Tạp Ghi Văn Nghệ

 

Nhà văn vẫn đứng ngoài nắng : Nhật Tiến

 

Nguyễn Mạnh Trinh

 

 

ChimHotTrongLong.jpg

 

Nhà văn Nhật Tiến là nhà văn của tuổi thơ, của những bức xúc về một cuộc chiến tranh và là một người lưu lạc suy ngẫm về thân phận của ḿnh và của chung một thế hệ phải trải qua những ngày chiến tranh và những ngày hậu chiến tranh mà những bi thảm, những bất toàn của xă hôi lại c̣n đáng sợ hơn thời c̣n khói lửa.Ông viết với tâm cảm mà những ư nghĩ trung thực được biểu lộ không e ngại và là tiếng nói được lắng nghe từ công luận.

Có rất nhiều chân dung nhà văn Nhật Tiến : nhà văn của tuổi thơ bất hạnh, nhà văn của hiện thực xă hôi, nhà văn của lưu lạc xứ người mà mẫu chân dung nào cũng đều có nhiều cá tính văn chương và trong mỗi ḍng chữ, mỗi ư tưởng đếu có những thông điệp trao gửi theo..

Tôi đă có dịp phỏng vấn nhà văn Nhật Tiến và ông đă kể về thời gian bắt đầu sáng tác của ḿnh. Lúc c̣n thơ ấu ông đă đi hướng đạo và sau này là một trong những trưởng kỳ cựu của hướng đạo Việt Nam.Ông mê thích văn chương và tất cả nỗi đam mê ấy về sau này khi di cư vào Nam ông đă kể lại trong “Thuở mơ làm văn sĩ”.

Tác phẩm đầu tay của ông không phải là thơ, không phải là tùy bút, không phải là truyện ngắn mà là một kịch ngắn vui chế diễu về một nhân vật là một nhà thơ háo danh và được đăng trên giai phẩm xuân của báo Cải Tạo. Tờ báo này có các cây bút khá nổi thời đó như Kim Sinh, Văn B́nh, Nhị Lang và do ông Phạm Văn Thụ làm chủ nhiệm. Cùng thời lúc này với ông có nhà thơ Song Hồ, nhà thơ Tô Hà Vân (tức nhà văn Nguyễn Đ́nh Toàn sau này). .. Nhóm sinh hoạt văn chương ấy hoạt động như những người trẻ yêu văn thơ và đó là thời gian để về sau họ đă thành những cây bút nổi tiếng của hai mươi năm văn học miền Nam.

Di cư vào Nam, ông xuống Bến Tre dạy học ở trường Quang Trung và cuối tuần ông không về Sài G̣n, ở lại trường nên có thời giờ sáng tác. Ông hoàn tất “Những người áo trắng“ lấy không gian và thời gian của Hà Nội kể lại chuyện của một cô nữ tu trẻ nguyện tận hiến dâng đời cho Thiên Chúa. Một giáo sư cùng dạy học với ông là Trương Cam Vĩnh đọc và thích thú với tiểu thuyết này và mang về cho nhà văn Nhất Linh đọc và cho ư kiến . Văn hào Nhất Linh rất khen ngợi và khuyến khích ông nên xuất bản thành sách. Thế là năm 1959, nhà văn Nhật Tiến đă in tác phẩm đầu tay “Những người áo trắng“ và bắt đầu cho một hành tŕnh văn chương kéo dài đến hơn nửa thế kỷ sau. Những tác phẩm tiếp theo là Những V́ Sao Lạc, Tay Ngọc, Chuyện Bé Phượng, Chim Hót Trong Lồng..

Chuyện Bé Phượng là một cảnh sống được thu gọn lại trong một viện mồ côi và tất cả các nhân vật cùng đóng trong một vai tṛ của một tấm thảm kịch. Ở đó, những trẻ mồ côi được phác họa lại bằng một vài nét nhưng lại biểu trưng được bằng những nét nhân bản. Những nhân vật ấy cũng sinh hoạt như ở ngoài đời thường, cũng có những tị hiềm ganh tị, cũng có những vai đạo đức giả vờ, cũng có những trẻ sớm biết suy nghĩ và có ḷng thiện tâm nhưng rốt cuộc lại bị những phần thua thiệt. Như bé Phượng, tốt với cả mọi người nhưng lại bị nhiều chuyện rắc rối v́ chính ḷng tốt ấy. Cái chết của bé Alice, nguyên nhân gián tiếp v́ chia ly với người bạn Thu Thu từng giúp đỡ yêu thương ḿnh và là tấn thảm kịch làm những người đa cảm xúc động. Nhân vật cô bé Cúc đi ăn cắp bị mang vào trong cô nhi viện rồi trốn ra ngoài không phải là một cô bé xấu nết hoàn toàn mà v́ để chống đỡ lại những ức hiếp của cuộc đời nên có phản ứng như vậy. Những đứa bé mồ côi bất hạnh đâu phải tất cả là những trẻ hư hỏng nhưng nhiều khi v́ hoàn cảnh phải tự vệ để sống c̣n. Đó là một thực tế.

Tôi đọc và nhớ lại cái cảm giác ngày xưa của ḿnh về truyện dài này.

Tôi đă sống ở một xóm b́nh dân và cũng đă chứng kiến nhiều đứa trẻ sống trong gia đ́nh như địa ngục, cha say sưa , mẹ cờ bạc và chúng lớn lên tự nhiên như cây như cỏ, tiêm nhiễm thói hư tật xấu như là một chuyện tất nhiên và khi lớn lên lại tái diễn lại những thảm kịch mà cha mẹ chúng đă thực hiện. Chuyện trẻ thơ ấy sao buồn quá! Và cuộc đời cứ đầy dẫy những chuyện như thế! Thành ra, xúc cảm, hay nao nao trong ḷng thuở đó cũng là chuyện đương nhiên.. Bây giờ, đọc lại, dù đă trải qua nhiều chặng thử lửa ở ngoài đời và chứng kiến biết bao nhiêu chuyện thương tâm, nhưng vẫn nao nao khi nghĩ đến những trẻ thơ bất hạnh mà nhà văn Nhật Tiến đă mô tả trong những tác phẩm của ông. Có phải v́ những nét riêng của con người muôn thuở lúc nào và bất cứ ở không gian, thời gian nào cũng làm cho mọi người chúng ta phải động tâm?

Chim Hót Trong Lồng cũng là câu chuyện của một cô bé sống trong viện mồ côi nội trú trường Nhà Trắng với các bà sơ chăm sóc và hướng dẫn trong cuộc sống hàng ngày. Những cô bé ngây thơ ấy chưa hiểu được cuộc đời và trong những hoàn cảnh ngặt nghèo thương tâm ấy sự vươn lên khỏi vị trí thấp hèn trong xă hội thật là khó khăn.

Chim Hót Trong Lồng là 14 lá thư của bé Hạnh viết cho mẹ và sau khi người mẹ chết là những ḍng nhật kư ghi chép lại nỗi niềm của một người con gửi cho bà mẹ vừa khuất bóng. Những lá thư viết thật thà đến độ năo ḷng, hỏi người mẹ những câu hỏi thật ngây thơ nhưng gợi lại thật nhiều buốt xót. Mẹ của Hạnh là một người làm điếm và bị chết v́ bệnh hoạn trong nhà thương thí. Trong viện mồ côi, Hạnh như sống ở trong một cái lồng và cuộc đời bên ngoài đối với cô hoàn toàn xa lạ. Câu chuyện thật buồn, người buồn và cảnh th́ toàn là mưa gió u ám với những không gian lạnh lùng của tu viện, đầy cánh lá rơi và tiếng chuông buồn thảm. Hạnh gặp gỡ mẹ với cả nỗi buồn rầu và ngay trong đám tang người mẹ cũng đầy những bi thảm tang thương.. Có một sự đau đớn nào hơn khi đứa con gái viết thư hỏi mẹ có phải mẹ làm nghề điếm phải không và sở của mẹ có to không và nhiều người không? Trong tâm hồn ngây thơ của cô bé, làm điếm cũng là một nghề.

Và mẹ cô vẫn có một chỗ đáng kính trọng như những bà mẹ khác!

Chuyện Chim Hót Trong Lồng với cách diễn tả tự nhiên như thế đă gây cho độc giả nhiều xúc động.

Viết về tuổi thơ không phải chỉ có hai nhà văn Duyên Anh, Nhật Tiến, một viết về tuổi thơ đùa nghịch mộng mơ, và, một viết về những tuổi thơ bất hạnh của những cuộc đời đen tối. Mà c̣n có Lê văn Trương với “Anh em thằng Việt”, có Hoàng Ngọc Tuấn với “Học tṛ”, và có nhiều người khác. Dĩ nhiên mỗi người có văn phong riêng, có ngôn ngữ diễn tả riêng. Do đó, khó ḷng mà so sánh người này với người kia.

Riêng trường hợp nhà văn Nhật Tiến th́ quả ông là một nhà văn hay viết về tuổi thơ bất hạnh. Ông viết rất cảm động, đầy nét nhân bản và dễ làm người đọc chia sẻ với xúc cảm mà ông đă có từ những trang sách.Tôi đoán có lẽ tuổi thơ của ông chắc cũng có những nỗi niềm riêng nên mới có những tâm t́nh sâu xa đến như thế.

Mỗi nhân vật tuổi thơ của ông đều có những nét riêng, gần gũi với người đọc và cả đời sống thường nhật hàng ngày nữa. Tác giả như ḥa đồng vào trong khí hậu của tiểu thuyết, của chuyện kể nên chất chủ quan cũng ít đi. Và như thế câu chuyện trở thành có hồn hơn và lôi cuốn được trí tưởng tượng cũng như niềm cảm xúc.

Hồi trước thời tiền chiến các nhà phê b́nh văn học thường chỉ trích là các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn khi viết về những người cùng khổ thường đứng ở trên vị trí của một người ở trên cao nh́n xuống thấp. Tới bây giờ cũng có nhiều nhà văn khi tả cảnh thuyền nhân cực khổ nhưng lại đóng vai người quan sát rồi phê phán nên khi mô tả những cảnh đau khổ của con người th́ lại thấy ở đó có một chút ǵ độc ác của những người khi tả bất hạnh của người khác để làm nổi bật lên cái hạnh phúc của ḿnh.

Với nhà văn Nhật Tiến, ông đă đem tấm ḷng nhân ái của ḿnh để chia sẻ với những nhân vật những nỗi bất hạnh. Ở đó, là sự xúc cảm thật. Ở đó, là nỗi niềm chung mang thật. Và độc giả đă cảm thấy được điều đó qua văn phong của ông. Chất nhân bản lúc nào cũng đầy ắp trong ngôn ngữ và ư tưởng.

Trong một cuộc phỏng vấn nhà văn Nhật Tiến đă phát biểu rằng công việc ra một tờ báo dành cho thiếu nhi( trong khoảng từ 10 đến 15, 16 tuổi hay tŕnh độ từ cuối bậc tiểu học đến hết bậc trung học phổ thông) là mơ ước của ông. Nhất là trong hoàn cảnh của đất nước chúng ta khi xă hội có nhiều hiện tượng băng hoại do văn hóa ngoại lai xâm nhập và cũng do ảnh hưởng chiến tranh. Măi đến năm 1971 ông mới được sự tài trợ của nhà sách Khai Trí và ra mắt tờ tuần báo Thiếu Nhi vào ngày 15 tháng 8 năm 1971 và đều đặn hàng tuần đến ngày 30 tháng tư năm 1975 th́ chấm dứt. Ngoài ra ông c̣n tổ chức nhiều sinh hoạt khác như tổ chức thư viện cho các em mượn sách về nhà đọc, tổ chức các Gia Đ́nh Thiếu Nhi ở các tỉnh và các đô thị lớn có những buổi sinh hoạt tập thể ngoài trời, hay tổ chức các cuộc thi viết văn làm thơ cho thiếu nhi và có giải thưởng khá lớn. Nói chung là phối hợp giữa giải trí và giáo dục để các em có những sinh hoạt vui tươi và bổ ích.

Sau khi vượt biển sống ở hải ngoại, nhà văn Nhật Tiến cũng làm chủ bút tờ Tuổi Hoa của nhà văn Quyên Di một thời gian và lúc nào cũng chú tâm đến lớp tuổi măng non ở hải ngoại.

Trong tác phẩm “Chân dung mười lăm nhà văn nhà thơ Việt Nam”, nhà văn Mai Thảo đă viết “Nhật Tiến vẫn đứng ở ngoài nắng” Ông nói về những "cơn nắng chói chang dữ dằn đổ lửa “ của dân tộc Việt Nam. Những cái nắng của thế kỷ, bỏng cháy trên vai trần của hàng triệu con người lầm than trên trái đất, của những con người bị mất quyền làm người, nạn nhân của thế lực tiền bạc và thế lực bạo lực. Những cái nắng nhễ nhại trên băi ḿn nơi Phan Nhật Nam lê gót tù nhân như đi trên thủy tinh vỡ. Những cái nắng ngùn ngụt ở Gia Trung, nơi những Doăn Quốc Sỹ, những Nguyện Sĩ Tế, mệt lả mồ hôi mang vác những thân cây nặng nề trong thân phận của người tù khổ sai. Và những cái nắng của ngày vượt biên khát đắng và thiêu đốt con người. Hay cái nắng của đảo hoang Ko Kra, nơi những hải tặc hiện h́nh làm quỷ sứ. Những cơn nắng thiêu cháy con người , những đỏ lửa hun đốt cơi đời.

Và nhà văn Mai Thảo viết :”

“Những trong nắng và những ngoài nắng ấy, Nhật Tiến đă thấy đă trải qua, đă viết ra, đă thuật lại. Gọi đó là nắng cáo trạng, nắng bạch thư, gọi đó là nắng Ko Kra, nắng Nhật Tiến. Trước cái khuynh hướng muôn thuở của con người là sự kiếm t́m những tàn cây đầy bóng mát cho tâm hồn và đời sống văn chương bây giờ của Nhật Tiến, những vận động, những lên tiếng không ngừng của Nhật Tiến cho thấy ông vẫn lựa chọn đứng ở đó. Ngoài nắng. Giữa nắng. Thái độ ấy có thể bị nh́n là khô cứng quá khích. Hoặc với những tâm hồn bóng rợp là một đọa đầy vô ích.Tôi chỉ nh́n thấy tự nhiên và b́nh thường nơi người nhà văn lưu đày ở Nhật Tiến một ư muốn. Cái ư muốn được đứng cùng, đứng măi với vượt biển thê thảm như đứng với quê nhà, với Việt nam”

Có một sự kiện mà có rất nhiều sách vở hoặc tư liệu ghi chép lại. Đó là bài điếu văn nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam mà nhà văn Nhật Tiến đă ứng khẩu khi hạ huyệt.

Nhà văn Nhất Linh là một lănh tụ đối lập với chính quyền của tổng thống Ngô đ́nh Diệm. Ngày 7 tháng 7 năm 1963 ông bị đưa ra ṭa để xử án nhưng ông đă tự quyên sinh để phản kháng và cho rằng đời ông chỉ có lịch sử phán đoán công tội mà thôi và hành động đàn áp đối lập bắt giam những lănh tụ quốc gia sẽ làm cho mất nước về tay Cộng Sản. Đám tang của ông bị mật vụ bao vây v́ chính quyền không muốn bị tai tiếng với dư luận quốc tế nhưng lại có nhiều thanh niên, sinh viên học sinh đến đưa tiễn. Nhà văn Nhật Tiến ở trong phái đoàn của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam với tư cách là phó chủ tịch nên có mặt lúc hạ huyệt và ông đă ứng khẩu bài điếu văn và đọc như là một cách thế phản kháng của người cầm bút trong hoàn cảnh thời thế ấy. Trong khi nhiều lănh tụ đảng phái bị bắt giữ và các văn nghệ sĩ bị theo dơi th́ hành động kể trên phải được coi như một phản ứng can đảm của kẻ sĩ không ngại ngùng trước bạo lực v́ có thể bị bắt giam bất cứ lúc nào.

Nhà văn Nhật Tiến là một thành viên nồng cốt của (Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển) Boat People ( SOS Committee) và đă viết bạch thư để phổ biến trên khắp thế giới thân phận bi đát của thuyền nhân Việt nam v́ tệ nạn hải tặc. Những công việc ấy đă có kết quả lớn, làm thế giới hiểu được tệ trạng hải tặc và đánh động được lương tâm của nhân loại để cứu giúp thuyền nhân. Nhà văn Nhật Tiến đă hy sinh công của để đi khắp nơi trên thế giới để xin thế giới hỗ trợ. Có lẽ cái nắng của đảo quỷ Ko Kra vẫn c̣n rát bỏng đôi vai ông để ông tích cực làm một công việc nặng nề như thế?

Thời gian 1960-1975 là một thời kỳ bất hạnh của dân tôc Việt Nam. Chiến tranh gây ra bao nhiêu là tàn phá và chết chóc. Sống trong những bi thảm ấy, nhà văn Nhật Tiến chắc cũng có những suy tư về cuộc chiến này và có những tác phẩm mà chủ đề về cuộc chiến đă qua.

Ông cũng đă nh́n ngắm cuộc chiến bằng những tác phẩm độc đáo mà tiêu biểu là tiểu thuyết “Giấc ngủ chập chờn“ và tập truyện ngắn “Tặng phẩm của ḍng sông”.

“Giấc ngủ chập chờn” là tiểu thuyết viết về đời sống của những người ở vùng “xôi đậu” ngày th́ quốc gia giữ an ninh nhưng đêm th́ du kích Việt Cộng về quấy phá. Câu chuyện nói về thân phận xót xa của những nạn nhân bị đẩy vào một cuộc chém giết mà không một ai muốn . Đối thủ với nhau, chong họng súng vào nhau mà lại là những đứa bạn thời thơ ấu, là những đứa cùng ngồi với nhau trên băng ghế nhà trường. Họ chém giết lẫn nhau, để càng ngày trên cuộc đời này dần dần vắng đi những khuôn mặt, những con người của một thuở nào thơ ấu ngày xưa. Không có bi thảm nào hơn khi hai anh em ruột mà lại ở hai bên chiến tuyến và đe dọa giết nhau c̣n hơn quân thù là hai anh em Hoành và Há , Và, cuộc t́nh htời chiến cũng là cuộc t́nh tay ba giữa hai anh em và Thư. Rốt cuộc Hoành bỏ đi biệt kích Mỹ, c̣n Thư th́ nh́n quang cảnh của một thị xă chiến tranh và đi lên tỉnh để rời xa một nơi mà những tấn thảm kịch đă đổ xuống đầu những người dân quê khốn khổ một cổ hai tṛng.

H́nh như về sau này khi Việt Cộng đă chiếm được miền Nam th́ nhà văn Nhật Tiến đă bị hạch hỏi nhiều về cuốn tiểu thuyết “ Giấc ngủ chập chờn “ này.

Ông có những truyện ngắn như Tặng phẩm của ḍng sông, Giọt lệ đen,.. mà chủ đề xoay quanh những thảm cảnh của thời chiến. Truyện Tặng phẩm của ḍng sông là chuyện của con ḅ bị chết trôi theo ḍng sông tấp vào chân cầu và bị những người lính xẻ thịt để ăn .. Truyện Giọt Lệ Đen là chuyện của hai anh em mồ côi Tư Híp và Út , Tư Híp đến tuổi phải vào lính và phải mang thằng Út vào trại và nhờ có Hiên làm trong nhà bếp để săn sóc thằng nhỏ trong khi người anh bận hành quân xa. Những hoàn cảnh dị thường của chiến tranh.

Sáng tác đầu tay của nhà văn Nhật Tiến là một vở kịch vui ông viết khi c̣n ở tuổi học sinh. Sau này, ông c̣n viết một kịch bản nào khác là một tiểu thuyết kịch Người Kéo Màn. Tại sao gọi là tiểu thuyết kịch?

Đó là một kỹ thuật kịch khá mới đối với nghệ thuật Việt Nam. Ông mang những yếu tố của tiểu thuyết vào kịch, xử dụng phương pháp tả cảnh xen lẫn vào trong phần đối thoại kịch của từng nhân vật và từ đó ở những không gian, thời gian khác nhau để ngắm nh́n sự kiện như một góc độ để nhận định và diễn tả. Người Kéo Màn viết về xă hội và môi trường của những nghệ sĩ mà những nhân vật như ông lăo kéo màn, người nhạc sĩ thổi kèn clarinette, đứa bé, cô gái c̣n trong trắng, chỉ là những tượng h́nh để người kéo màn nói đến cuộc đời với những sự sắp xếp của định mệnh. Từ những góc cạnh nh́n ngắm, cuộc sống trải ra nhiều mặt mà cái giả tạo hào nhoáng bên ngoài đă che lấp đi cái phần chân thực bên trong. Cuộc đời như một vở kịch, với những nét đẹp đẽ hào nhoáng ở ngoài tiền trường sân khấu nhưng ở bên trong lại là những phản diện đen tối đến không ngờ được. Những nhân vật hành xử và đối thoại nhiều khi đối nghịch với nhau và ở trong những chi tiết thực của cuộc sống để tượng h́nh cái giả của vở kịch. Người viết kịch nhiều lúc muốn là một diễn viên trong vở kịch và thôi thúc người đọc, người xem gia nhập vào vở kịch như đang sống một ngày, một tháng của cuộc sống chính ḿnh đang diễn ra từng giờ từng phút.

Nhật Tiến c̣n là nhà văn xă hội mà tác phẩm tiêu biểu nhất là Thềm Hoang. Tiểu thuyết này đă đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1962.Thềm Hoang là một tiểu thuyết lấy khung cảnh của một xóm lao động nghèo nàn ở ven biên một thành phố. Những nhân vật của truyện này là những người nghèo thất học và ngôn ngữ của họ là sự pha trộn một cách dung tục ngôn ngữ của hai miền Nam Bắc. Cái đặc sắc của tiểu thuyết này là tác giả đă phác họa ra những mẫu nhân vật đặc biệt với cá tính riêng và đầy chất sống động chân thực như cuộc sống lầm than của họ đang diễn ra hàng ngày.

Trong một bài viết đăng trên tạp chí Văn Học, ông có giải thích tại sao lại chọn nhan đề Thềm Hoang. Khởi đầu khi viết, ông chỉ dùng hai chữ đó để ám chỉ một xóm nghèo, mà những túp lều là nơi sinh sống của những người bất hạnh sống bên lề xă hội như những thềm đất hoang sơ bị bỏ rơi quên lăng trong một xă hội xa hoa sung túc. Nhưng, khi kết cuộc cuốn tiểu thuyết này, nhân vật Năm Trà bị phẫn uất đau đớn đến tột cùng nên đă châm lửa đốt rụi cả xóm Cỏ. Và như thế, cái xóm ấy đă thành một mảnh đất đầy tro bụi của những thềm hoang..

Trong tiểu thuyết ấy, có những nhân vật đặc biệt và những ngôn ngữ đặc biệt.

Nhà văn Nhật Tiến đă tạo dựng ra những mẫu nhân vật thật sống đông.Họ dùng những ngôn ngữ đời thường, của những người Bắc di cư vào Nam pha trộn với ngôn ngữ địa phương. Như cô Huệ với ngôn ngữ chanh chua của một gái điếm:

“-Mệt không cô Huệ ơi!

Vẫn cái tiếng chanh chua của Huệ:

-Mệt cái phải gió, Cha tổ bố, ít tiền mà cứ muốn của đẹp!”

Hay: Lăo Hói với những câu thơ mà ông ta chiêm nghiệm như một thuyết lư của định mệnh; tất cả đều có ông trời hết:

Ngọc xuất thiên cung thủ quả châu

Hoàng thiên thương mến quả địa cầu.

Giáng tạo thay đời không tranh đấu

Thế giới thanh b́nh khỏi thuế sâu..

“ Lăo Hói rúc lên cười, hai hàm răng của lăo nhô ra, hở hết cả lợi:

-Ông trời chớ ai! Ông trời chớ ai!

-Vậy ai sinh ra ông trời kia chớ?

-Ư! trời đất ơi! Đă là ông trời th́ ai sinh được ổng nữa cơ chớ ổng là nhứt hết thảy mà..

-Huệ phản đối lăo bằng cách lấy chân đá một viên sỏi nhỏ về phía lăo rồi bỏ đi. Mùi nước hoa thoang thoảng trong gió mát làm mũi lăo hếch lên. Lăo lim dim nh́n cái mông của nàng ngúng nguẩy theo nhịp bước. Lăo nhớ đến câu hát của bác Tốn vẫn thường gảy đàn, giọng vọng ra:

-Cô Huệ ơi

Nếu cô lấy tôi th́ tôi xây nhà gạch hai tầng

Tôi mua ô tô cho cô ngự, mua váy đầm cho cô thay..”

Rồi những nhân vật khác: Hai Hào, Đào, Phó Ngữ, bác Nhan, vợ chồng Năm Trà, Cái Ḥn, Thằng Ích, U Tám ,.. tất cả những nhân vật ấy sinh hoạt , chửi rủa nhau, giúp đỡ nhau, và cùng chia sẻ với nhau những mảnh đời sống của một xóm nghèo b́nh dân..

Bà Thụy Khuê nhận xét rằng Thềm Hoang là một tác phẩm không viết về chiến tranh nhưng chống chiến tranh và là một tác phẩm có ư hướng ḥa giải ḥa hợp dân tôc. Có người đă hỏi tôi có suy nghĩ nào về nhận xét này.

Tôi đọc Thềm Hoang từ lúc c̣n đi học và lúc này th́ chiến tranh chưa bùng nổ lớn và những cái gọi là ḥa giải ḥa hơp dân tôc c̣n xa lạ. Thành ra, tôi rất ngạc nhiên khi đọc những nhận xét của bà Thụy Khuê mà có người thắc mắc ở trên. Tôi nghĩ đó có thể là một cách suy nghĩ đi quá xa trong hoàn cảnh nhà văn Nhật Tiến sáng tác lúc đó.Thời gian mà nhà văn Nhật Tiến viết Thềm Hoang là thời kỳ đệ nhất Công Ḥa của chính phủ tổng thống Ngô Đ́nh Diệm. Lúc này cả một triệu người miền Bắc di cư vào miền Nam và đang tạo dựng lại đời sống. Thành ra , ngôn ngữ của những nhân vật Xóm Cỏ pha âm hưởng của nhiều địa phương và có nhiều ngôn ngữ dung tục nhưng được tác giả xử dụng rất tự nhiên nên có sức sống động và lôi cuốn. Như '“nói như bố chó xồm” của bác Tốn, như”khí gió đùng lăn chửa “ của Huệ, như “chế nhạo cái ǵ, chế cái nỗ đít” của Hai Hào. .

Nếu phát biểu một cách rốt ráo th́, với Thềm Hoang, tôi nghĩ đó là một tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Nhật Tiến. Có thể, trong truyện có nhiều hư cấu nhưng với tôi lại có chất tả thực nhiều hơn. Viết về một xă hội bất hạnh như thế, phải là người đă sống và đă có những cảm giác chân thực của người đă trải qua. Tôi cũng có lúc ở một xóm lao động như xóm Cỏ nên khi đọc những trang sách thường hay hồi tưởng về những tháng ngày cũ. Ở đó, người dân sống tạm bợ qua ngày, và có lúc dù xích mích nhau hay chửi bới nhau nhưng vẫn đậm đà t́nh hàng xóm láng giềng, chia xẻ với nhau những niềm bất hạnh chung.Họ không có sự cư xử của những người đạo đức giả, mà ở họ là chân thực một t́nh người không đăi bôi không giả dối và sẵn sàng đùm bọc nhau khi hoạn nạn.

Nhà văn Nhật Tiến làm việc một cách cẩn trọng và rất cố công để tạo ra những mẫu nhân vật độc đáo, có nét chân thực của đời thường nhưng lại biểu hiện được những cá tính của một thời đại họ đang sống. Ông có lần đă viết về cách tạo dựng nhân vật của ḿnh : ”.. Tôi đă bỏ ra nhiều ngày để nghiền ngẫm về từng nhân vật trong tác phẩm của ḿnh. Để cho lề lối làm việc có vẻ khoa học hơn tôi đă làm những tấm phiếu trên từng tấm b́a nhỏ. Mỗi tấm có đề tên một nhânvật và trong đó tôi đă ghi chép tất cả mọi đặc tính về h́nh hài , mọi cá tính, thói quen về tâm lư hay t́nh cảm và hoàn cảnh gia đ́nh, hoàn cảnh xă hôi mà tôi muốn diễn tả. Nhờ những tấm phiếu ghi chép này mà h́nh ảnh mỗi nhân vật hiện ra rơ nét hơn trong thế giới tưởng tượng của tôi và nó đă giúp tôi diễn tả môt cách rơ ràng mỗi khi ngồi trước trang giấy. Trong quá tŕnh sáng tác tôi luôn luôn tự hỏi điều ǵ làm cho nhân vật của ḿnh không lẫn lộn với đám đông b́nh thường và có tính cách nổi bật riêng biệt. Theo tôi đó là sự chú trọng diễn tả thói quen cố hữu của mỗi người, ngôn ngữ đặc trưng mà mỗi nhân vật hay xử dụng và dĩ nhiên mỗi nhân vật phải có một nội tâm riêng biệt do hoàn cảnh xă hôi và môi trường chung quanh mà tác phẩm dựng lên..”.

Sau năm 1975, ông ở lại Sài G̣n tới năm 1980 th́ vượt biển và định cư ở Hoa Kỳ. Ông cùng với Dương Phục và Vũ Thanh Thủy ”Hải tặc trong Vịnh Thái lan”, lột trần thảm trạng của thuyền nhân và lên tiếng với công đồng quốc tế để can thiệp cho những người tị nạn bất hạnh. Ông tích cực hoạt động trong Ủy ban Cứu Nguy Giúp Người Vượt Biển và sau đó mới có các tàu đi vớt thuyền nhân ở Biển Đông và các nước trong thế giới tự do cho phép những người tị nạn định cư ở đất nước thứ ba.

Sáng tác của ông trong thời kỳ này là các tập truyện ngắn :Tiếng Kèn, Một Thời Đă Qua, Cánh Cửa và truyện dài Mồ Hôi Của Đá.

Chủ đích sáng tác của ông trong thời kỳ này là phản ánh thực trạng của xă hôi Việt nam, và đưa một cái nh́n mới về cuôc chiến tranh đă qua cũng như hướng nh́n mới để vượt qua những chiến tuyến ngăn trở dân tôc trên con đường đoàn kết để xây dựng đất nước. Chính v́ chủ trương này mà có sự ngộ nhận và phê phán cho rằng ông thiên tả và kết tội ông đă quên đi cương vị của một nhà văn lưu vong..

Truyện dài Mồ Hôi Của Đá nội dung ra sao mà gây ra sự tranh luận như vậy? Ở vị trí của một người đọc tôi có nhận xét như thế nào về tác phẩm này? Truyện dài này là câu chuyện xảy ra ở một nhà in và thời gian là sau ngày mà Cộng Sản chiếm đóng miền Nam. Đó là lúc mà chế độ mới tiếp thu các cơ sở sản xuất mà cả hai bên những người cai trị và những người bị trị phải sống chung với nhau với những va chạm về ư thức hệ hoặc về những nguyên tắc làm việc. Nguyệt, một công nhân trẻ, tin theo lư tưởng là ḿnh sẽ góp sức để tạo thành môt điều ǵ tốt đẹp, được đề cử làm bí thư chi đoàn thanh niên của xí nghiệp in và rất hăng hái làm việc trong trách vụ này. Nhưng thực tế không như cô nghĩ nên trở thành người thất vọng ê chề. Hoàng , một nhà văn từ miền Bắc vào, qua những kinh nghiện sống của đời ḿnh đă cho rằng chế độ này là một chế độ tồi tệ hơn cả chế độ phong kiến thưc dân thời xưa nữa. Toàn, người yêu của Nguyệt, không đồng ư với công việc của Nguyệt mà anh cho là của người theo gió trở cờ, nhưng lại tin vào những người đă thức tỉnh trước thực tế như Hoàng, hay như Năm Tỏa, một cán bộ có suy xét phán đoán, sẽ làm thành những mầm mới lạc quan. Nguyệt sẽ là người đi theo con đường mới để thay đổi nhận thức cũa mỗi người. Cũng như Hoàng và Toàn cũng bắt đầu khởi đi công cuộc vận động về văn hóa với nhóm văn nghệ Chân Đất song hành với Nguyệt ..

Nhà văn Nhật Tiến cho rằng trong hoàn cảnh hiện tại, phải có nhận thức mới, mà những kẻ ở bên này hoặc bên kia giới tuyến nếu bị đàn áp th́ cũng sẽ chọn chung một thế đứng đấu tranh chống lại những kẻ áp bức. Và, bất cứ lúc nào, sự bất công cũng như những hành động không nhân bản cũng là mục đích để đấu tranh xóa bỏ của dân tộc Việt Nam.

Có một truyện ngắn khác cũng bị phê phán là thiên Cộng là truyện ngắn Gặp Gỡ Ngày Cuối Năm, kể lại người anh là đại tá Việt Cộng đến thăm người em là tù cải tạo nhưng người em từ chối không gặp. Đó là một bi thảm của một cuộc chiến mà anh em ruột thịt đứng hai bên chiến tuyến gh́m súng bắn vào nhau. Đến khi chiến tranh chấm dứt, vẫn c̣n nguyên giới tuyến.

Từ Nhật Tiến của ḷng nhân ái đối với tuổi thơ bất hạnh đến Nhật Tiến luôn đ̣i hỏi công bằng cho những người bị đàn áp, và Nhật Tiến của những nhận thức trung thực nh́n về tương lai dân tộc, h́nh như tôi thấy có nhiều điểm đồng nhất giữa tác gỉa và tác phẩm

Ở trong bất cứ tác phẩm nào của ông, từ bất cứ thời kỳ nào , tôi vẫn thấy rơ ràng một con người Nhật Tiến. Đó là con người của hướng đạo, của sự ngay thẳng, của ḷng nhân ái luôn đứng về phía của những người yếu thế trong xă hôi. Không phải là thái độ cưỡi ngựa xem hoa, coi đau khổ của người khác để làm vui cho chính ḿnh, mà là thái độ của người “ Đứng ngoài nắng “ như nhà văn Mai Thảo nhận xét.

Có lúc tôi thấy nhà văn Nhật Tiến nhiều khi đă quá coi trọng văn chương và vai tṛ của kẻ sĩ. Mà thực tế, trong một xă hội chiến tranh đầy biến cố, th́ lại là một vấn đề khác, khi lư tưởng luôn luôn ở ngoài tầm tay?

Chính nhà văn Nhật Tiến cũng cho rằng khi ông kết cuộc tiểu thuyết Thềm Hoang th́ có nhiều người phê b́nh cho rằng hành động thiêu rụi cả xóm Cỏ của nhân vật Năm Trà là cách giải quyết vấn đề qúa dễ dăi và đầy tính tiêu cực. Và ông đă nhận rằng có lúc ông thấy sự nhỏ nhoi và yếu đuối của ngọn bút .

Nhưng không phải giản dị như vậy, trong thâm tâm ông vẫn tin tưởng vào tác dụng của văn học và gía trị trường cửu của nó. Bằng cây bút, ông tranh đấu cho những mục tiêu mà ông tin tưởng. Luôn luôn trung thực và tin vào lẽ phải của cuộc đời, của giá trị của con người dù ở bất cứ hoàn cảnh nào.

Ở vai tṛ của một độc giả, tôi thấynhưng tác phẩm của ông có ngôn ngữ trong sáng và bố cục giản dị. Có người nói ông chịu ảnh hưởng của Tự Lưc Văn Đoàn thời tiền chiến nhưng riêng tôi, lại nghĩ rằng những vấn đề mà ông nêu ra trong tác phẩm của ḿnh gần gũi với đời sống và có sự giản dị tự nhiên của cuộc sống hàng ngày. Ông không cố công xử dụng một kỹ thuật nào khi cầm bút, mà chỉ đem tấm ḷng cùng sự trung thực của ḿnh để làm cho độc giả cùng chia sẻ.

Chính thái độ tin tưởng vào con người và những giá trị nhân bản mà ở bất cứ chủ đề nào, có nhiều hay ít sự nhám nhúa đen tối của sự thực, sau cùng vẫn là sự hướng thượng và nh́n vào tương lai .

Ngoài ra, ở đời thường, tôi nh́n ông như một người anh văn chương có nhân cách và lư tưởng. Có một thời gian, khi mới bắt đầu tập tành chữ nghĩa, tôi đă có những cuộc họp mặt hàng tháng ở nhà của anh để cùng với những người anh, người bạn tin tưởng rằng khi ra sống ở nước ngoài là phải mang tâm t́nh của những người c̣n ở lại, nói ra những ước muốn và giăi bày những tâm tư thời đại của một giai đoạn vô cùng tệ mạt của lịch sử chúng ta. Không biết có phải đó là một động lực để tôi c̣n cầm bút đến tận bây giờ không ?

 

  Trang Chủ . Kim Âu . Lưu Trữ. Báo Chí . RFI . RFA . Tác Giả . Chính Trị . Văn Nghệ . Khoa Học . Mục Lục . Quảng Cáo . Photo . Photo 1. Tinh Hoa . Liên lạc

 

Một Trang Lịch Sử (tài liệu US Senate)

 

 

 

 

US Senator John McCain , Kim Âu Hà văn Sơn

NT Kiên , UCV Bob Barr, Kim Âu Hà văn Sơn

 

 

 

 

 

Nguyễn Thái Kiên , Kim Âu Hà văn Sơn, Cố vấn an ninh đặc biệt của Reagan-Tỷ phú Ross Perot,Tŕnh A Sám

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MINH THỊ

Bài trong trang này nhằm cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu tham khảo, điều nghiên của Người Việt Quốc Gia trong tinh thần "tri kỷ, tri bỉ", " biết ta, biết địch" để nhận rơ những âm mưu, quỷ kế, ngôn từ và hành động của kẻ thù và có phản ứng, đối sách kịp thời. V́ mục đích chiến đấu chống kẻ thù chung là Cộng Sản nên nhận được bài cùng lập trường là chúng tôi tiếp sức phổ biến. V́ thế có những tác gỉa chúng tôi đăng bài nhưng chưa liên lạc được. Nếu tác gỉa nào cảm thấy không hài ḷng xin liên lạc qua email, chúng tôi sẽ lấy bài của quư vị xuống trong ṿng 48 tiếng.