Chính sách ngoại giao hụt hẫng của Hoa Kỳ trong ḷ lửa Trung Đông 

(Thứ hai 11, Tháng Chín 2006)

 

Mai Loan

 

 

"Đừng bao giờ cản trở công việc của kẻ thù khi hắn đang sai lầm," đó là một trong những câu nói bất hủ của một thiên tài quân sự của nước Pháp là Đại đế Nă Phá Luân (Napoléon), và giá như những kẻ tham chiến trong những cuộc đụng độ tại chiến trường Trung Đông đều chịu khó kiên nhẫn để nghiền ngẫm lấy câu này th́ có lẽ triển vọng hoà b́nh sẽ sáng sủa hơn (chắc chắn là vững bền hơn cái thoả hiệp ngưng bắn tạm thời do Liên Hiệp Quốc dàn xếp nhưng xem chừng rất mong manh và sắp sửa bị xem thường và vi phạm), hoặc ít ra th́ những chiêu thức án binh bất động sẽ được đem ra áp dụng một cách cẩn trọng hơn tại những vùng biên giới ở dải Gaza, Ngạn Tây hay Do Thái và Lebanon thay v́ những tiếng đạn pháo rơi và bom nổ rền trời.

 

Trong những cuộc xung đột từ trước đến nay trong lịch sử, thông thường cả hai bên đều có những lầm lỗi khó biện minh được. Đó cũng là trường hợp đă xảy ra trong cuộc chiến hiện nay tại vùng Trung Đông. Và điều oái oăm là những sai lầm của phe này đă được cứu vớt, hay đúng hơn là bị lu mờ đi, bởi những lầm lỗi khác của đối phương. Và cứ như thế mà hai bên tiếp tục dấn sâu vào con đường sai lầm, với những hành động trả đũa càng ngày càng dữ dội hơn trong một cuộc xung đột ở vùng đất tự nó đă đầy rẫy những hiểm nguy và rủi ro.

 

Ai là thủ phạm khơi mào cho những vụ xung đột này? Thật ra, cũng khó mà xác định được một cách dễ dàng nếu phải xét đến những nguyên nhân sâu xa của vấn đề - giống như trong bất cứ vụ khủng hoảng xung đột nào khác - để thấy rằng một hành động tưởng là đơn phương tấn công thật ra nhiều khi lại là một đ̣n trả đũa cho những thiệt tḥi đă hứng chịu trong quá khứ. Thí dụ cụ thể nhất để có thể coi là nguyên nhân khơi mào cho cuộc chiến lần này thường được gán cho vụ tấn công của nhóm dân quân Palestine tại dải Gaza trong tháng Sáu vừa qua, đột nhập vào lănh thổ của Do Thái trong một cuộc đụng độ dẫn đến cái chết của hai quân nhân Do Thái cũng như một người khác bị bắt làm con tin là hạ sĩ Gilat Shalit. Thế nhưng phe Palestine th́ biện minh rằng cuộc đột kích của họ là để nhằm phản pháo lại một vụ tấn công trước đó của quân đội Do Thái đă bắt cóc hai anh em người Palestine là Osafa và Mustafa Muamar, không có tội t́nh ǵ cả ngoại trừ cái việc họ chính là con trai của một chiến sĩ Hamas có tiếng là ông Ali Muamar.

 

Xét từ lăng kính đó, việc đột kích của nhóm dân quân Palestine có thể được xem như là một hành động chính đáng, cân xứng, và có thể nói là khá táo bạo. Bởi v́ dù sao đi nữa, khác với cuộc đột kích bắt cóc nạn nhân của các quân nhân Do Thái, cuộc ra tay của phe Palestine chỉ nhắm vào một mục tiêu quân sự thuần tuư. Anh hạ sĩ Shalit có thể không dính líu đến việc bắt cóc hai anh em họ Muamar nhưng việc anh cầm súng trong quân đội của Do Thái khó có thể nói rằng anh là một nạn nhân vô tội khi mà hai bên (Do Thái và Palestine) vốn đă gầm gừ để sát hại lẫn nhau từ hàng chục năm qua. Thế nhưng phe Do Thái đă phản pháo một cách quá đáng và không cân xứng, mặc dù không ai ngạc nhiên ǵ mấy và cũng đă đoán trước, bằng một cuộc hành quân quy mô lấn sâu vào dải Gaza. Cái sai lầm này về việc trả đũa không cân xứng của Do Thái sau đó cũng được tạm quên bởi một sai lầm tương tự của phe Palestine khi họ đưa ra đ̣i hỏi phải thả không những chỉ có hai anh em nhà Muamar, mà c̣n phải thả thêm hàng trăm tù nhân khác c̣n bị giam tại Do Thái, để đổi lấy việc trao trả lại anh hạ sĩ Shalit cho Do Thái.

 

Hành động trả đũa một cách thô bạo và quá đáng này của quân đội Do Thái bằng cách xâm chiếm lại Gaza quả là thiếu sáng suốt, nếu không muốn nói là khá điên rồ, phản ảnh tâm lư hung hăng của những kẻ "hữu dơng vô mưu". Cùng lúc đó, việc phe dân quân Palestine đ̣i phải thả hàng trăm tù nhân khác cộng với hai anh em nhà Muamar để đổi lấy con tin Shalit cho thấy là họ thiếu sáng suốt ngoại giao v́ đă để lộ ra ḷng tham khiến họ sẽ mất cảm t́nh trước công luận vô tư trên thế giới. Nếu như các vị chỉ huy quân sự ở Do Thái biết kiên nhẫn, coi vụ này chỉ là một chuyện đụng độ không đáng kể ở biên giới và chỉ cần phác thảo ra một kế hoạch đối phó để t́m cách giải cứu con tin - với phương tiện thông tin liên lạc và tin tức t́nh báo hiện đại cùng với khả năng áp đảo của kho chiến cụ tối tân và tinh vị của ḿnh - nhiều phần là họ có thể thành công trong sứ mạng nhưng đồng thời cũng được mọi người nể trọng và thán phục.

 

Thế nhưng hành động trả đũa dữ dội của Do Thái - bằng việc tập trung toàn bộ lực lượng hùng mạnh của quân đội với đầy đủ khí giới tối tân để tiến chiếm Gaza, một trong những vùng đất nhỏ nhoi và nghèo nàn nhất trên địa cầu này - với sứ mạng giải cứu một quân nhân của họ "bị bắt cóc" quả thật là một sai lầm nặng nề. Thật vậy, lời tố cáo của Do Thái quá lố lăng đến gần như là tṛ hề bởi v́ một anh hạ sĩ quan, mặc quân phục và đang trong giờ công vụ, không thể nào được coi là "đă bị bắt cóc" bởi kẻ thù, tương tự như những lời rêu rao về những trẻ em không có vũ khí trên tay "đă chết trên chiến trường" như luận điệu tuyên truyền rẻ tiền của một số người trong khối Ả Rập thiên vị với các nhóm quá khích muốn tô đậm h́nh ảnh các nạn nhân vô tội.

 

Để rồi sai lầm của Do Thái lại được cân bằng bởi những sai lầm khác của những đồng minh với phe Palestine, đó là lực lượng dân quân Hezbollah. Sau cuộc đột kích xâm lấn vào ngày 12/07 qua biên giới giữa Lebanon và Do Thái - mà nguyên nhân thực sự của nó có thể khó biết được đích xác - dẫn đến vụ thả bom dữ dội trả đũa của không lực Do Thái, phe Hezbollah đă phản công lại bằng các đợt pháo kích vào một số thị trấn và thành phố nằm ở phía bắc của Do Thái, gây thiệt mạng và thương vong cho nhiều thường dân nhưng lại tạo nên một t́nh trạng hỗn loạn hơn khi dân chúng phải t́m cách chạy sơ tán v́ hoảng sợ. Việc này càng khiến cho Do Thái lún sâu vào những sai lầm kế tiếp, bằng cách gia tăng cường độ các phi vụ không tập lên toàn lănh thổ Lebanon chứ không phải chỉ nhắm vào các mục tiêu hay căn cứ quân sự của Hezbollah đóng chốt tại miền nam Lebanon, khiến cho cả ngàn người chết, cả triệu người (1/4 dân số trong nước) phải chạy lánh nạn, gây thiệt hại nặng nề lên hạ tầng cơ sở khiến cho công luận thế giới phải bất b́nh và giận dữ trước một hành động quân sự trả đũa thô bạo và quá đáng chưa từng thấy trong lịch sử.

 

Thật vậy, chuyến đột kích của quân Hezbollah vào lănh thổ của Do Thái vào ngày 12/07 có thể đă vi phạm vào thoả ước ngưng bắn kư vào năm 1949 giữa Lebanon và quốc gia tân lập Do Thái, nhưng dù sao cũng chỉ giới hạn vào một mục tiêu quân sự. Những người Do Thái bị giết hại hay bắt giữ dẫu sao cũng là những quân nhân hiện dịch. Dĩ nhiên khi biết rằng Do Thái sẽ phản pháo một cách nặng nề gấp bội lần để trả đũa, việc khiêu khích hay chọc giận này của Hezbollah phải được coi là một "hành động thiếu trách nhiệm" như lời kết tội của Ngoại trưởng Pháp, ông Philippe Douste-Blazy. Nhưng nó cũng chưa bao giờ vi phạm vào luật lệ quốc tế, bởi v́ theo định nghĩa của Hội Bảo Vệ Nhân Quyền (Human Rights Watch) th́ "hành động nhắm bắt giữ những chiến binh kẻ thù được quyền cho phép chiếu theo luật nhân đạo quốc tế." Khách quan mà nói, sự việc bắt đầu - chuyện Hezbollah đột nhập bắt một quân nhân Do Thái làm con tin và việc Do Thái trả đũa đột nhập lại để giải thoát con tin nhưng không thành công - cũng chỉ là những cuộc đụng độ lẻ tẻ ở vùng biên giới. Trên thế gian này, mỗi ngày có biết bao vụ đụng độ lẻ tẻ ở các vùng biên giới giữa các nước, nhưng không phải v́ thế mà nó dẫn đến chiến tranh. Nó chỉ có thể trở thành chiến tranh khi nào người này hay kẻ kia trong cuộc đụng độ muốn biến nó thành chiến tranh nên đă sẵn sàng lợi dụng cơ hội đó để leo thang cuộc xung đột. Trong vụ này, rơ ràng là chính quyền Do Thái của Thủ tướng Ehud Olmert đă muốn có chiến tranh, nhất là có thêm sự ủng hộ đắc lực của chính quyền Bush của Hoa Kỳ.

 

Thế nhưng hành động trả đũa dữ dội và tàn bạo của Do Thái, giết hại nhiều thường dân cũng như phá huỷ hạ tầng cơ sở như việc bắn phá vào phi trường Beirut khiến cho cả triệu người phải sơ tán, đă bị lên án là "một hành động chiến tranh không cân xứng", đi ngược lại với tinh thần của Công Ước Genève chống lại những vụ trừng phạt tập thể, nhắm vào thường dân cũng như huỷ hoại hạ tầng cơ sở phục vụ cho đời sống hàng ngày. Hành động đó đáng được coi như là một loại tội phạm chiến tranh.

 

Thế nhưng giờ đây th́ có lẽ không một người dân nào ở cả hai chiến tuyến đều biết rơ hay thắc mắc t́m hiểu xem ai là người đầu tiên đă vi phạm "luật giao chiến". Với thoả thuận ngưng bắn tạm thời hiện nay, thường dân ở hai bên đều mong mỏi được những phút giây thanh thản không c̣n phải lo sợ tránh bom đạn nữa, một niềm ước mơ nhiều khi vượt ra ngoài tầm quyết định của họ chỉ v́ cái thân phận nghèo hèn đă trót sinh ra trong những vùng đầy biến động này.

 

Liệu có một giải pháp nào để vượt ra khỏi cái ṿng luẩn quẩn và oan nghiệt của những đợt tấn công sai lầm dẫn theo những cú trả đũa cũng đầy những lầm lạc? Điều này đ̣i hỏi một đức tính mà cho đến nay những người lănh đạo ở cả hai bên chiến tuyến đều chưa chứng tỏ là ḿnh có khả năng hiểu biết giá trị cao siêu của nó. Đó là sự tự kiềm chế về mặt chiến thuật để mong đạt được một lợi thế chiến lược. Nói một cách đơn giản, đó là việc phải biết loại bỏ những áp lực thôi thúc nhất thời cho việc trả đũa, và đừng nên coi việc cần phải đáp trả ngay, bằng bất cứ giá nào, là phương cách tốt nhất để giải quyết những mối hiểm nguy cho ḿnh. Điều này không có nghĩa là phải nhún ḿnh đến gần như nhu nhược, ch́a má trái cho kẻ thù sau khi hắn vừa mới tát bên má phải; thật ra nó muốn gợi ư cho người ta thấy rằng việc một anh vơ sĩ vung tay lia lịa như điên cuồng để trả đũa mỗi khi ḿnh bị đánh trúng một bên chưa hẳn là chiêu thức hữu hiệu nhất trong nghề đánh vơ, ấy là chưa kể những hành động ấy nhiều khi trông chẳng có đẹp đẽ tí nào.

 

Giá như Do Thái (trong trường hợp ứng xử sau các trận đột kích của các nhóm dân quân Palestine và Hezbollah) hoặc là tổ chức Hồi-giáo và Ả Rập (trong trường hợp đối phó sau các vụ trả đũa của Do Thái) đều quyết định kiên nhẫn và không ra tay vội. Họ sẽ chịu đựng lúc ban đầu để chờ đợi cho một thời cơ thuận tiện nào đó trong tương lai để chĩa mũi dùi tấn công vào đúng mục tiêu trả đũa là những tổ chức hay cơ sở quân sự gây hấn lúc đầu, sau khi đă để cho mọi người thấy rơ ai là thủ phạm gây ra trước đó. Điều này sẽ giúp cho họ đạt được mục tiêu chính yếu: đó là sự ủng hộ mạnh mẽ của công luận quốc tế. Họ sẽ không t́m cách trả đũa thô bạo và quá đáng, hoặc sẽ không t́m cách tấn công một cách bừa băi vào bất cứ mục tiêu nào của đối phương cho dù đó chỉ là những thường dân vô tội, và dẫu trong thời gian chờ đợi đó họ có bị thiệt hại nặng nề đi nữa th́ họ cũng sẽ được hưởng lợi trong trường kỳ. Bởi v́ một khi đạt được sự ủng hộ của công luận quốc tế, họ sẽ chiếm được sự hỗ trợ của cộng đồng khắp nơi trên thế giới trong khi đối phương chắc chắn càng ngày càng phải mất đi sự ủng hộ v́ chính nghĩa đă bị hoen ố bởi những hành động sai trái lúc ban đầu. Do đó những hiểm nguy hay rủi ro lúc ban đầu về mặt chiến thuật sau cùng lại trở thành những ưu thế về mặt chiến lược.

 

Khái niệm phải biết lùi bước khi cần để sửa soạn tiến tới sau này - lùi một bước để tiến tới ba bước - từ ngàn xưa đă được coi như là một trong bài học cốt lơi trong binh pháp của Tôn Tử, một trong những tư tưởng gia về quân sự lớn nhất của nhân loại. Theo lời của ông Caleb Carr, giáo sư chuyên về nghiên cứu quân sự của trường Đại Học Bard College, trong một bài viết đăng trên tờ Los Angeles Times số đề ngày 12/08/06 đă nhận xét rằng trong lịch sử cận đại cũng đă có một vị lănh đạo quốc gia của Hoa Kỳ biết áp dụng bài học này một cách tài t́nh và khéo léo để đem lại chiến thắng sau cùng trong Đệ Nhị Thế Chiến. Đó là Tổng thống Franklin D. Roosevelt.

 

Vào năm 1937, khi máy bay của hoàng gia Nhật "bắn lầm" khiến cho chiến hạm Panay của Hoa Kỳ và một số tàu khác trên sông Dương Tử bị đắm ch́m, nhiều phụ tá trong bộ tham mưu của ông cũng như nhiều chính trị gia khác cũng nhao nhao đ̣i phải tham chiến để trả đũa; thế nhưng TT Roosevelt lúc bấy giờ biết rơ hơn hết là Hoa Kỳ chưa có chuẩn bị sẵn sàng, ở cả hai mặt quân sự và chính trị, để tham dự vào một cuộc chiến nhiều tốn kém. V́ thế cho nên ông đă phải nhẫn nhịn, chịu chấp nhận những đền bù thiệt hại mà đối phương thảy cho xen lẫn với cái nh́n xem thường thái độ gần như nhục nhă hèn nhát của Hoa Kỳ. Ông phải chờ thời để đến một lúc nào đó khi mà đa số người dân Mỹ đều bắt đầu ư thức và e dè trước cái hiểm hoạ của bộ máy quân sự hung hăng đầy tham vọng của Nhật th́ mới có thể ra tay với sự đồng ḷng ủng hộ của toàn dân trong nước. Thời gian chờ đợi này cũng giúp cho Hải quân Hoa Kỳ thêm vài năm cần thiết và quư báu để sửa soạn và chuẩn bị kỹ lưỡng hơn. Do đó mà khi trận chiến xảy ra tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) vào năm 1941, h́nh ảnh thảm bại lúc ban đầu của Hải quân Mỹ lại là động lực mạnh mẽ nhất để ông lôi kéo sự ủng hộ của toàn dân Hoa Kỳ đồng ḷng hỗ trợ chính phủ tham chiến để đánh trả các quốc gia của trục Đức-Ư-Nhật. Ấy là chưa kể hành động nhẫn nhịn của TT Roosevelt chỉ ra tay khi ở thời điểm cần thiết lại càng khiến cho mọi người trên thế giới ủng hộ nhiệt t́nh, cộng với ḷng khâm phục để trao phó cho Hoa Kỳ vai tṛ lănh đạo các nước đồng minh trên thế giới trong cuộc chiến bảo vệ tự do.

 

Ngay cả đến năm 1939 khi chiến tranh bắt đầu nổ ra ở chiến trường Âu Châu, TT Roosevelt cũng muốn nhảy vào tham chiến cùng với phe Đồng minh bằng những kế hoạch phù phép dụ cho các tiềm thuỷ đĩnh của Đức tấn công các chiến hạm của Mỹ tại Đại Tây Dương để có thể lấy lư cớ là sẽ tham chiếm để trả đũa. Thế nhưng cho dù dân chúng và chính quyền của các nước đồng minh ở Âu Châu đều hoàn toàn ủng hộ và mong muốn Hoa Kỳ nhập cuộc, ông Roosevelt biết rơ hơn ai hết rằng lúc đó dân chúng Mỹ vẫn chưa thực sự sẵn sàng nhập trận vào một cuộc chiến xa xôi đầy tốn kém. Chính v́ thế mà ông đă không phản ứng để chứng tỏ cho dân chúng trong nước, cũng như đối với kẻ thù đáng ngại là Adolf Hitler, biết rằng Hoa Kỳ không có ḷng dạ nào để nhập cuộc, một thái độ nhũn nhặn đầy mưu mô để chờ thời mà măi sau này khi đối phương biết được th́ đă quá muộn.

 

Trong cuộc tranh chấp và xung đột hiện nay tại chiến trường Trung Đông, giữa một bên là Do Thái và bên kia là các tổ chức Hồi-giáo hay Ả Rập, khái niệm tự kềm chế, về ngoại giao cũng như quân sự, dường như không bên nào có được những lănh tụ sáng suốt để nhận ra giá trị trong trường kỳ của nó. Mỗi bên, v́ những áp lực chính trị nhất thời để giành lấy phiếu ủng hộ trong các kỳ bầu cử trong nước, cũng như không muốn bị chụp mũ hay mang tiếng là hèn nhát hay không cương quyết, nên lúc nào cũng sẵn sàng phản ứng một cách vội vă và hấp tấp, và do đó đă để lại những hậu quả sai lầm di luỵ về sau.

 

Riêng Hoa Kỳ, v́ đă trót lao thân vào cuộc tranh chấp này một cách nhiệt t́nh về phía Do Thái, nên cũng phải gánh chịu luôn những hậu quả tai hại giành lấy cho Do Thái. Chính v́ mù quáng ủng hộ cho lập trường của Do Thái mà chính quyền Bush không thực sự muốn giải quyết vấn đề Palestine cho công bằng, mặc dù đă được vị tiền nhiệm Bill Clinton dọn đường trước, cũng như sau này thường bị thúc hối bởi đồng minh đắc lực nhất là Thủ tướng Tony Blair của Anh Quốc. Chỉ v́ bị ám ảnh bởi vụ 9/11, và nh́n đâu cũng chỉ thấy kẻ thù nếu như kẻ đó không ủng hộ ḿnh, cũng như trịch thượng coi tất cả những kẻ không cùng giới tuyến của ḿnh là thành phần khủng bố, chính quyền Bush đă để cho chính quyền của ông Ariel Sharon tự tung tự tác tại Trung Đông, uy hiếp và bắn giết một cách quá đáng lên khối dân nghèo yếu Palestine, nhờ ở kho vũ khí, đạn dược và tàu chiến tối tân do Hoa Kỳ viện trợ. Bộ máy tuyên truyền của Hoa Kỳ chỉ chú trọng đến h́nh ảnh của những người Palestine lâm vào đường cùng, sẵn sàng quấn bom vào người và tự sát khi cho nổ tung để mong gây thiệt hại cho đối phương. Không thấy ai nói đến những quả đạn phi pháo, những hoả tiễn tinh khôn, những đại bác, phi cơ và xe tăng tối tân của Do Thái cày nát đất nước Palestine. Phải chăng những loại vũ khí tinh vi ấy không gây kinh hoàng (terror) cho những nạn nhân phải gánh chịu, mà phần đông lại là khối thường dân vô tội, chứ không phải chỉ có những toán quân gây rối? Dưới con mắt và xuyên qua lăng kính của giới truyền thông và các đài truyền h́nh khắp nơi cũng như trong cộng đồng người Ả Rập, việc Do Thái và Hoa Kỳ sử dụng những loại bom giết người kinh hồn ấy cũng mặc nhiên xác nhận vai tṛ khủng bố (terrorist) của họ đối với khối dân Ả Rập và Hồi-giáo này.

 

Tương tự như vậy, cuộc chiến tấn công Iraq mà Hoa Kỳ khai mào vào năm 2003 cũng phản ảnh thái độ vung tay một cách điên cuồng trong hành động trả đũa (cho vụ khủng bố 9/11) mà không chịu suy nghĩ thiệt hơn trong hành động của ḿnh. Không ai phủ nhận việc Hoa Kỳ có quyền trả đũa, và trả đũa một cách mạnh tay nếu cần như việc dẹp tan được phe cầm quyền Taliban ở A Phú Hăn, trước một đối thủ nguy hiểm như tổ chức Al-Qaeda. Chính v́ vậy, mà gần như hầu hết các nước trên thế giới, kể cả các cựu thù đáng ngại như Nga Sô và Trung Cộng, cũng đều ủng hộ Hoa Kỳ trong cuộc chiến dẹp tan phe Taliban và al Qaeda này. Thế nhưng sau khi say men chiến thắng, những nhà lănh đạo diều hâu và hiếu chiến trong chính quyền Bush quyết định vung tay xa hơn để tiến sang Iraq, th́ Hoa Kỳ đă mất đi phần lớn sự ủng hộ của các đồng minh cũ, xuyên qua việc Hoa Kỳ và Anh Quốc không thể thông qua được một nghị quyết thứ hai ở Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Tệ hại hơn nữa là sau khi những lư do để biện minh cho cuộc tấn công vào Iraq đều trở thành giả trá - với cái gọi là kho vũ khí giết người hàng loạt và mối giây liên lạc giữa Saddam Hussein và al Qaeda - cộng với những sai lầm tệ hại trong cung cách điều hành việc tái thiết và b́nh định Iraq, chính quyền Bush lại không có can đảm và tự trọng tối thiểu để nh́n nhận lầm lỗi - trái với cung cách của nhiều viên chức cao cấp trong chính quyền dám can đảm thú nhận sự sai lầm của ḿnh - mà cứ chối quanh co cũng như viện dẫn thêm nhiều lư do mới, với những sáo ngữ rỗng tuếch về dân chủ và tự do, để biện minh cho hành động sai lầm của ḿnh.

 

Trong t́nh trạng bi quan hiện nay cho uy tín và ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại vùng Trung Đông, nhiều người cho rằng đó chính là tự cái hậu quả tự chuốc lấy từ những thất bại về chiến lược và kế hoạch do ḿnh đề ra. Nhiều người sẵn sàng kết tội TT Bush đă tấn công xâm chiếm Iraq mà không có một lư do xác đáng nào, rồi lại c̣n hăm he muốn đụng trận với một đối thủ khác là Ba Tư trong lúc không cần thiết, cũng như thông đồng với Do Thái để cho không lực nước này sử dụng vũ khí tối tân của Mỹ cày nát Lebanon. Nhiều người cũng trách ông Bush đă quá ngây thơ muốn gieo trồng những giá trị cao đẹp của Hoa Kỳ như tự do và dân chủ lên vùng đất và con người Ả Rập, nhưng đồng thời lại lơ là đến những khổ đau chịu đựng của khối dân Palestine.

 

Thật vậy, ngoài cái lầm lẫn to lớn dẫn đến sự sa lầy không lối thoát hiện nay tại chiến trường Iraq (với hiểm hoạ nội chiến càng ngày càng lan rộng khiến cho quân đội Mỹ muốn rút lui nhưng cũng không thể cũng như chưa t́m ra được cách nào), sai lầm chiến lược to lớn khác của TT Bush là đă cố t́nh xem thường vụ xung đột ở Palestine. Có lẽ v́ bị ám ảnh nặng nề bởi vụ 9/11, cộng thêm với mối bận tâm muốn dứt cho bằng được cái gai khó chịu là Saddam Hussein, cũng như không muốn nhức đầu chú tâm vào những tranh căi sâu đậm và rắc rối trong vùng Ngạn Tây và dải Gaza giữa Do Thái và Palestine, ông Bush đă nhất định bỏ rơi công tŕnh dang dở của vị tiền nhiệm Bill Clinton nhằm mưu cầu một t́nh trạng ổn định tại vùng này. Ông Bush cho rằng Hoa Kỳ không nên phí thời giờ và công sức để giải quyết vấn nạn này để đẩy trách nhiệm khó khăn này cho nhiều nước khác qua cái giải pháp gọi là "lộ đồ hoà b́nh" do bốn phe chủ động là Hoa Kỳ, Nga Sô, Liên Hiệp Châu Âu và Liên Hiệp Quốc. Ngày này, tại Lebanon, cái sai lầm chiến lược không thèm giải quyết vấn nạn Palestine có lẽ đă quay ngược lại để gây bao khó khăn nhức đầu nhiều hơn nữa cho ông.

 

Ngày nào mà Hoa Kỳ không chịu thực tâm giải quyết vấn đề Palestine một cách công bằng, tức là biết quan tâm đến những khó khăn và đau khổ của khối dân này, th́ cộng đồng người Ả Rập vẫn sẽ tiếp tục nh́n Hoa Kỳ với con mắt đầy nghi kỵ, cho dù Hoa Kỳ có thể mua chuộc sự ủng hộ của những giai cấp cầm quyền ở một số các quốc gia này. Giải pháp hay nhất không phải là việc đ̣i hỏi Hoa Kỳ phải bỏ rơi đồng minh Do Thái, mà đúng hơn là hướng dẫn và d́u dắt quốc gia này đi vào con đường sống chung hoà b́nh với các lân bang; điều này đ̣i hỏi dĩ nhiên một sự thoả thuận hay tương nhượng từ cả hai phía, và Hoa Kỳ với sức mạnh và uy tín của ḿnh có thể áp lực lên cả hai bên một cách công b́nh để đạt đến một giải pháp thoả hiệp xứng đáng.

 

Một nền hoà b́nh thực sự xảy ra tại Palestine sẽ giúp cho Hoa Kỳ đạt được giấc mộng và lư tưởng cao đẹp muốn biến đổi vùng Trung Đông theo một chiều hướng tốt đẹp và thuận lợi nhất trong trường kỳ. Điều đó có lẽ cũng là một món quà hữu hiệu và tốt đẹp nhất giành cho quốc gia đồng minh của ḿnh, chứ không cần phải tốn kém chi viện mỗi năm hàng tỷ Mỹ-kim, chưa kể đến chuyện phải rước biết bao rủi ro và oan khiên như đă chồng chất từ nhiều năm qua.

 

Mai Loan

Houston, Texas

 

 

 

 

Chính sách ngoại giao hụt hẫng của Hoa Kỳ trong ḷ lửa Trung Đông 

(LÊN MẠNG Thứ hai 11, Tháng Chín 2006)

 

Mai Loan

(VNN)

 

"Đừng bao giờ cản trở công việc của kẻ thù khi hắn đang sai lầm," đó là một trong những câu nói bất hủ của một thiên tài quân sự của nước Pháp là Đại đế Nă Phá Luân (Napoléon), và giá như những kẻ tham chiến trong những cuộc đụng độ tại chiến trường Trung Đông đều chịu khó kiên nhẫn để nghiền ngẫm lấy câu này th́ có lẽ triển vọng hoà b́nh sẽ sáng sủa hơn (chắc chắn là vững bền hơn cái thoả hiệp ngưng bắn tạm thời do Liên Hiệp Quốc dàn xếp nhưng xem chừng rất mong manh và sắp sửa bị xem thường và vi phạm), hoặc ít ra th́ những chiêu thức án binh bất động sẽ được đem ra áp dụng một cách cẩn trọng hơn tại những vùng biên giới ở dải Gaza, Ngạn Tây hay Do Thái và Lebanon thay v́ những tiếng đạn pháo rơi và bom nổ rền trời.

 

Trong những cuộc xung đột từ trước đến nay trong lịch sử, thông thường cả hai bên đều có những lầm lỗi khó biện minh được. Đó cũng là trường hợp đă xảy ra trong cuộc chiến hiện nay tại vùng Trung Đông. Và điều oái oăm là những sai lầm của phe này đă được cứu vớt, hay đúng hơn là bị lu mờ đi, bởi những lầm lỗi khác của đối phương. Và cứ như thế mà hai bên tiếp tục dấn sâu vào con đường sai lầm, với những hành động trả đũa càng ngày càng dữ dội hơn trong một cuộc xung đột ở vùng đất tự nó đă đầy rẫy những hiểm nguy và rủi ro.

 

Ai là thủ phạm khơi mào cho những vụ xung đột này? Thật ra, cũng khó mà xác định được một cách dễ dàng nếu phải xét đến những nguyên nhân sâu xa của vấn đề - giống như trong bất cứ vụ khủng hoảng xung đột nào khác - để thấy rằng một hành động tưởng là đơn phương tấn công thật ra nhiều khi lại là một đ̣n trả đũa cho những thiệt tḥi đă hứng chịu trong quá khứ. Thí dụ cụ thể nhất để có thể coi là nguyên nhân khơi mào cho cuộc chiến lần này thường được gán cho vụ tấn công của nhóm dân quân Palestine tại dải Gaza trong tháng Sáu vừa qua, đột nhập vào lănh thổ của Do Thái trong một cuộc đụng độ dẫn đến cái chết của hai quân nhân Do Thái cũng như một người khác bị bắt làm con tin là hạ sĩ Gilat Shalit. Thế nhưng phe Palestine th́ biện minh rằng cuộc đột kích của họ là để nhằm phản pháo lại một vụ tấn công trước đó của quân đội Do Thái đă bắt cóc hai anh em người Palestine là Osafa và Mustafa Muamar, không có tội t́nh ǵ cả ngoại trừ cái việc họ chính là con trai của một chiến sĩ Hamas có tiếng là ông Ali Muamar.

 

Xét từ lăng kính đó, việc đột kích của nhóm dân quân Palestine có thể được xem như là một hành động chính đáng, cân xứng, và có thể nói là khá táo bạo. Bởi v́ dù sao đi nữa, khác với cuộc đột kích bắt cóc nạn nhân của các quân nhân Do Thái, cuộc ra tay của phe Palestine chỉ nhắm vào một mục tiêu quân sự thuần tuư. Anh hạ sĩ Shalit có thể không dính líu đến việc bắt cóc hai anh em họ Muamar nhưng việc anh cầm súng trong quân đội của Do Thái khó có thể nói rằng anh là một nạn nhân vô tội khi mà hai bên (Do Thái và Palestine) vốn đă gầm gừ để sát hại lẫn nhau từ hàng chục năm qua. Thế nhưng phe Do Thái đă phản pháo một cách quá đáng và không cân xứng, mặc dù không ai ngạc nhiên ǵ mấy và cũng đă đoán trước, bằng một cuộc hành quân quy mô lấn sâu vào dải Gaza. Cái sai lầm này về việc trả đũa không cân xứng của Do Thái sau đó cũng được tạm quên bởi một sai lầm tương tự của phe Palestine khi họ đưa ra đ̣i hỏi phải thả không những chỉ có hai anh em nhà Muamar, mà c̣n phải thả thêm hàng trăm tù nhân khác c̣n bị giam tại Do Thái, để đổi lấy việc trao trả lại anh hạ sĩ Shalit cho Do Thái.

 

Hành động trả đũa một cách thô bạo và quá đáng này của quân đội Do Thái bằng cách xâm chiếm lại Gaza quả là thiếu sáng suốt, nếu không muốn nói là khá điên rồ, phản ảnh tâm lư hung hăng của những kẻ "hữu dơng vô mưu". Cùng lúc đó, việc phe dân quân Palestine đ̣i phải thả hàng trăm tù nhân khác cộng với hai anh em nhà Muamar để đổi lấy con tin Shalit cho thấy là họ thiếu sáng suốt ngoại giao v́ đă để lộ ra ḷng tham khiến họ sẽ mất cảm t́nh trước công luận vô tư trên thế giới. Nếu như các vị chỉ huy quân sự ở Do Thái biết kiên nhẫn, coi vụ này chỉ là một chuyện đụng độ không đáng kể ở biên giới và chỉ cần phác thảo ra một kế hoạch đối phó để t́m cách giải cứu con tin - với phương tiện thông tin liên lạc và tin tức t́nh báo hiện đại cùng với khả năng áp đảo của kho chiến cụ tối tân và tinh vị của ḿnh - nhiều phần là họ có thể thành công trong sứ mạng nhưng đồng thời cũng được mọi người nể trọng và thán phục.

 

Thế nhưng hành động trả đũa dữ dội của Do Thái - bằng việc tập trung toàn bộ lực lượng hùng mạnh của quân đội với đầy đủ khí giới tối tân để tiến chiếm Gaza, một trong những vùng đất nhỏ nhoi và nghèo nàn nhất trên địa cầu này - với sứ mạng giải cứu một quân nhân của họ "bị bắt cóc" quả thật là một sai lầm nặng nề. Thật vậy, lời tố cáo của Do Thái quá lố lăng đến gần như là tṛ hề bởi v́ một anh hạ sĩ quan, mặc quân phục và đang trong giờ công vụ, không thể nào được coi là "đă bị bắt cóc" bởi kẻ thù, tương tự như những lời rêu rao về những trẻ em không có vũ khí trên tay "đă chết trên chiến trường" như luận điệu tuyên truyền rẻ tiền của một số người trong khối Ả Rập thiên vị với các nhóm quá khích muốn tô đậm h́nh ảnh các nạn nhân vô tội.

 

Để rồi sai lầm của Do Thái lại được cân bằng bởi những sai lầm khác của những đồng minh với phe Palestine, đó là lực lượng dân quân Hezbollah. Sau cuộc đột kích xâm lấn vào ngày 12/07 qua biên giới giữa Lebanon và Do Thái - mà nguyên nhân thực sự của nó có thể khó biết được đích xác - dẫn đến vụ thả bom dữ dội trả đũa của không lực Do Thái, phe Hezbollah đă phản công lại bằng các đợt pháo kích vào một số thị trấn và thành phố nằm ở phía bắc của Do Thái, gây thiệt mạng và thương vong cho nhiều thường dân nhưng lại tạo nên một t́nh trạng hỗn loạn hơn khi dân chúng phải t́m cách chạy sơ tán v́ hoảng sợ. Việc này càng khiến cho Do Thái lún sâu vào những sai lầm kế tiếp, bằng cách gia tăng cường độ các phi vụ không tập lên toàn lănh thổ Lebanon chứ không phải chỉ nhắm vào các mục tiêu hay căn cứ quân sự của Hezbollah đóng chốt tại miền nam Lebanon, khiến cho cả ngàn người chết, cả triệu người (1/4 dân số trong nước) phải chạy lánh nạn, gây thiệt hại nặng nề lên hạ tầng cơ sở khiến cho công luận thế giới phải bất b́nh và giận dữ trước một hành động quân sự trả đũa thô bạo và quá đáng chưa từng thấy trong lịch sử.

 

Thật vậy, chuyến đột kích của quân Hezbollah vào lănh thổ của Do Thái vào ngày 12/07 có thể đă vi phạm vào thoả ước ngưng bắn kư vào năm 1949 giữa Lebanon và quốc gia tân lập Do Thái, nhưng dù sao cũng chỉ giới hạn vào một mục tiêu quân sự. Những người Do Thái bị giết hại hay bắt giữ dẫu sao cũng là những quân nhân hiện dịch. Dĩ nhiên khi biết rằng Do Thái sẽ phản pháo một cách nặng nề gấp bội lần để trả đũa, việc khiêu khích hay chọc giận này của Hezbollah phải được coi là một "hành động thiếu trách nhiệm" như lời kết tội của Ngoại trưởng Pháp, ông Philippe Douste-Blazy. Nhưng nó cũng chưa bao giờ vi phạm vào luật lệ quốc tế, bởi v́ theo định nghĩa của Hội Bảo Vệ Nhân Quyền (Human Rights Watch) th́ "hành động nhắm bắt giữ những chiến binh kẻ thù được quyền cho phép chiếu theo luật nhân đạo quốc tế." Khách quan mà nói, sự việc bắt đầu - chuyện Hezbollah đột nhập bắt một quân nhân Do Thái làm con tin và việc Do Thái trả đũa đột nhập lại để giải thoát con tin nhưng không thành công - cũng chỉ là những cuộc đụng độ lẻ tẻ ở vùng biên giới. Trên thế gian này, mỗi ngày có biết bao vụ đụng độ lẻ tẻ ở các vùng biên giới giữa các nước, nhưng không phải v́ thế mà nó dẫn đến chiến tranh. Nó chỉ có thể trở thành chiến tranh khi nào người này hay kẻ kia trong cuộc đụng độ muốn biến nó thành chiến tranh nên đă sẵn sàng lợi dụng cơ hội đó để leo thang cuộc xung đột. Trong vụ này, rơ ràng là chính quyền Do Thái của Thủ tướng Ehud Olmert đă muốn có chiến tranh, nhất là có thêm sự ủng hộ đắc lực của chính quyền Bush của Hoa Kỳ.

 

Thế nhưng hành động trả đũa dữ dội và tàn bạo của Do Thái, giết hại nhiều thường dân cũng như phá huỷ hạ tầng cơ sở như việc bắn phá vào phi trường Beirut khiến cho cả triệu người phải sơ tán, đă bị lên án là "một hành động chiến tranh không cân xứng", đi ngược lại với tinh thần của Công Ước Genève chống lại những vụ trừng phạt tập thể, nhắm vào thường dân cũng như huỷ hoại hạ tầng cơ sở phục vụ cho đời sống hàng ngày. Hành động đó đáng được coi như là một loại tội phạm chiến tranh.

 

Thế nhưng giờ đây th́ có lẽ không một người dân nào ở cả hai chiến tuyến đều biết rơ hay thắc mắc t́m hiểu xem ai là người đầu tiên đă vi phạm "luật giao chiến". Với thoả thuận ngưng bắn tạm thời hiện nay, thường dân ở hai bên đều mong mỏi được những phút giây thanh thản không c̣n phải lo sợ tránh bom đạn nữa, một niềm ước mơ nhiều khi vượt ra ngoài tầm quyết định của họ chỉ v́ cái thân phận nghèo hèn đă trót sinh ra trong những vùng đầy biến động này.

 

Liệu có một giải pháp nào để vượt ra khỏi cái ṿng luẩn quẩn và oan nghiệt của những đợt tấn công sai lầm dẫn theo những cú trả đũa cũng đầy những lầm lạc? Điều này đ̣i hỏi một đức tính mà cho đến nay những người lănh đạo ở cả hai bên chiến tuyến đều chưa chứng tỏ là ḿnh có khả năng hiểu biết giá trị cao siêu của nó. Đó là sự tự kiềm chế về mặt chiến thuật để mong đạt được một lợi thế chiến lược. Nói một cách đơn giản, đó là việc phải biết loại bỏ những áp lực thôi thúc nhất thời cho việc trả đũa, và đừng nên coi việc cần phải đáp trả ngay, bằng bất cứ giá nào, là phương cách tốt nhất để giải quyết những mối hiểm nguy cho ḿnh. Điều này không có nghĩa là phải nhún ḿnh đến gần như nhu nhược, ch́a má trái cho kẻ thù sau khi hắn vừa mới tát bên má phải; thật ra nó muốn gợi ư cho người ta thấy rằng việc một anh vơ sĩ vung tay lia lịa như điên cuồng để trả đũa mỗi khi ḿnh bị đánh trúng một bên chưa hẳn là chiêu thức hữu hiệu nhất trong nghề đánh vơ, ấy là chưa kể những hành động ấy nhiều khi trông chẳng có đẹp đẽ tí nào.

 

Giá như Do Thái (trong trường hợp ứng xử sau các trận đột kích của các nhóm dân quân Palestine và Hezbollah) hoặc là tổ chức Hồi-giáo và Ả Rập (trong trường hợp đối phó sau các vụ trả đũa của Do Thái) đều quyết định kiên nhẫn và không ra tay vội. Họ sẽ chịu đựng lúc ban đầu để chờ đợi cho một thời cơ thuận tiện nào đó trong tương lai để chĩa mũi dùi tấn công vào đúng mục tiêu trả đũa là những tổ chức hay cơ sở quân sự gây hấn lúc đầu, sau khi đă để cho mọi người thấy rơ ai là thủ phạm gây ra trước đó. Điều này sẽ giúp cho họ đạt được mục tiêu chính yếu: đó là sự ủng hộ mạnh mẽ của công luận quốc tế. Họ sẽ không t́m cách trả đũa thô bạo và quá đáng, hoặc sẽ không t́m cách tấn công một cách bừa băi vào bất cứ mục tiêu nào của đối phương cho dù đó chỉ là những thường dân vô tội, và dẫu trong thời gian chờ đợi đó họ có bị thiệt hại nặng nề đi nữa th́ họ cũng sẽ được hưởng lợi trong trường kỳ. Bởi v́ một khi đạt được sự ủng hộ của công luận quốc tế, họ sẽ chiếm được sự hỗ trợ của cộng đồng khắp nơi trên thế giới trong khi đối phương chắc chắn càng ngày càng phải mất đi sự ủng hộ v́ chính nghĩa đă bị hoen ố bởi những hành động sai trái lúc ban đầu. Do đó những hiểm nguy hay rủi ro lúc ban đầu về mặt chiến thuật sau cùng lại trở thành những ưu thế về mặt chiến lược.

 

Khái niệm phải biết lùi bước khi cần để sửa soạn tiến tới sau này - lùi một bước để tiến tới ba bước - từ ngàn xưa đă được coi như là một trong bài học cốt lơi trong binh pháp của Tôn Tử, một trong những tư tưởng gia về quân sự lớn nhất của nhân loại. Theo lời của ông Caleb Carr, giáo sư chuyên về nghiên cứu quân sự của trường Đại Học Bard College, trong một bài viết đăng trên tờ Los Angeles Times số đề ngày 12/08/06 đă nhận xét rằng trong lịch sử cận đại cũng đă có một vị lănh đạo quốc gia của Hoa Kỳ biết áp dụng bài học này một cách tài t́nh và khéo léo để đem lại chiến thắng sau cùng trong Đệ Nhị Thế Chiến. Đó là Tổng thống Franklin D. Roosevelt.

 

Vào năm 1937, khi máy bay của hoàng gia Nhật "bắn lầm" khiến cho chiến hạm Panay của Hoa Kỳ và một số tàu khác trên sông Dương Tử bị đắm ch́m, nhiều phụ tá trong bộ tham mưu của ông cũng như nhiều chính trị gia khác cũng nhao nhao đ̣i phải tham chiến để trả đũa; thế nhưng TT Roosevelt lúc bấy giờ biết rơ hơn hết là Hoa Kỳ chưa có chuẩn bị sẵn sàng, ở cả hai mặt quân sự và chính trị, để tham dự vào một cuộc chiến nhiều tốn kém. V́ thế cho nên ông đă phải nhẫn nhịn, chịu chấp nhận những đền bù thiệt hại mà đối phương thảy cho xen lẫn với cái nh́n xem thường thái độ gần như nhục nhă hèn nhát của Hoa Kỳ. Ông phải chờ thời để đến một lúc nào đó khi mà đa số người dân Mỹ đều bắt đầu ư thức và e dè trước cái hiểm hoạ của bộ máy quân sự hung hăng đầy tham vọng của Nhật th́ mới có thể ra tay với sự đồng ḷng ủng hộ của toàn dân trong nước. Thời gian chờ đợi này cũng giúp cho Hải quân Hoa Kỳ thêm vài năm cần thiết và quư báu để sửa soạn và chuẩn bị kỹ lưỡng hơn. Do đó mà khi trận chiến xảy ra tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) vào năm 1941, h́nh ảnh thảm bại lúc ban đầu của Hải quân Mỹ lại là động lực mạnh mẽ nhất để ông lôi kéo sự ủng hộ của toàn dân Hoa Kỳ đồng ḷng hỗ trợ chính phủ tham chiến để đánh trả các quốc gia của trục Đức-Ư-Nhật. Ấy là chưa kể hành động nhẫn nhịn của TT Roosevelt chỉ ra tay khi ở thời điểm cần thiết lại càng khiến cho mọi người trên thế giới ủng hộ nhiệt t́nh, cộng với ḷng khâm phục để trao phó cho Hoa Kỳ vai tṛ lănh đạo các nước đồng minh trên thế giới trong cuộc chiến bảo vệ tự do.

 

Ngay cả đến năm 1939 khi chiến tranh bắt đầu nổ ra ở chiến trường Âu Châu, TT Roosevelt cũng muốn nhảy vào tham chiến cùng với phe Đồng minh bằng những kế hoạch phù phép dụ cho các tiềm thuỷ đĩnh của Đức tấn công các chiến hạm của Mỹ tại Đại Tây Dương để có thể lấy lư cớ là sẽ tham chiếm để trả đũa. Thế nhưng cho dù dân chúng và chính quyền của các nước đồng minh ở Âu Châu đều hoàn toàn ủng hộ và mong muốn Hoa Kỳ nhập cuộc, ông Roosevelt biết rơ hơn ai hết rằng lúc đó dân chúng Mỹ vẫn chưa thực sự sẵn sàng nhập trận vào một cuộc chiến xa xôi đầy tốn kém. Chính v́ thế mà ông đă không phản ứng để chứng tỏ cho dân chúng trong nước, cũng như đối với kẻ thù đáng ngại là Adolf Hitler, biết rằng Hoa Kỳ không có ḷng dạ nào để nhập cuộc, một thái độ nhũn nhặn đầy mưu mô để chờ thời mà măi sau này khi đối phương biết được th́ đă quá muộn.

 

Trong cuộc tranh chấp và xung đột hiện nay tại chiến trường Trung Đông, giữa một bên là Do Thái và bên kia là các tổ chức Hồi-giáo hay Ả Rập, khái niệm tự kềm chế, về ngoại giao cũng như quân sự, dường như không bên nào có được những lănh tụ sáng suốt để nhận ra giá trị trong trường kỳ của nó. Mỗi bên, v́ những áp lực chính trị nhất thời để giành lấy phiếu ủng hộ trong các kỳ bầu cử trong nước, cũng như không muốn bị chụp mũ hay mang tiếng là hèn nhát hay không cương quyết, nên lúc nào cũng sẵn sàng phản ứng một cách vội vă và hấp tấp, và do đó đă để lại những hậu quả sai lầm di luỵ về sau.

 

Riêng Hoa Kỳ, v́ đă trót lao thân vào cuộc tranh chấp này một cách nhiệt t́nh về phía Do Thái, nên cũng phải gánh chịu luôn những hậu quả tai hại giành lấy cho Do Thái. Chính v́ mù quáng ủng hộ cho lập trường của Do Thái mà chính quyền Bush không thực sự muốn giải quyết vấn đề Palestine cho công bằng, mặc dù đă được vị tiền nhiệm Bill Clinton dọn đường trước, cũng như sau này thường bị thúc hối bởi đồng minh đắc lực nhất là Thủ tướng Tony Blair của Anh Quốc. Chỉ v́ bị ám ảnh bởi vụ 9/11, và nh́n đâu cũng chỉ thấy kẻ thù nếu như kẻ đó không ủng hộ ḿnh, cũng như trịch thượng coi tất cả những kẻ không cùng giới tuyến của ḿnh là thành phần khủng bố, chính quyền Bush đă để cho chính quyền của ông Ariel Sharon tự tung tự tác tại Trung Đông, uy hiếp và bắn giết một cách quá đáng lên khối dân nghèo yếu Palestine, nhờ ở kho vũ khí, đạn dược và tàu chiến tối tân do Hoa Kỳ viện trợ. Bộ máy tuyên truyền của Hoa Kỳ chỉ chú trọng đến h́nh ảnh của những người Palestine lâm vào đường cùng, sẵn sàng quấn bom vào người và tự sát khi cho nổ tung để mong gây thiệt hại cho đối phương. Không thấy ai nói đến những quả đạn phi pháo, những hoả tiễn tinh khôn, những đại bác, phi cơ và xe tăng tối tân của Do Thái cày nát đất nước Palestine. Phải chăng những loại vũ khí tinh vi ấy không gây kinh hoàng (terror) cho những nạn nhân phải gánh chịu, mà phần đông lại là khối thường dân vô tội, chứ không phải chỉ có những toán quân gây rối? Dưới con mắt và xuyên qua lăng kính của giới truyền thông và các đài truyền h́nh khắp nơi cũng như trong cộng đồng người Ả Rập, việc Do Thái và Hoa Kỳ sử dụng những loại bom giết người kinh hồn ấy cũng mặc nhiên xác nhận vai tṛ khủng bố (terrorist) của họ đối với khối dân Ả Rập và Hồi-giáo này.

 

Tương tự như vậy, cuộc chiến tấn công Iraq mà Hoa Kỳ khai mào vào năm 2003 cũng phản ảnh thái độ vung tay một cách điên cuồng trong hành động trả đũa (cho vụ khủng bố 9/11) mà không chịu suy nghĩ thiệt hơn trong hành động của ḿnh. Không ai phủ nhận việc Hoa Kỳ có quyền trả đũa, và trả đũa một cách mạnh tay nếu cần như việc dẹp tan được phe cầm quyền Taliban ở A Phú Hăn, trước một đối thủ nguy hiểm như tổ chức Al-Qaeda. Chính v́ vậy, mà gần như hầu hết các nước trên thế giới, kể cả các cựu thù đáng ngại như Nga Sô và Trung Cộng, cũng đều ủng hộ Hoa Kỳ trong cuộc chiến dẹp tan phe Taliban và al Qaeda này. Thế nhưng sau khi say men chiến thắng, những nhà lănh đạo diều hâu và hiếu chiến trong chính quyền Bush quyết định vung tay xa hơn để tiến sang Iraq, th́ Hoa Kỳ đă mất đi phần lớn sự ủng hộ của các đồng minh cũ, xuyên qua việc Hoa Kỳ và Anh Quốc không thể thông qua được một nghị quyết thứ hai ở Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Tệ hại hơn nữa là sau khi những lư do để biện minh cho cuộc tấn công vào Iraq đều trở thành giả trá - với cái gọi là kho vũ khí giết người hàng loạt và mối giây liên lạc giữa Saddam Hussein và al Qaeda - cộng với những sai lầm tệ hại trong cung cách điều hành việc tái thiết và b́nh định Iraq, chính quyền Bush lại không có can đảm và tự trọng tối thiểu để nh́n nhận lầm lỗi - trái với cung cách của nhiều viên chức cao cấp trong chính quyền dám can đảm thú nhận sự sai lầm của ḿnh - mà cứ chối quanh co cũng như viện dẫn thêm nhiều lư do mới, với những sáo ngữ rỗng tuếch về dân chủ và tự do, để biện minh cho hành động sai lầm của ḿnh.

 

Trong t́nh trạng bi quan hiện nay cho uy tín và ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại vùng Trung Đông, nhiều người cho rằng đó chính là tự cái hậu quả tự chuốc lấy từ những thất bại về chiến lược và kế hoạch do ḿnh đề ra. Nhiều người sẵn sàng kết tội TT Bush đă tấn công xâm chiếm Iraq mà không có một lư do xác đáng nào, rồi lại c̣n hăm he muốn đụng trận với một đối thủ khác là Ba Tư trong lúc không cần thiết, cũng như thông đồng với Do Thái để cho không lực nước này sử dụng vũ khí tối tân của Mỹ cày nát Lebanon. Nhiều người cũng trách ông Bush đă quá ngây thơ muốn gieo trồng những giá trị cao đẹp của Hoa Kỳ như tự do và dân chủ lên vùng đất và con người Ả Rập, nhưng đồng thời lại lơ là đến những khổ đau chịu đựng của khối dân Palestine.

 

Thật vậy, ngoài cái lầm lẫn to lớn dẫn đến sự sa lầy không lối thoát hiện nay tại chiến trường Iraq (với hiểm hoạ nội chiến càng ngày càng lan rộng khiến cho quân đội Mỹ muốn rút lui nhưng cũng không thể cũng như chưa t́m ra được cách nào), sai lầm chiến lược to lớn khác của TT Bush là đă cố t́nh xem thường vụ xung đột ở Palestine. Có lẽ v́ bị ám ảnh nặng nề bởi vụ 9/11, cộng thêm với mối bận tâm muốn dứt cho bằng được cái gai khó chịu là Saddam Hussein, cũng như không muốn nhức đầu chú tâm vào những tranh căi sâu đậm và rắc rối trong vùng Ngạn Tây và dải Gaza giữa Do Thái và Palestine, ông Bush đă nhất định bỏ rơi công tŕnh dang dở của vị tiền nhiệm Bill Clinton nhằm mưu cầu một t́nh trạng ổn định tại vùng này. Ông Bush cho rằng Hoa Kỳ không nên phí thời giờ và công sức để giải quyết vấn nạn này để đẩy trách nhiệm khó khăn này cho nhiều nước khác qua cái giải pháp gọi là "lộ đồ hoà b́nh" do bốn phe chủ động là Hoa Kỳ, Nga Sô, Liên Hiệp Châu Âu và Liên Hiệp Quốc. Ngày này, tại Lebanon, cái sai lầm chiến lược không thèm giải quyết vấn nạn Palestine có lẽ đă quay ngược lại để gây bao khó khăn nhức đầu nhiều hơn nữa cho ông.

 

Ngày nào mà Hoa Kỳ không chịu thực tâm giải quyết vấn đề Palestine một cách công bằng, tức là biết quan tâm đến những khó khăn và đau khổ của khối dân này, th́ cộng đồng người Ả Rập vẫn sẽ tiếp tục nh́n Hoa Kỳ với con mắt đầy nghi kỵ, cho dù Hoa Kỳ có thể mua chuộc sự ủng hộ của những giai cấp cầm quyền ở một số các quốc gia này. Giải pháp hay nhất không phải là việc đ̣i hỏi Hoa Kỳ phải bỏ rơi đồng minh Do Thái, mà đúng hơn là hướng dẫn và d́u dắt quốc gia này đi vào con đường sống chung hoà b́nh với các lân bang; điều này đ̣i hỏi dĩ nhiên một sự thoả thuận hay tương nhượng từ cả hai phía, và Hoa Kỳ với sức mạnh và uy tín của ḿnh có thể áp lực lên cả hai bên một cách công b́nh để đạt đến một giải pháp thoả hiệp xứng đáng.

 

Một nền hoà b́nh thực sự xảy ra tại Palestine sẽ giúp cho Hoa Kỳ đạt được giấc mộng và lư tưởng cao đẹp muốn biến đổi vùng Trung Đông theo một chiều hướng tốt đẹp và thuận lợi nhất trong trường kỳ. Điều đó có lẽ cũng là một món quà hữu hiệu và tốt đẹp nhất giành cho quốc gia đồng minh của ḿnh, chứ không cần phải tốn kém chi viện mỗi năm hàng tỷ Mỹ-kim, chưa kể đến chuyện phải rước biết bao rủi ro và oan khiên như đă chồng chất từ nhiều năm qua.

 

Mai Loan

Houston, Texas

 

 

 

 

xem tiếp phần 3  >>>>>

 

xem phần 1 >>>>>>>>>

 

 

 

 

 

 

 

CHÍNH NGHĨA 

 

   

Chính Nghĩa Tự Có Tính Thuyết Phục - Nhân Nghĩa Tự Có Tính Cảm Hoá