Trang Chủ . Kim Âu . Lưu Trữ. Báo Chí . RFI . RFA . Tác Giả . Chính Trị . Văn Nghệ . Khoa Học . Kỹ thuật . Mục Lục . Quảng Cáo . Photo . Photo 1. Tinh Hoa . Liên lạc

 

Một Trang Lịch Sử (tài liệu US Senate)

 

 

 

 

MINH THỊ

Bài trong trang này nhằm cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu tham khảo, điều nghiên của Người Việt Quốc Gia trong tinh thần "tri kỷ, tri bỉ", " biết ta, biết địch" để nhận rơ những âm mưu, quỷ kế, ngôn từ và hành động của kẻ thù và có phản ứng, đối sách kịp thời. V́ mục đích chiến đấu chống kẻ thù chung là Cộng Sản nên nhận được bài cùng lập trường là chúng tôi tiếp sức phổ biến. V́ thế có những tác gỉa chúng tôi đăng bài nhưng chưa liên lạc được. Nếu tác gỉa nào cảm thấy không hài ḷng xin liên lạc qua email, chúng tôi sẽ lấy bài của quư vị xuống trong ṿng 48 tiếng. 

US Senator John McCain , Kim Âu Hà văn Sơn

NT Kiên , UCV Bob Barr, Kim Âu Hà văn Sơn

 

 

 

 

 

Nguyễn Thái Kiên , Kim Âu Hà văn Sơn, Cố vấn an ninh đặc biệt của Reagan-Tỷ phú Ross Perot,Tŕnh A Sám

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GIẤC MƠ LĂNH TỤ    

                     

Phần 10

 

 

 

 

* Một vụ truy tố và xét xử kỳ lạ :

 

Măi đến ngày 19/12/67, khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bị bể ra làm hai, nội bộ tranh chấp nhau, không c̣n khả năng khuấy phá nữa, vụ nổi loạn tại miền Trung mới được đưa ra xét xử trước Ṭa Án Mặt Trận Thủ Đô và vùng III Chiến Thuật.  Có tất cả 26 bị cáo được đưa ra ṭa, trong đó có Đại tá Đàm Quang Yên, Đại tá Nguyễ Văn Mô, BS Nguyễn Văn Mẫn và GS Lê Tuyên.  Các bị cáo bị truy tố về tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội phản nghịch chiếu theo các điều luật sau đây :

- Điều 4 đoạn Dụ số 47 ngày 21/8/56

- Điều 1 đoạn 1 và điều 11 Luật số 10/59 ngày 6/5/59

- Điều 59-60 Bộ H́nh Luật Canh Cảị

Hồ sơ nội vụ và bản cáo trạng cho thấy tội phạm của các bị cáo quá hiển nhiên, không có ǵ phải tranh luận.  Các luật sư chỉ căi chày căi cối giúp vui cho phiên ṭa mà thôi.

 

Luật sư Vơ Văn Quan kể lại chuyện ông biện hộ cho BS Nguyễn Văn Mẫn :

 

"Tôi vô khám Chí Ḥa tiếp xúc với BS Mẫn sau khi đă xem hồ sơ tại Pḥng Lục Sự của Ṭa Án Quân Sự ở bến Bạch Đằng.  Tôi không được quen với BS Mẫn và trong vụ này tôi liên lạc với TT Trí Quang nhiều hơn là với ông, nên tôi không c̣n nhớ h́nh dáng của BS Mẫn.  Một chuyện đặc biệt này tôi c̣n nhớ rơ.  Lần đó, BS Mẫn rất dè dặt trong khi bàn luận với tôị  Tôi nói với ông rằng phương pháp làm việc của tôi là nhờ thân chủ làm một tờ mémoire kể đầy đủ chi tiết về những sự kiện đă xảy ra và những lư lẽ mà thân chủ muốn tôi căn cứ vào để biện hô..  Như vậy tôi có tài liệu cần thiết để nghiên cứu và thảo luận với thân chủ về chiến thuật sẽ cùng nhau xử dụng trước Ṭạ  BS Mẫn dè dặt bảo tôi ông cần suy nghĩ có nên làm một tờ tŕnh bày trường hợp của ông để giao cho tôi hay không.  Tôi thông cảm rằng đối với ông dầu sao tôi cũng chỉ là một người lạ, một luật sư không phải do ông hay người nhà của ông chọn, tức nhiên ông ngần ngại không dám tiết lộ những bí mật của ông.  Ông đồng ư để rồi bàn việc này lại với "Thầy".

"Tôi điện thoại đến nhà Giao (tôi không biết số điện thoại của Thượng Tọa, dầu biết, tôi cũng không gọi tới v́ chắc chắn điện thoại bị công an nghe lén).  Tôi nhờ Giao thuật chuyện này lại với TT.  Mấy hôm sau, Giao đem đưa cho tôi lá thơ gởi cho BS Mẫn, vắng tắt có mấy chữ :

"Anh Mẫn,

Làm Mémoire đi.

Ông già."

"Nét chữ cũng rắn rỏi như cái mệnh lệnh.  Chừng đó tôi mới biết rằng trong giới thuộc hạ của ông tiếng lóng để ám chỉ ông là "Ông Già".

"Tôi trở vô khám Chí Ḥa đưa lá thư -- cái mệnh lệnh -- cho BS Mẫn.  Ông liền hẹn tôi hôm sau sẽ có tờ mémoire ngay.

"Ông Già" oai thật !

"Phiên Ṭa xử các bị can trong vụ gọi là biến động miền Trung này cũng rất náo nhiệt, phóng viên quốc nội và quốc tế đều theo dơi khá đông.  Một diễn tiến tôi c̣n nhớ là TT Trí Quang nhờ tôi đưa một văn thơ của ông cho ông Chánh Thẩm.  Để chắc chắn rằng nội dung văn thơ ấy được phổ biến, TT tuyên bố sẵn sàng ra Ṭa khai rơ về những việc đă xảy ra tại miền Trung và đảm nhận tất cả trách nhiệm v́ chính ông lănh đạo cuộc tranh đấu ấỵ

"Dĩ nhiên Ṭa không mời TT Trí Quang ra làm nhân chứng để ông không dùng phiên Ṭa làm diễn đàn chánh tri..  C̣n truy tố ông, nếu "họ" dám th́ đă lam` từ lâu.

"Dầu sao, tôi cũng xử dụng lời lẽ trong văn thư đó trong sự biện hộ của tôi.

"Được Ṭa trao lời, tôi tŕnh bày đại khái như sau.

"Điều hiển nhiên là các bị can tranh đấu đ̣i phải thành lập Quốc Hội Lập Hiến, Quốc Hội này thảo Hiến Pháp làm nền tảng pháp lư cho các cơ quan lănh đạo quốc gia thành h́nh sau một cuộc bầu cử.  Không ai có thể bảo đảm rằng đ̣i hỏi ấy là yêu sách không chánh đáng, bất hợp pháp. Chính những người t́m cách lẫn tránh, không chịu đáp ứng sự đ̣i hỏi ấy, mới là người hành động bất chánh...

"Nếu đó là một cái tội th́ tại sao TT Trí Quang, người lănh đạo sự tranh đấu ấy, người đă gởi văn thư xác nhận phân minh trước Quí Ṭa rằng ông lănh đạo sự tranh đấu, lại không bị truy tố ?

"Người lănh đạo, kẻ chủ mưu, không bị truy tố th́ tại sao những người chỉ có đi theo sự lănh đạo ấy lại bị truy tố ?

"Tôi xin Quư Ṭa tha bổng bị can" ("Nghề hay nghiệp", LS Vơ Văn Quan, Đặc san Luật khoa số 5/8/93, tr. 44/45).

Những điều LS Quan nêu ra để biện hộ như mục tiêu tranh đấu là chánh đáng, hay tại sao không truy tố người chủ mưu...đều không phải là những yếu tố luật định có thể gở tội hay giảm khinh cho các bị cáọ  Tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) đă bị truy tố và xét xử về các tội tương tư.. 

Nhưng ai cũng biết rằng Ṭa Án Quân Sự Mặt Trận là một ṭa án chính trị, không xử theo luật mà xử theo lệnh nên LS Quan mới đưa chính trị vào pháp đ́nh để giởn chơi với Ṭa. 

Kết quả, ngày 22/12/67, sau khi nghị án, Ṭa tuyên án phạt 2 Đại tá 10 năm khổ sai, một sĩ quan và BS Mẫn 10 năm tù ở. 21 bị cáo được tha bổng.  Chỉ ít lâu sau, BS Mẫn và các sĩ quan nói trên được ân xá, nhưng không trở lại binh nghiệp nữa.                                                           

          

Sự kiểm điểm thành quả từ phía VC                  

Sau khi nêu lên những thắng lợi thu được của PG miền Trung do TT Trí Quang, và Vơ Đ́nh Cường trực tiếp lănh đạo từ 1964-1966 đă bị thất bại, Khu ủy và Quân khu Trị - Thiên - Huế đă làm một bản kiểm điểm về những thành quả thu được và những khuyết điểm đưa đến thất bạị  Tài liệu này được in trong cuốn "Chiến trường Trị -  Thiên - Huế trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng" do ban Tổng Kết Chiến Tranh Chiến Trường Trị - Thiên - Huế biên soạn, nhà xuất bản Thuận Hóa ở Huế xuất bản năm 1985.

 

* Những thắng lợi thu dược :

Bản kiểm điểm mở đầu bằng phần nhận định tổng quát như sau :

"Thắng lợi của cuộc đồng khởi cuối năm 1964 và đầu năm 1965 đă giáng một đ̣n nặng nề vào quốc sách "ấp chiến lược" của địch đánh dấu một sự thất bại trong "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ ở Trị - Thiên - Huế".

Về phần thắng lợi :

"Ở thành phố Huế,dấy lên một phong trào đấu tranh chống Mỹ của quần chúng khá sôi nổi và quyết liệt, cùng với phong trào ly khai của Sư đoàn 1 ngụỵ  Phong trào đă kéo dài trong 3 tháng 4,5,6/1966.  Quân chún xuống đường đ̣i ḥa b́nh, chống chiến tranh với khẩu hiệu đ̣i lật đổ Thiê.u-Kỳ.  Cả Huế vùng lên, học sinh băi khóa, tiểu thương băi chợ, công chức băi việc, quần chúng tổ chức tuần lễ tẩy chay quân Mỹ.  Cuộc đấu tranh đă h́nh thành một mặt trận rộng răi, thành phong trào liên minh hành động có tính cách bạo lực chống Mỹ và tay sai giữa nhân dân lao động và Sư đoàn 1 ngụy, đ̣i ly khai khỏi ngụy quyền Saigon.

Sinh viên Huế lập đội sinh viên quyết tử, học sinh lập dội xung kích, giáo chức tổ chức lực lượng chống đàn áp.  Hằng trăm sinh viên được điều động đi học quân sự, các chị tiểu thương chợ Đông Ba, nữ sinh Đồng Khánh đi làm cứu thương tiếp tế cho quyết tử quân, v.v..."

 

* Nguyên nhân thất bại :

"Trong tháng 5/66 cả thành phố Huế hầu như hổn loạn, ngụy quân ngụy quyền bị tê liệt.  Nhưng do tương quan lực lượng không cân xứng và sự lănh đạo trực tiếp của ta chưa đủ mạnh, địch đưa quân đến đàn áp khốc liệt và d́m phong trào vào bể máụ  Các đơn vị ly khai đầu hàng, lực lượng PG tan ră, cơ sở của ta trong phong trào một số bị bắt, một số rút  vào bí mật.  Phong trào kéo dài được 96 ngày.

"Trong cán bộ lănh đạo, một thời gian dài có tư tưởng hữu khuynh rất nặng.  Do tư tưởng hữu khuynh nên trong lănh dạo thiếu tinh thần tấn công mạnh mẽ và liên tục, chưa mạnh dạn phát động chiến tranh nhân dân, giành thắng lợi từng bước, và tiếp tục tiến công địch, đập tan mọi phương sách đối phó của chúng, kiên quyết đưa phong trào tiến lên".

Xét về nguyên nhân thất bại, phần thứ nhất bản kiểm điểm nói đúng, nhưng phần thứ hai có tính cách cường điệụ  Với lực lượng Quân dội VNCH thời đó, không một tổ chức chiến tranh nhân dân nào do các Khu ủy phát động có thể tồn tại được, nhất là khi cuộc chiến tranh đó bị đa số lên án..  Lúc đầu TT Trí Quang lấy "dư đảng Cần Lao TCG" làm chiêu bài kích động Phật tử, nhưng chiêu bài đó về sau trở thành một đối lực không vượt qua nổị  Chiến tranh nhân dân bao giờ cũng chỉ là phương tiện phá rối hay tạo điều kiện cho một biến cố xảy rạ  Coi chiến tranh đó như là một yếu tố quyết định thắng lợi là sai lầm.

Trích từ các tài liệu :

- Phê b́nh Mùa Biển Động; Nguyễn Thị Sông Hương; nxb Đại Nam 1992.

- Những bí ẩn đằng sau các cuộc thánh chiến; Lữ Giang; 1994.

- Tôn giáo và Chính trị : Phật giáo 1963-1967; Chính Đạo; nxb Văn Hoá 1994.

V́ quên một phần nói về sự tương quan giữa các tôn giáo khác và CS, ta tiếp tục phần này trước khi chấm dứt.  Sự tàn sát và tiêu diệt các đảng phái quốc gia và tôn giáo đối kháng để giữ địa vị độc tôn truyền bá chủ nghĩa CS là mục đích chính của CS qua các thời đạị  Để mở rộng tầm ảnh hưởng qua mỗi thời kỳ, CSVN đă nương theo các chiêu bài như chống Pháp cứu nước, rồi kế đó chống Mỹ cứu nước nhằm gôm tất cả dưới một mái nhà CS.  Do biết mưu đồ này từ 1946, các tôn giáo và đảng phái đă quy tụ về phương Nam thành lập một quốc gia VN mới không CS.  Đó cũng là nguyên nhân sâu xa của sự thành lập VNCH. Sau 1975, PG là nạn nhân sau cùng.

Lịch sử đă cho thấy có nhiều tôn giáo chống CS rất mạnh mẽ.  Khi Việt Minh cướp chính quyền vào năm 1945, có một số chức sắc và tín đồ của Phật Giáo Ḥa Hảo (PGHH), Cao Đài và Công giáo đă tham gia Mặt Trận Việt Minh (VM) với tư cách cá nhân v́ lầm tưởng đó là một lực lượng chống ngoại xâm thực sự theo đúng ư nghĩa v́ một quốc gia VN tự do và hạnh phúc.  Nhưng khi họ nhận ra được bộ mặt thật của Đảng Cộng sản Đông Dương th́ đa số đă từ bỏ ngay VM.

Tại sao các tôn giáo Cao Đài, PGHH và Công giáo không tham gia VM ?

Trước hết VM chỉ là mặt nổi của Đảng CS Đông Dương. Các nhà lănh đạo của các tôn giáo đều nhận thức rằng chủ nghĩa CS là một chủ nghĩa vô thần, không dung hợp với các tôn giáọ  Nếu cần phải có sự liên kết với các tôn giáo chống xâm lăng, CS chỉ liên kết trong giai đoạn mà thôị  Chính Mác đă từng nhận định :

"Tôn giáo là hơi thở của tạo vật quằn quại, là trái tim của thế giới không trái tim, là tinh thần của thời đại không tinh thần.  Nó là thuốc phiện của dân chúng".

Mác c̣n tuyên bố :

"Xóa bỏ tôn giáo, một thứ hạnh phúc ảo tưởng của nhân dân, là đ̣i hỏi hạnh phúc thật sự của nhân dân".

Nghĩa là Mác cho rằng tôn giáo chỉ là một hạnh phúc ảo tưởng của nhân dân.  Vậy phải hủy bỏ tôn giáo đi, nhân dân mới có hạnh phúc.

Ngoài chủ trương đó, với sự tráo trở khôn lường và phản trắc, Đảng CSĐ đă làm cho các tôn giáo trên dứt khoát với VC.

Sau khi HCM cướp chính quyền vào tháng 8/1945, t́nh h́nh trong nước rối loạn, bên trong các đảng phái quốc gia chống đối mạnh mẽ v́ cho rằng CS đă cướp công của họ, bên ngoài Pháp đang mở cuộc tấn công để chiếm lại Đông Dương.  Trong t́nh thế này, HCM đă giả vờ thỏa hiệp với các đảng phái quốc gia và các tôn giáo để rảnh tay thương lượng với Pháp.  Ngày 1/1/1946, HCM thành lập Chính Phủ Liên Hiệp Quốc Dân lâm thời với HCM làm chủ tịch, Nguyễn Hải Thần làm phó và một số bộ đă được dành cho các đảng phái quốc gia, nhưng CS vẫn kiểm soát được chính phủ mà không nhượng bộ bao nhiêu cho ho..

Ngày 6/3/1946, HCM kư thỏa ước sơ bộ với Pháp để làm kế hoăn binh.  Thỏa hiệp xong với Pháp, HCM quay lại thanh toán các đảng phái quốc gia và các tôn giáo với sự trợ giúp của Pháp. Có 2 vụ tàn sát quy mô nhất :

Đó là vào đêm 27/6/1946.  HCM ra lịnh cho bộ đội và công an tấn công các cơ sở tôn giáo và đảng phái được xếp vào loại phản động trên toàn quốc, giết hoặc thủ tiêu các lănh tụ cán bộ của các tổ chức nàỵ  Con số bị giết tại chỗ hoặc thủ tiêu lên khoảng hàng ngàn ngượi Vũ Hồng Khanh chạy trốn qua Trung Hoa.

Vụ tàn sát đêm 19/12/1946 c̣n khốc liệt hơn.  Ngày 18/12/1946,

Bộ Tư lịnh Pháp thấy có nhiều chuyện bất thường trong việc điều quân của VM tại Hà Nộị  Nhiều chướng ngại vật được dựng lên trong thành phố, các đơn vị Tự Vệ được tập trung và bố trí nhiều nơi, t́nh h́nh trở nên nghiêm tro.ng.  Bộ tư lịnh Pháp liền ra mật lịnh cho các kiều dân Pháp tập trung vào các khu vực gần trại lính Pháp để dễ bảo vệ, đồng thời gởi thư cho Hoàng Hữu Nam phản đối thái độ khiêu khích của các toán Tự vê..  Vào khoảng 20 giờ ngày 19/12/1946, HCM ra lịnh nổ súng trên toàn thành phố Hà Nội, vừa tấn công đồn Pháp vừa lùng bắt các lănh tụ và cán bộ các đảng phái và tôn giáọ  Số người bị giết kỳ này c̣n cao hơn lần trước.

Sau vụ này, đa số các sĩ phu và các tín đồ tôn giáo đă rời bỏ hàng ngũ VM và Mặt Trận Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam, nhưng các tăng sĩ PG vẫn c̣n tiếp tục ở lại trong tổ chức Hội PG Cứu Quốc.

Diệt xong hầu hết các thành phần được coi là phản động trong các tôn giáo và đảng phái, HCM quay lại ve văn tín đồ các tôn giáo để thu hút họ tham gia Mặt Trận Việt Minh. Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Mở Rộng của Đảng CSĐ họp từ 15-17/1/1948 có ghi rơ về chính sách tôn giáo vận của Đảng như sau :

"Phải đi sâu vào các tầng lớp quần chúng Công giáo, Cao Đài, Ḥa Hảo, gây cơ sở tổ chức, đặt những h́nh thức tổ chức thấp như "hội cầu nguyện cho các chiến sĩ", "hội cầu nguyện cho nước độc lập", v.v... Cải thiện đời sống cho đồng bào có đạo, kéo họ khỏi ảnh hưởng chính trị của bọn đội lốt tôn giáo làm bậy.

"Về tuyên truyền nên dựa vào những điều dạy trong thánh kinh mà cổ động nhiệm vụ cứu nước, phải phát hành một cuốn sách gồm những tài liệu, tranh ảnh, nêu sự tàn phá của giặc Pháp đối với đồng bào có đạọ  Vạch cho giáo dân thấy rơ kháng chiến th́ sống, khuất phục th́ chết, tham gia tổ chức là có quyền lợi thực tế.  Đặc biệt chú ư không đụng chạm đến tôn giáo, tín ngưỡng của giáo dân.

"Trong số cha cố, tu sĩ cũng có nhiều tầng lớp, nhiều xu hướng khác nhaụ  Chú ư lớp tông đồ hay kẻ giảng (cathéchiste) đời sống thường khổ sở, có thể gần gũi và đào tạo thành cán bộ tốt.  Đối với những cha cố có tinh thần yêu nước hay trung lập, nên đưa vào Ban Chấp Hành Liên Việt, "Hội ủng hộ kháng chiến".  Đối với những phần tử phản dộng, chính sách đoàn kết một chiều là sai, phải thẳng tay trừng trị những hành động khuấy rối và chia rẽ giáo dân, chia rẽ dân tộc". ("Lịch sử Đảng CSVN", nxb Sách Giáo Khoa Mác-Lênin, 1978, tr. 206-207).

Nhưng rồi sau khi giành lại được chính quyền, Đảng CSVN lại trở mặt ngay, quay lại đàn áp thẳng tay các tôn giáọ  Hà Nội có lần gởi khoảng 200 công an qua Tiệp Khắc học về cách thức khống chế các tôn giáo và cho ấn hành cuốn Chủ Nghĩa Vô Thần Khoa Học do một số giáo sư biên soạn để làm kim chỉ nam cho các cán bộ và công an cách thức khống chế các tôn giáọ  Do các thủ đoạn tráo trở này mà các đảng phái quốc gia và tôn giáo kể trên đă không đứng chung hàng ngũ với CS.

 

Tương quan giữa Phật Giáo Ḥa Hảo và Cộng sản Việt Nam              

 

Phật giáo Ḥa Hảo (PGHH) là đạo Phật được Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ cải biến cho phù hợp với tín đồ và môi trường của miền Nam VN.  V́ đạo được khai sáng tại xă Ḥa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, nên ông gọi là PGHH. Về giáo lư, PGHH lấy pháp môn Tịnh Độ làm căn bản.  Đây là 1 trong 84,000 pháp môn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng để cho các tín đồ tu tại gia biết con đường giải thoát.

Khi t́nh h́nh thế giới biến động, ngày 10/3/1945, ông Hồ Văn Ngà thành lập Đảng Việt Nam Quốc Gia, quy làm một 2 đảng Nhân Dân Cách Mạng và Việt Nam Quốc Gia lạị  Ngày 14/8/1945, theo lời kêu gọi của ông Ngà, Đức Huỳnh Phú Sổ đă cùng các ông Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Ân, Trần Văn Thạch, v.v...đứng ra thành lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất.  Ngày 22/8/1945, lực lượng Việt Minh (VM) cướp chính quyền ở Hà Nội th́ tại miền Nam, lực lượng của VM chưa có tên ǵ nên Nhật đă giao chính quyền Nam Kỳ lại cho ông Trần Văn Ân, Chủ tịch Hội Đồng Nam Kỳ.

Ngày 24/8/1945, Tổng Bộ VM cử Cao Hồng Lĩnh và Hoàng Quốc Việt từ Hà Nội vào Nam tăng cường cho Mặt Trận VM tại Nam Bộ và lập Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ do Trần Văn Giàu làm Chủ ti.ch.  Ngày 7/9/1945, nhóm Đệ Tứ (Trostkyite; nhóm này chủ trương chống Pháp và nhóm CS Đệ Tam của HCM) và các đảng phái Quốc gia đứng lên chống lại Lâm Ủy Hành Chánh, Trần Văn Giàu phải mở rộng cơ quan này, cho Phạm Văn Bạch làm Chủ ti.ch.  Một cuộc biểu t́nh của PGHH được tổ chức tại Cần Thơ đả đảo Lâm Ủy Hành Chánh của VM và ủng hộ Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất.  Cuộc đối kháng giữa các đảng phái quốc gia và CS bắt đầu.

Ngày 13/9/1945, công an của VM do Lư Huệ Vinh cầm đầu đi lục soát xóm Thơm lùng bắt các ông Vũ Tam Anh, Hồ Văn Ngà, Trần Quang Vinh, Lương Trọng Tường và Bùi Quang Chiêụ  Trước đó, vào ngày 9/9/1945, Trần Văn Giàu đă cho công an VM vây trụ sở của Việt Nam Độc Lập Vận Động Hội để bắt chủ tịch của hội này là Đức Huỳnh Phú Sổ, nhưng không bắt được ông.

Ngày 16/9/1945, quân Pháp trở lại chiếm Saigon, tuyên bố không chấp nhận Lâm Ủy Hành Chánh của Trần Văn Giàu, đuổi Lâm Ủy Hành Chánh ra khỏi Dinh Gia Long.  Trần Văn Giàu phải nhờ các ông Trần Văn Thạch, Huỳnh Văn Phương và bà Hồ Vĩnh Kư (tức Nguyễn Thị Sương) đứng ra lập Ủy Ban Ngoại Giao để thương lượng với quân dội Đồng Minh, nhưng không kết quả. Ngày 24/9/1945, các đảng phái quốc gia, trong đó có giáo phái PGHH, đứng lên sát cánh với VM hô hào chống Pháp. Trong khi Lâm Ủy Hành Chánh rút về chợ Đệm th́ các đảng phái quốc gia lập Ủy Ban Phong Tỏa Saigon gồm có Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Ân, Hồ Văn Ngà và Kha Vạn Cân.  Ngày 27/9/1945, Dương Văn Giáo thành lập Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Quốc để tổ chức kháng chiến.  Chính phủ này lại bị VM chống đối mạnh mẽ.

Trước sự chống cự của các đảng phái quốc gia và VM, Pháp đă thương lượng với các đảng phái quốc gia và đề nghị hưu chiến để t́m một giải pháp tốt đẹp.  Cuộc hưu chiến bắt đầu từ 1/10/1945.  Lợi dụng t́nh trạng đang hưu chiến để thương lượng với Pháp, Trần Văn Giàu cho công an và bộ đội VM bao vây trụ sở và tư gia của các lănh tụ đảng phái quốc gia, bắt các ông Hồ Văn Ngà, Dương Văn Giáo, Huỳnh Văn Phương, Trần Quang Vinh, Bùi Quang Chiêụ  Một số bị hạ sát ngaỵ  Các đảng viên của Đệ Tứ như Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Phạm Văn Chánh, Nguyễn Văn Sổ, Phạm Văn Hóa, Trần Văn Sĩ, Nguyễn Văn Soái, v.v... đều bị VM bắt và đem ra chôn sống ở Ḷng Song thuộc tỉnh B́nh Thuận.  Cuộc chiến giữa các đảng phái quốc gia và VM đă thực sự bắt đầụ  Riêng PGHH đă lập các khu kháng chiến tại miền Tây để chống cả Pháp lẫn VM.

VM lợi dụng ḷng yêu nước của Đức Huỳnh Phú Sổ (HPS) và của đồng bào, kêu gọi liên minh để kháng chiến.  VM chiêu dụ một số người có uy tín của PGHH tham gia VM như Sư thúc Mười Trí (tức Huỳnh Văn Trí), anh em kết nghĩa với Đức HPS.  Ngày 16/4/1947, VM giả vờ mở đại hội cao cấp của Ủy Ban Hành Kháng Nam Bộ tại Đốc Vàng, mời Đức HPS tới phó hộị Đức HPS đă cùng với 4 cận vệ đi thuyền tới điểm hẹn, th́ đột nhiên nghe súng nổ hàng loạt.  Đức HPS bị ám hại, 3 cận vệ của ông bị đâm chết, chỉ người lái thuyền nhảy được xuống nước bơi qua bên kia sông nên thoát chết.

Sau khi Đức HPS bị ám sát th́ Mười Trí xuất hiện tại Thánh Địa như muốn thay thế Đức HPS làm Giáo chủ.  Người ta loan tin "Đức Thầy vân du một thời gian, sẽ trở lại", trong thời gian chờ đợi, có vẻ Mười Trí sẽ là "Quyền Giáo chủ lănh đạo PGHH".  Nhưng âm mưu này của VM không thành v́ trong Giáo hội này c̣n có nhiều người như Lê Quang Vinh, tức Ba Cụt.  Mười Trí lại bị mọi người nh́n bằng con mắt xoi mói nên không dám ở lại, phải đi vào mật khu của VM.  Sau hiệp định Geneva năm 1954, Mười Trí đă tập kết ra Bắc, trở lại miền Nam sau 30/4/75 và đă qua đời tại Saigon vào năm 1989.

Ám hại xong Đức HPS, VM cho bộ đội và công an đi lùng bắt giết các lănh tụ và cán bộ trung kiên của PGHH.  Có khoảng 12,000 tín đồ PGHH đă bị thanh toán trong giai đoạn nàỵ Riêng tại thôn Phú Thuận, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, người ta đă khám phá thấy 3 hầm chôn tập thể trên 300 ngườị  Nhưng lực lượng PGHH đă được tổ chức lại để chống CS.

Sau ngày 30/4/75, CS triệt hạ toàn bộ cơ sở của PGHH, từ trung ương đến địa phương.  Tất cả tài liệu kinh giảng của Giáo hội bị tịch thu, bắt dẹp bỏ h́nh Đức HPS tại nơi công cộng và tư giạ  Một số lớn chức sắc và tín đồ của PGHH đă bị giết, bị tuyên án tử h́nh, án tù hay quản thúc tại giạ  Vài vụ thanh toán điển h́nh:

- Những chức sắc và tín đồ bị án tử h́nh : Nguyễn Văn Phụng, Nguyễn Đê, Huỳnh Văn Lầu (cựu Dân biểu Quốc hội), Nguyễn Văn Bảo, Nguyễn Văn Khiết, Nguyễn Văn Oanh, Lê Chơn T́nh, Nguyễn Văn Coi, Nguyễn Văn Bá, Nguyễn Văn Út, Tô Bá Hộ (có thể bị tử h́nh hay tù chung thân).  Riêng Nguyễn Thành Long, Hội trưởng Hội PGHH quận Cái Răng, Cần Thơ đă bị bẻ cổ chết.

- Tù chung thân : Nguyễn Văn Đấu, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Văn Trên, Trần Văn Dũng.

- Bị đưa đi cải tạo và chết trong tù : Phan Bá Cầm (Tổng bí thư Việt Nam Dân Chủ Xă Hội Đảng), Thiếu tướng Lam Thành Nguyên (tự Hai Ngoán), Trịnh Quốc Khánh (tự Chín Lễ), v.v...  Riêng cụ Trần Hữu Duyên, sau một thời gian cải tạo đă được tha về, năm 1992 bị bắt lại và bị phạt 10 năm khổ sai khi ông vừa được 70 tuổi.

 

Tương quan giữa Đạo Cao Đài và Cộng sản Việt Nam.         

Đạo Cao Đài được chính thức thành lập vào năm 1926. Người sáng lập là ông Phủ Ngô Văn Chiêu, ṭng sự tại Phú Quốc.  Ông là người rất tin giáng khẩu của các thần linh và thường dùng bàn xoay để tiếp xúc với thế giới vô h́nh.  Một hôm, ông tiếp xúc được với một vị tự xưng là Cao Đài và vị này cho ông được tôn thờ dưới h́nh một con mắt.  Được thuyên chuyển về Saigon, ông cùng với một số bạn bè thường cầu cơ và được Đức Cao Đài giáng đồng dạy cho biết những triết lư tu và sống đạo.

Ngày 7/10/1926, ông Ngô Văn Chiêu đă cùng 28 người ra tuyên ngôn chính thức lập đạo Cao Đài và xin Thống đốc Nam Kỳ cho phép hoạt dộng chính thức.  Đơn được chấp nhận.  Ông Lê Văn Trung được bầu làm giáo chủ đầu tiên của đạo này.

Sau khi được thành lập, đạo Cao Đài đă bị Đảng CSĐ lên án nặng nề và coi tôn giáo này là công cụ của thực dân Pháp.

Trong Nghị quyết của Đại biểu Đại hội lần thứ 1 của Đảng CSĐ họp từ 27-31/3/1935, CS nhận định như sau :

"Cuộc vận động phổ biến và mở rộng tôn giáo như : Đại biểu Hội nghị Chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ, lập trường dạy Phật học ở Cao Miên, cải lương đạo Phật, khuếch trương đạo Cao Đài ở Nam Kỳ, cuộc tuyên truyền của một bộ phận bọn lănh tụ Cao Đài giả bộ cổ động phản đế và cho rằng đạo Cao Đài là Cộng sản chủ nghĩa ḥa b́nh (?), là những mưu mô của đế quốc lấy mê tín che lấp tư tưởng đấu tranh giai cấp để kéo quần chúng ra khỏi cách mạng tranh đấu " ("Lịch sử Đảng CSVN", nxb Sách Giáo khoa Mác-Lênin, 1978, tr. 124). 

 

Một Nghị quyết của Ban Trung ương đảng khác lại viết về đạo Cao Đài như sau :

Quần chúng có ít nhiều tinh thần phản đế (quốc) theo đạo Cao Đài và Phật giáo khá cao, nhất là sau những năm khủng bố 1930-1931, đạo Cao Đài ở Nam Kỳ kéo được một số đông tín đồ, nhưng nhờ thực tế thức tỉnh và nhờ phong trào dội lướt lên của một số quần chúng theo các đạo ấy đă dần dần nhận rơ con đường đoàn kết tranh đấu để đ̣i quyền lợi, đă có một số ra khỏi đạo Cao Đàị Đế quốc chủ nghĩa Pháp rất xảo quyệt, đă t́m cách lợi dụng những trào lưu tôn giáo để mê hoặc quần chúng. Những Hội Chấn hưng PG ở Nam-Bắc-Trung do bọn hưu quan và địa chủ cầm đầu có kế hoạch của cơ quan mật thám chính trị bày vẽ.  C̣n bọn lănh tụ Cao Đài lúc trước phần nhiều bị bọn tay sai Nhật mua chuộc và lừa gạt quần chúng tín đồ theo ảnh hưởng thân Nhật.  Từ khi đế quốc Pháp dự vào chiến tranh, v́ t́nh h́nh căng thẳng và v́ đế quốc Pháp t́m cách mua chuộc, phần nhiều lănh tụ Cao Đài lúc này đă trở nên tay sai đế quốc Pháp, hô hào tín đồ ra đầu quân giúp "mẫu quốc", che đậy sự tráo trở đầu hàng đế quốc Pháp của chúng bằng câu :"Đi lính để quay mũi súng đánh Tây".  Tóm lại, bọn lănh tụ Cao Đài là bọn có bản tính phản động, đ̣n xóc hai đầu, tùy theo cơ hội hoặc làm tay sai cho đế quốc này, hoặc bán ḿnh cho đế quốc khác, c̣n quần chúng tín đồ Cao Đài th́ có ít nhiều tinh thần phản đế, nhưng c̣n nhiều mê tín thần bí nên bị bọn lănh tụ xỏ lá lừa gạt" ("Lịch sử Đảng CSVN", nxb Sách Giáo Khoa Mác-Lênin, 1978, tr. 124).

Mặc dù Đảng CSĐ nhận định như trên nhưng thực tế không phải thế.  Đạo Cao Đài về sau trở thành một tổ chức chống Pháp và chống CS mạnh mẽ nhất của miền Nam VN.  Họ có cả một tổ chức quân đội rất vững ma.nh.  Trong một đại hội Cựu Chiến sĩ Cao Đài dược tổ chức tại Anaheim, Caifornia từ 1-3/1/1993, cụ Đặng Quang Dương đă tŕnh bày về Quân đội Cao Đài như sau :

"Tại sao Cao Đài là một tôn giáo mà lại có quân đội ?  Nh́n vào lịch sử đen tối của đất nước thời bấy giờ, Nam Kỳ là thuộc địa Pháp, con ngươi mất hết quyền công dân, ngay cả bản thân cũng phải đóng thuế, th́ làm sao tín đồ Cao Đài ngồi yên được, cho nên có sinh hoạt chính trị và tổ chức quân sư..  Để bảo vệ tính mạn tín đồ Cao Đài và để bảo vệ quốc gia dân tộc, quân đội Cao Đài tổ chức các Trung đội lưu động hành quân gom dân về các châu vi đạo, các Trung đội lưu thủ bảo vệ các châu vi đạo để đồng đạo được tự do tín ngưỡng.  Đồng thời quân đội Cao Đài cũng lập chiến khu Núi Bà Đen, chiến khu Bù Lu để chống lại bọn thực dân.

"Năm 1954, chiến tranh Đông Dương kết thúc, một đại hội Cán Bộ Việt Nam Phục Quốc Hội, một đoàn thể chính trị của người Cao Đài, được triệu tập tại Trường Thiếu Sinh Quân Cao Đài, sau 3 ngày hội thảo, đại hội khẳng định :"Bắc chống Nga Hoa, Tây ḥa Âu Mỹ, Nam liên kết bằng hữu Á Châu", một lập trường rất đứng đắn của tín đồ Cao Đài thời bấy giờ" (Phi Loan, "Phóng sự Đại hội cựu Chiến sĩ Cao Đài, Tập san Đại Đạo Phổ Thông, số 1, 4/1993).

Đảng CSĐ đă không thuyết phục được các lănh tụ Cao Đài gia nhập VM v́ giữa Cao Đài và chủ nghĩa CS có một sự khác biệt không dung hợp được : một đàng vô thần và một

đàng hữu thần.  Bộ mặt tráo trở của các lănh tụ Đảng CSĐ đă bị các lănh tụ và tín đồ đạo Cao Đài nhận diện nên không những không tham gia vào các hội cứu quốc của VM mà c̣n cương quyết chống lạị  V́ vậy, CS đă t́m mọi cách tiêu diệt Cao Đàị  Nói một cách khác, đối với CS, thuận là sống, nghịch là chết. 

Trong 2 năm 1945 và 1946, có trên 10,000 chức sắc và tín đồ đạo Cao Đài bị tiêu diệt, điển h́nh nhất là các mồ chôn tập thể 4,000 giáo hữu của đạo này tại Quảng Ngăi và mồ chôn tập thể tại Trà Cao, Tây Ninh.

Sau khi chiếm được miền Nam VN, CS cho ngay một Trung đoàn chiếm đóng Ṭa Thánh Tây Ninh và phong tỏa các vùng phụ cận, lục soát toàn bộ khu vực nàỵ  Sau đó, CS đă bắt đi các chức sắc quan trọng của đạo Cao Đài như Phối Sư Trần Quang Vinh, Chánh Phối Sư Thượng Nhă Thanh, cựu Thiếu tướng Trần Tấn Mạnh và 25 vị chức sắc khác đưa đi cải taọ

Phối Sư Trần Quang Vinh đă chết trong tù.  CS đă giấu xác của ông không cho thân nhân và tín đồ nhận về.

Tiếp đó, CS cho bỏ vũ khí vào đằng sau Điện Giáo Tông rồi mở cuộc lục xét bắt Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa và những người cư ngụ trong nội thành Ṭa Thánh Tây Ninh, truy tố họ về tội tàng trữ vũ khí bất hợp pháp và tổ chức chống chính quyền, rồi đưa ra xét xử trước Ṭa Án Nhân Dân được thiết lập tại sân vận động Long Hoạ  Hàng ngàn tín đồ đă vây sân vận động và khóc, CS không thể xét xử được v́ thanh thế của ông đối với dân chúng quá caọ  Cuối cùng, CS đă đưa ông về quản thúc tại gia nhưng buộc Hội Đồng Chưởng Quản phải giáng xuống hàng Đạo hữụ  Hiền Tài Hồ Thái Bạch, con của Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa, bị bắt trong vụ Mặt Trận Phục Quốc tại Saigon năm 1984 và đă bị xử bắn với Trần Văn Bá và Lê Văn Quân vào ngày 8/1/1985.

Mặt Trận Tổ Quốc của CS huyện Ḥa Thành đă đưa Trương Ngọc Anh về tuyên bố giải tán Giáo hội Cao Đài và thành lập một Hội Đồng Chưởng Quản mới đặt trực thuộc quyền chỉ đạo của Mặt Trận Tổ Quốc Huyện với dụng ư giáng xuống cấp huyện.  Tất cả các cơ sở của Giáo hội này được đặt dưới quyền quản trị của Ban Quản Lư Nội Ô Ṭa Thánh.

Các chức sắc và giáo hữu của đạo Cao Đài chống lại việc giải tán đă bị bắt giam và truy tố về tội chống đốị Sau đây là các vụ điển h́nh :

- Tại Đà Nẵng và Quảng Nam : Năm 1975 : phạt Nguyễn Hoàng Diệu 10 năm tù.  Tháng 11/1976 : kết án tử h́nh Phạm Ngọc Trảng, Nguyễn Thành Điểm và Đặng Ngọc Liêm; phạt từ khổ sai chung thân đến 7 năm tù : Nguyễn Minh Quan, Cao Tường Xuân, Lư Thành Trọng, Châu Thị Mỹ Kim, Trần Văn Bảo, Lê Ngọc Minh, Phạm Thàn Phước, Nguyễn Văn Đông, Nguyễn Văn Đời, Nguyễn Thành Minh, Đỗ Trung Trực, Trần Văn Phi, Nguyễn Tấn Phụng, Phương Văn Được, Ngô Văn Trạng và Tạ Tài Khoán. Năm 1978 : Nguyễn Phú và Mai Văn Căn bị 3 năm tù.  Năm 1979 : Trần Ngọc Thành và Nguyễn Văn Bảy bị hành quyết.

- Tại Saigon : Trong phiên xử ngày 7-8/12/1979 của Ṭa án Nhân dân Saigon, những nhân sĩ và đạo hữu Cao Đài sau đây bị tuyên án về tội tham gia mặt Trận Giải Phóng Việt Nam : Tử h́nh : Ngyễn Văn Mạnh và Lê văn Nho; chung thân khổ sai : Trần Minh Quang, Đinh Tiến Mậu, Nguyễn Thái Dùng, Đoàn Văn Ba.ch.  Một số bị án từ 10-20 năm.

- Tại Tây Ninh : Trong phiên xử ngày 10-11/12/1979 các đạo hữu sau đây bị tuyên án v́ tham gia Mặt Trận Nhân Dân Phục Hưng Quốc Gia Việt Nam : tử h́nh : Nguyễn Thanh Liêm, Huỳnh Thanh Khiết, Hồ Hữu H́a và Lê Tài Thượng; chung thân khổ sai : Nguyễn Anh Dũng (tức Phan Đăng Chức), Trương Phước Đức, Nguyễn Ngọc Đệ, Vơ Văn Thắng.  Một số đạo hữu khác bị án từ 3-20 năm tù.

Trên 35 cơ sở tôn giáo của đạo Cao Đài tại miền nam đă bị tịch thụ  Năm 1989, CS tuyên bố tịch thu luôn Thánh Thất Cao Đài Hà Nội ở số 29 Lư Thường Kiệt, Hà Nội.

Như vậy, với chỉ một vài hàng tường thuật như đă tŕnh bày, chúng ta đă thấy rất rơ CS, người từng xưng hô với thế giới và những người trẻ tuổi tại VN rằng họ là những người chống Pháp, chống đế quốc, đă từng hy sinh ra tù vào khám v́ giấc mộng "giải phóng dân tộc", nhưng khi "giải phóng dân tộc" rồi th́ CS c̣n tàn ác gắp trăm ngàn lần thực dân Pháp, v́ chính họ đă uống máu, sát phạt, thủ tiêu, đày ải, cấm cố người dân Việt của họ chỉ v́ tin vào "đấu tranh giai cấp" hăo huyền.

 

(c̣n tiếp)

 

kngu...@emr.ca

 

Tài liệu :

 

1) Phạm Văn Phổ, "Cuộc tranh đấu âm thầm và liên tục của Giáo hội VN để đ̣i quyền tự do tôn giáo", Khai Thác Thị Trường, số tháng 7/8/9/1994.

 

2) Hoàng Diệu Tâm, "Tôn giáo dưới chế độ Việt Cộng : 1975-1995", Kháng Chiến, số 152, tháng 12/1995.

 

3) Lữ Giang, "Những bí ẩn đằng sau các cuộc thánh chiến tại VN", 1994.

 

4) Nguyễn Thị Sông Hương, "Phê b́nh mùa biển động", nxb Đại Nam, 1992.

 

5) Chính Đạo, "Tôn giáo và chính trị : Phật giáo 1963-1967", nxb Văn Hoá 1994.

 

 

 

 

 

(c̣n tiếp)