạn khả năng đánh bại lực lượng Hoa-Kỳ ở Châu Á để ngăn cản mọi can thiệp vào những tranh chấp ngoại biên của ḿnh. Không một người học hỏi nghiêm chỉnh về Trung-Hoa nào nghi ngờ tham vọng ghê gớm của giới cầm quyền Bắc-Kinh lẫn quần chúng Trung-Hoa. Có lẽ chẳng bao lâu giới lănh đạo sẽ có nhu cầu chứng minh tính chất “siêu đẳng” trong hệ thống và cả dân chúng Trung-Hoa nữa - “siêu đẳng,” theo nghĩa phát-xít là, nước khác, người khác phải qú gối và vâng theo ư muốn của nước khống chế. Trung-Hoa sẽ đ̣i hỏi đất đai và “triều cống” từ những vùng và nước láng giềng - trước hết là Đài-Loan - với mục tiêu lấy lại những đất đai bị “mất” như một thành quả của chế độ.

 

Các nước “dân chủ, tự do” Tây Phương sẽ đối phó với Bắc-Kinh ra sao? Theo ông Ledeen, trước hết phải bỏ tin tưởng sai lầm rằng tài sản là bảo đảm cho ḥa b́nh (hay phát triển kinh tế sẽ đưa đến tự do, dân chủ - và cái hệ luận tự do, dân chủ sẽ ngăn cản chiến tranh); một nước Trung-Hoa giầu có không nhất thiết sẽ để yên cho Đài-Loan, Việt-Nam và Nhật-Bản. Điều ngược lại rất có thể xẩy ra; càng giầu, càng mạnh, Trung-Hoa càng gia tăng khả năng quân sự, và chiến tranh cũng dễ xẩy ra. Ông Ledeen khuyến cáo Tây Phương “phải sửa soạn chiến tranh với Trung-Hoa, với hy vọng sẽ tránh được chinh chiến” - “cư an, tư nguy,” nếu muốn sống ḥa b́nh, phải sửa soạn chiến tranh. Đồng thời phải nỗ lực thuyết phục người Trung-Hoa rằng quyền lợi lâu dài của họ nằm trong “tự do chính trị,” dù đây có thể rất rối rắm và khó chịu. Đây là lư luận kêu gọi sửa soạn quay trở lại một loại “Chiến-tranh Lạnh” (Cold War, 1947-1989, giữa “Thế-giới Tự-do” và “Cộng-sản Nga-Tầu”), với Hoa-Kỳ lại dẫn đầu Tây Phương và những nước “đồng minh” Châu Á chống đối sự bành trướng thế lực của Trung-Hoa “Phát-xít Đỏ” (“Red Fascism,” như những “Cold Warriors,” chiến sĩ bảo thủ Mỹ, đă gọi cộng sản hậu bán Thế-kỷ 20).

 

Ở mặt khác, ông Hugo Restall, chủ biên nguyệt san Far Eastern Economic Review, đưa ra cái nh́n về Trung-Hoa thực tiễn và trung thực hơn. Theo ông, Trung-Hoa từng thất bại với phiêu lưu Mao Trạch Đông gieo hạt giống cách mạng trong Thế-giới thứ Ba (Third World) nghèo đói, chậm tiến và bị Tây Phương khống chế-với kết quả là đẩy phần lớn Châu Á vào quĩ đạo của Hoa-Thịnh-Đốn. Ngày nay Trung-Hoa vẫn muốn lập lại vị trí lănh đạo Châu Á, nhưng ở vai tṛ khác, trong hoàn cảnh khác: nay Hoa-Kỳ lại bị xem như kẻ gây hấn, hùng hổ trong vùng với những đ̣i ḥi về nhân quyền, môi sinh và bản quyền (copyright, hay rộng hơn là intellectual property). Trung-Hoa ngày nay như không nói chuyện ư thức hệ, chỉ muốn những hợp tác thực tiễn nhằm mang lại lợi nhuận hỗ tương, đồng thời dựng lại danh tiếng và khai thác ư muốn tự lập và tự do của người Á Châu không muốn Tây Phương “xía vào” từ bên ngoài. Với Hoa-Kỳ không chú ư tới Châu Á, và mỗi ngày một xuống tinh thần v́ phiêu lưu tai họa ở Iraq và cả Afghanistan, đây là cơ hội tuyệt hảo cho Bắc-Kinh nắm lấy. Sức mạnh quân sự sẽ đóng vai tṛ quan trọng trong nỗ lực ngoại giao của Trung-Hoa. Quân đội Nhân dân, trước đây luôn luôn bí mật và thận trọng, nay đường hoàng ra mắt thế giới với ngân sách gia tăng (bề ngoài vẫn nói chỉ 45 tỉ đô-la, chưa bằng một phần mười ngân sách Mỹ), hỏa tiễn bắn rụng vệ tinh, chiến đấu cơ mới, hạm đội với hàng không mẫu hạm đầu tiên-đi cùng với ngôn ngữ cứng rắn và thái độ hung hăng.

 

Như vậy, gia tăng quân sự nhắm vào đâu? Câu trả lời từ lâu là Đài-Loan chỉ cách Trung-Hoa 180 cây số đường biển mà Bắc-Kinh luôn luôn xem như một tỉnh của ḿnh; khả năng với vũ khí mới có thể làm Hoa-Thịnh-Đốn đắn đo trước khi gửi lực lượng vào cơn nước lửa khi Bắc-Kinh ra tay tấn công. Bắc-Kinh cũng có khả năng tàn phá kinh tế Đài-Loan với tấn công bằng hỏa tiễn và phong tỏa đường biển. Nhưng triển vọng tấn công đă giảm bớt từ 2003 với những hợp tác kinh tế chặt chẽ giữa hai thủ đô (Đài-Loan tiếp tục mở nhiều cơ sở kinh doanh trên lục địa) và thế chính trị Đài-Loan đi xa dần đ̣i hỏi “độc lập với Bắc-Kinh.” Giá trị lớn của việc Bắc-Kinh phát triển hải và không lực nhằm biểu dương lực lượng và gia tăng thanh thế ở những nơi khác trong vùng mà không phải trực tiếp đương đầu với Hoa-Kỳ. Bắc-Kinh có thể sẽ đóng vai tṛ “pạc-nơ” về an ninh với Hoa-Thịnh-Đốn, nhằm đặt nền móng cho việc thay thế Hoa-Thịnh-Đốn như người bảo đảm ḥa b́nh trong vùng. Những năm sắp tới, ta có thể thấy Bắc-Kinh gia tăng thăm viếng đi lại quân sự giữa các hải cảng quốc tế, và tổ chức tập trận chung với các nước trong vùng. Những tranh chấp về các đảo ở Nam Hải (biển Đông của Việt-Nam) cũng có thể được giải quyết qua việc thỏa nhượng xuất phát từ thiện chí đi lại với nhau giữa các nước trong vùng. Mặt khác, Bắc-Kinh cũng dùng viện trợ, thỏa nhượng thương mại, đầu tư trực tiếp, trao đổi văn hóa và duy tŕ ḥa b́nh nhằm đánh bóng h́nh ảnh Trung-Hoa. Ở mức độ phát triển kinh tế hiện nay Bắc-Kinh có thể trở thành đầu tầu phát triển kinh tế cho nguyên vùng, t́m mua nguyên liệu và các bộ phận từ nước ngoài để hoàn tất sản phẩm xuất cảng tới người tiêu thụ, gia tăng hiệu năng và điều hợp kinh tế địa phương. Các nước trong tổ chức ASEAN (trong đó có Việt-Nam) đă chuyển từ một hiệp hội chống đối sang hợp tác với với Bắc-Kinh .

 

Nhiều người Châu Á dĩ nhiên vẫn nghi ngờ ư định của Bắc-Kinh; và họ có lư do chính đáng để nghi ngờ. Những ủng hộ Bắc-Kinh dành cho các chế độ áp chế dân chúng ở Bắc Hàn, Miến-Điện và Kampuchea gia tăng bất ổn và mâu thuẫn. Mâu thuẫn nữa là Bắc-Kinh theo đuổi chính sách “đi trên hai chân” của họ Mao: tiến đến mục tiêu của ḿnh nhanh hơn bằng lối sử dụng hai đường lối khác nhau cùng một lúc (như vừa gia tăng quân sự đe dọa vừa hợp tác kinh tế). Mặt khác, lo sợ Hoa-Thịnh-Đốn bỏ rơi Châu Á nằm rất sâu trong tâm tư người trong vùng, và lại càng gia tăng với cuộc chiến của Hoa-Kỳ ở Trung Á: việc dân chúng Mỹ chọn quốc hội đa số Dân-chủ như phản ánh ư muốn chung rút ra khỏi cuộc chiến phiêu lưu. Trong cuộc chiến ở Việt-Nam, Hoa-Kỳ đă mất dần ư chí và nghị lực duy tŕ hiện diện của ḿnh ở châu Á; Tổng Thống Cộng-ḥa Richard Nixon đă nghiền ngẫm đưa ra “Chủ thuyết Guam” (Guam Doctrine) với nhấn mạnh rơ ràng rằng Hoa-Kỳ sẽ không chiến đấu cho những đồng minh của ḿnh nữa. Ông Nixon tuyên ngôn, “Chúng ta đă làm đầy đủ cho Châu Á. Đến lúc người Châu Á phải tự lo cho ḿnh. Các sử gia sẽ quyết định Châu Á có tốt đẹp hơn v́ sự có mặt của chúng ta hay không. Riêng tôi, câu trả lời là có.”

 

Nếu nh́n về Trung-Hoa hung hăng trong vùng theo con mắt ông Michael Ledeen, “Chủ thuyết Guam” cô lập (isolationism) có thể là tai họa cho Á Châu và đe dọa lớn cho Hoa-Kỳ. Nhưng bài học lịch sử Hoa-Kỳ ít nhất từ Thế kỷ 19 cho thấy: sau giai đoạn phiêu lưu quốc tế (interventionism) tốn kém với thành quả rất mơ hồ-như trường hợp chính quyền Bush tám năm tại chức mà “cuộc chiến chống khủng bố” chưa đi đến đâu - cộng với t́nh h́nh kinh tế bấp bênh trong nước, chính quyền đến sau sẽ khó vận động dân chúng tham gia ngoại giao tích cực ở mức interventionism. Trong một nước “dân chủ tự do” quả lắc đồng hồ chính trị tuần tự và từ từ chuyển hướng 180 độ sang isolationism. Trong thời gian sắp tới, những liên minh giữa Hoa-Kỳ với Nhật-Bản và Châu Úc có lẽ sẽ vẫn vững mạnh; các nước nhỏ và yếu hơn chung quanh Trung-Hoa sẽ phải lo t́m cách thích ứng với thử thách trước mắt. Những nước này có lẽ sẽ đi hàng hai giữa các đại cường để giữ yên thân cho ḿnh; nếu Hoa-Thịnh-Đốn trở thành quá isolationist, lần hồi họ sẽ phải ngả về hướng Bắc-Kinh.

 

 

 

 

 

 

 

     
Bài Cũ :  Tháng 6/08. Tháng 7 /2008   Tháng 8/08.  9/08. 10/08. 11/08. 12/08  xin mời quư vị vào phần lưu trữ c̣n có  nhiều tài liệu, bài vở mới dùng vào việc nghiên cứu , tham khảo