Trang Chủ . Kim Âu . Lưu Trữ. Báo Chí . RFI . RFA . Tác Giả . Chính Trị . Văn Nghệ . Khoa Học . Kỹ thuật . Mục Lục . Quảng Cáo . Photo . Photo 1. Tinh Hoa . Liên lạc

 

Một Trang Lịch Sử (tài liệu US Senate)

 

 

 

 

MINH THỊ

Bài trong trang này nhằm cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu tham khảo, điều nghiên của Người Việt Quốc Gia trong tinh thần "tri kỷ, tri bỉ", " biết ta, biết địch" để nhận rơ những âm mưu, quỷ kế, ngôn từ và hành động của kẻ thù và có phản ứng, đối sách kịp thời. V́ mục đích chiến đấu chống kẻ thù chung là Cộng Sản nên nhận được bài cùng lập trường là chúng tôi tiếp sức phổ biến. V́ thế có những tác gỉa chúng tôi đăng bài nhưng chưa liên lạc được. Nếu tác gỉa nào cảm thấy không hài ḷng xin liên lạc qua email, chúng tôi sẽ lấy bài của quư vị xuống trong ṿng 48 tiếng. 

US Senator John McCain , Kim Âu Hà văn Sơn

NT Kiên , UCV Bob Barr, Kim Âu Hà văn Sơn

 

 

 

 

 

Nguyễn Thái Kiên , Kim Âu Hà văn Sơn, Cố vấn an ninh đặc biệt của Reagan-Tỷ phú Ross Perot,Tŕnh A Sám

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GIẤC MƠ LĂNH TỤ    

                     

Phần 6

 

 

 

 

* Thượng Tọa Thích Minh Châu :

 

Hiện nay Thượng Tọa Thích Minh Châu, cựu viện trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, đang hoạt động rất mạnh trong khối "Phật Giáo Quốc Doanh Việt Nam", một công cụ của CS.

Thượng Tọa đă gôm nhiều giáo sư hay giảng viên từ các trường Đại Học Saigon để dạy thêm tại các lớp Cao Cấp Phật Học, nhằm đào tạo một thế hệ tăng ni cho chế độ CS. Trong quá khứ, là một điệp viên nằm vùng cho CS, ông đă góp công không ít trong việc phá hoại VNCH. Việc ǵ đă đem một con người có kiến thức như thế lún sâu vào cơi ô trọc ? Đây là một kinh nghiệm cho thấy khi con người đă bước chân vào cái tṛng CS th́ họ khó mà rút chân ra được. Khi chủ nghĩa CS nhập vào th́ tinh thần Bồ-Tát phải ra đị Thế hệ sau nên nghiền ngẫm để tránh hoạ diệt thân.

Thượng Tọa Thích Minh Châu tên thật là Đinh Văn Nam, sinh năm 1918 tại xă Kim Khê, huyện Nghi Lộc, Nghệ An -- cùng tỉnh với quê ngoại của Hồ Chí Minh (HCM được sinh ra và lớn lên tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, Nghệ An).

Nói về tính giai cấp th́ Đinh Văn Nam mang tính quí tộc phong kiến v́ xuất thân trong một gia đ́nh khoa bảng. Cha của Nam là ông Đinh Văn Chấp đậu tiến sĩ Hán học của nhà Nguyễn, có lẽ cùng thời với ông Huỳnh Thúc Kháng -- là một nhà nho tài giỏi, thông minh. Ông Chấp có nhiều vợ và 8 người con, theo thứ tự như sau : Đinh Văn Kinh là con trưởng, đến Đinh Văn Quang, Đinh Văn Nam (tức TT Thiện Minh), Đinh Văn Linh, Đinh Văn Phong, Đinh Thị Kim Hoài, Đinh Thị Kim Thai và Đinh Thị Khang. Anh chị em gia đ́nh này rất thông minh, được học cả Hán học lẫn Tây học. Cụ Đinh Văn Chấp c̣n có nhiều vợ thứ.

Trong hồ sơ tại Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia có ghi năm 1940, Nam được bổ làm Thừa Phái tại triều đ́nh Huế. Năm 1945, vua Bảo Đại trao quyền lại cho Hồ Chí Minh, ông Đinh Văn Chấp được Mặt Trận Việt Minh giao cho giữ chức vụ Chủ Tịch Ban Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác-Lênin Nghệ An, sau đó thăng lên chức Chủ Tịch Mặt Trận Liên Việt Nghệ An.

Nam có người em ruột là Đinh Văn Linh làm Đại Sứ của Hà Nội tại Trung Quốc, sau làm chủ nhiệm tờ báo Quân Đội Nhân Dân. Linh được Hà Nội đưa vào tiếp thu tại miền Nam khi chính phủ Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Nam cũng có người em rễ hụt là Trần Điền làm Đại Sứ của Hà Nội tại Cam-Bốt, thời Sihanouk c̣n nắm chính quyền. Cô Đinh Thị Kim Hoài, em của Nam, cho Điền là quê mùa nông dân nên không thích gá nghĩạ Điền không phải v́ thế xấu hổ, trái lại vẫn luôn luôn giữ mọi liên hệ tốt đẹp với gia đ́nh ông Đinh Văn Chấp. Sau này Hoài đă chấp nhận làm bé cho Tướng Nguyễn Sơn, một người hào hoa phong nhă của Mao Trạch Đông đưa về theo yêu cầu của Hồ Chí Minh.

Đinh Văn Nam gia nhập Mặt Trận Việt Minh khoảng sau 1940 khi Mặt Trận này vừa được thành lập. Nhóm của ông thường họp tại chùa Cẩm Linh, Diệc Cổ Tự hay trụ sở của Hội Nghiên Cứu Phật Học Trung Kỳ ở trong nội thành của thành phố Vinh. Một tăng sĩ PG đă công khai phản đối việc dùng chùa chiền để làm nơi hội họp bí mật của nhóm nói trên là HT Thích Tuệ Chiếu.

* HT Tuệ Chiếu tên thật là Trương Thế Giám, trụ tŕ chùa Phước Ḥa, Sầm Sơn, Thanh Hóa, là người thông thạo cả Hán học lẫn Tây học Ông đă đào tạo rất nhiều tu sĩ PG. Ông thường đến dạy cho các tăng ni và Phật tử ở Vinh về Phật học. Ông c̣n mở một lớp "Cours d'Adultes" (lớp dạy cho người lớn) ở Vinh để dạy Pháp văn cho những người lớn tuổi muốn học thêm Tây học. Ông biết chuyện một số người đă dùng chùa và trụ sở của PG hội họp làm chính trị nên lên tiếng phản đốị Ông bị hăm dọạ Các bạn đồng môn với ông là Hà Huy Tập, Trần Văn Tăng đều gia nhập Đảng CS, nhưng ông chống đối quyết liệt. Vào khoảng năm 1947, ông có liên hợp với Linh mục Hoàng Quỳnh ở Phát Diệm thành lập Mặt Trận Liên Tôn để đối phó với những sự khuấy phá và lộng hành của Mặt Trận Việt Minh.

Năm 1954, khi Hiệp định Geneva được kư kết, ông liên lạc với các làng Công giáo chung quanh để t́m cách di cư vào Nam nhưng đi không lọt. Trong vụ đấu tố năm 1957, HT Tuệ Chiếu bị chôn sống.

Đinh Văn Nam có gia đ́nh năm 20 tuổị Vợ Nam là Lê Thị Bé, con một gia đ́nh khoa bảng khác ở cùng làng là cụ Lê Văn Miến, vừa đậu Tây học, vừa thông Hán học nên làm giáo sư Hán văn và Pháp văn, sau vào dạy Quốc Tử Giám (đại học của triều đ́nh) ở Huế.

Nam ở với vợ được 5 năm, sinh được 2 người con, một trai (Đinh Văn Sương) và một gái (Đinh Thị Phương). Vào 1943, Nam bỏ vợ vào Huế ở luôn, làm thừa phái tại Ṭa Khâm và tiếp tục theo học tại trường Khải Định cho đến khi tốt nghiệp Tú Tài toàn phần. Từ đó Nam ít khi trở về quê thăm vợ con. Vợ ông phải làm việc vất vả để nuôi con.

Sau 30/4/1975, Lê Thị Bé từ Bắc được vào Nam thăm chồng do Đảng cho phép. Khi vào th́ TT Minh Châu coi như không quen biết. Sau 10 ngày ở lại, Lê Thị Bé trở về miền Bắc, và từ đó đến giờ không nghe nhắc đến nữa...

Năm 1948, Nam vào tu tại chùa Từ Đàm và học ở trường An Nam Phật Học Huế; nhưng những người thân cận với gia đ́nh ông nói rằng ông xuất gia trước khi VM cướp chính quyền năm 1945. Sau khi tốt nghiệp, Nam lấy pháp danh là Thích Minh Châụ Năm 1952, Thích Minh Châu được đưa sang Ấn Độ du học, ông tốt nghiệp Tiến Sĩ Triết Học tại Đại Học Bihar; đi cùng với ông có Nguyễn Đ́nh Kỳ, nhưng Kỳ ở lại Ấn Độ và chết bên đó. TT Minh Châu trở về VN năm 1964. Khi chính phủ Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ, các tôn giáo nhất là các giáo phái và Phật Giáo muốn phát triển các đại học tự Phật Giáo tại Saigon cũng cần người trong hàng tu sĩ có văn bằng Tiến Sĩ để làm Viện Trưởng. Thích Minh Châu là người được chọn. Thời gian c̣n học ở Ấn Độ, Thích Minh Châu được Ṭa Đại Sứ Bắc Việt ở đây móc nối giúp đỡ, nên ông thường trao đổi, hội họp với nhân viên Sứ Quán Bắc Việt giống như một đảng viên CS. Trong giai đoạn này, VNCH đă cắt đứt mọi quan hệ ngoại giao với Ấn Độ v́ chính phủ Ấn Độ dưới thời Thủ Tướng Nê-ru rất thiên Cộng.

Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia đă có nhiều tài liệu chứng minh rằng Thích Minh Châu là người hoạt động cho VC tại Ấn Đô.. Những h́nh ảnh qua lại giữa ông và những nhân vật cao cấp Hà Nội tại Ấn Độ kể cả Hồ Chí Minh được trưng ra, nhằm không chấp nhận việc cho Thích Minh Châu về Miền Nam. Sau nhiều lần tranh căi, Tướng Nguyễn Khánh phải nhượng bộ thuận cho Thích Minh Châu về Miền Nam nhưng Viện Hóa Đạo phải cam kết là không để cho Thích Minh Châu hoạt động chính trị nào, nhất là tái hoạt động cho CS.

Về làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, Thích Minh Châu cho lập ngay nhóm CS nằm vùng ngay trong Viện bất chấp lời cam kết của Viện Hóa Đạọ Thượng Tọa Thích Trí Quang đưa Nguyễn Trực chỉ huy nhóm nàỵ Với danh nghĩa là về Huế để liên lạc Phật sự, nhóm này đă không thể qua mắt dược các nhân viên t́nh báo VNCH về mọi hoạt động của họ với Khu Ủy Trị Thiên - Huế do Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chỉ đạo (CS Bắc Việt trá h́nh).

Thượng Tọa Thích Minh Châu luôn luôn tự hào về ḿnh là không theo một phe phái nào trong sự tranh chấp nội bộ Phật Giáo, nhất là giữa 2 khối Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang. Nhiệm vụ của ông chỉ là giữ ḷng trung kiên và hành động theo đúng với Đảng CS mà thôị Ngày 30/4/1975, Viện Đại Học Vạn Hạnh trở thành cơ sở công khai hoạt động "cách mạng".

Những người trong nhóm Nguyễn Trực (lúc này Trực mang cấp Trung Úy VC) đă đón VC tại Ngă Tư Bảy Hiền vào thẳng Viện Đại Học Vạn Hạnh, và cũng từ đó Viện Đại Học này bị xóa tên : Viện Đại Học Vạn Hạnh trở nên cơ sở của Viện Khoa Học Xă Hội TPHCM của VC. TT Thích Minh Châu đă hiện nguyên h́nh là một cán bộ cao cấp của VC. Những thời gian kế tiếp, ông đă cùng với các Ḥa Thượng Thích Đôn Hậu, Thích Trí Thủ biến Phật Giáo thành một lực lượng vững chắc của chế độ CS., một danh từ được chào đời để gán cho những tu sĩ thân cộng :"Phật Giáo Quốc Doanh". V́ công tác, TT Thích Minh Châu không ngần ngại tiêu diệt mọi thành phần đối lập đi ngược lại đường lối của ông như các TT Thích Thiện Minh, Thích Quảng Độ, Thích Huyền Quang, Thích Thông Bửu,... Các sự phản kháng của những TT trên đều được ông báo cáo đầy đủ cho CS. Có lần ông báo cáo đích danh TT Quảng Độ là người phá hoại công cuộc thống nhất PG.

Mặc dù HT Thích Trí Tịnh được đưa lên làm Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo quốc doanh, nhưng trong thực tế, HT Thích Đức Nhuận (của miền Bắc, vừa qua đời vào 1/1994) điều hành phần Giáo Hội PGVN (quốc doanh) miền Bắc, c̣n HT Thiện Minh điều hành phần Giáo Hội PGVN miền Nam. HT Thích Minh Châu c̣n làm hiệu trưởng trường Cao Cấp Phật Học ở 716 đường Nguyễn Kiện (tức Vơ Di Nguy nối dài cũ), Phú Nhuận, huấn luyện các tăng ni về Phật học dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lê và cũng là giảng viên thường trực về môn này cho Trường Cao Cấp Phật Học tại chùa Quán Sứ Hà Nội.

Ông là một tăng sĩ có uy tín nhất đối với Đảng và nhà cầm quyền CSVN hiện naỵ Mặc dầu đă góp công lớn trong việc làm tan ră Giáo Hội PGAQ, ông vẫn được một số Phật tử của Giáo Hội này quư mến và tôn sùng.

 

Theo dơi cuộc đời của HT Huyền Quang, một bài học được rút ra là đối với các vị tu hành, CS đă đưa họ lên một vị thế hữu danh vô thực để làm công tác dân vận nhằm lôi kéo tín đồ theo ho.. Một nhà tu hành bị lôi kéo vào thế giới chính trị xảo quyệt của CS nhưng không hành trang cho ḿnh một sự hiểu biết rơ rệt về môi trường này đă đưa ông đi từ thất bại này tới thất bại khác và cuối cùng ông cũng không thoát khỏi bàn tay lông lá của CS; mộng đưa Phật Giáo thống nhất dưới sự lănh đạo của Ấn Quang cũng là hư không.Ông có tên thật là Lê Đ́nh Nhàn, sinh năm 1917 tại B́nh Định. Thủa nhỏ, ông theo học ở Phật Học Đường Lưỡng Xuyên, Trà Vinh, sau về học Phật Học Đường Long Khánh, B́nh Đi.nh. Năm 1945, ông gia nhập Hội Phật Giáo Cứu Quốc của HT Trí Độ, giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Phật Giáo Cứu Quốc B́nh Định, sau đó ông đdược chọn làm Khu Ủy Viên Liên Khu 5 kiêm Chủ Tịch Hội Phật Giáo Cứu Quốc Liên Khu 5 từ 1945-1951.   

Năm 1951, HCM quyết định sát nhập Mặt Trận Việt Minh (trong đó có các Hội Cứu Quốc) và Hội Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam thành Mặt Trận Liên Việt, các hội cứu

quốc bị hủy bỏ, trong đó có Hội Phật Giáo Cứu Quốc. V́ thế, TT Huyền Quang bị mất chức Chủ Tịch Hội Phật Giáo Cứu Quốc Liên Khu 5. Ông không theo kịp sự chuyển hướng chính trị trong đường lối của Đảng nên đă phản đối và bị bắt giam từ 1952-1954 mới được trả tự do. 

Trong "Đơn cứu xét nhiều việc" đề ngày 25/6/1992 gởi nhà cầm quyền Hà Nội, HT Huyền Quang nói rất rơ :

"Giáo Hội Phật Giáo Cứu Quốc Liên Khu 5 cũ (trong Mặt Trận Việt Minh) được thành lập đồng lúc với các đoàn thể cứu quốc khác, sau ngày khởi nghĩa mùa thu 1945, tại các tỉnh: Nam, Ngăi, B́nh, Phú. Sau 6 năm làm việc cứu quốc, như các tổ chức nhân dân khác, đến năm 1951, Mặt Trận Liên Việt Liên Khu 5, buộc chúng tôi mở đại hội tại Bồng Sơn, B́nh Định, để lấy quyết định "chuyển hướng công tác" bằng cách : cắt bỏ 2 chữ cứu quốc và giao hết quần chúng Phật tử qua các tổ chức nhân dân khác. Phật Giáo chúng tôi bấy giờ, sau đại hội trên chỉ c̣n cái tên là Hội Phật Giáo Liên Khu 5 không có quần chúng. Mặt Trận Liên Việt cắt đứt hết mọi liên hệ với Phật Giáo chúng tôị Tôi chống việc làm đó nên bị bắt giam tại Quảng Ngăi từ 1952-1954".

Mặc dầu đă ở trong vùng CS chiếm đóng tại Liên Khu 5 từ 1945-1954, làm việc và ở tù dưới chế độ CS, ông tỏ ra không am tường nhiều về CS.

Ngoài chuyện ông không hiểu tại sao HCM giải tán các Hội Cứu Quốc năm 1951 như đă nói trên, ông c̣n phạm một lỗi lầm to lớn là sau khi VC chiếm được miền Nam, ông và Viện Hoá Đạo Ấn Quang đă vội vàng thương lượng với Hội Phật Giáo VN (quốc doanh) miền Bắc để thống nhất PG 2 miền và tạo uy thế cho Giáo Hội Ấn Quang.

Sự vội vàng này đă để lộ cho CS thấy ngay tham vọng của các tăng sĩ trong Viện Hóa Đạo Ấn Quang nên CS đă t́m cách gây mâu thuẫn nội bộ và diệt từng phần. Gom không được Hội PGVN miền Bắc vào Giáo Hội AQ, ông và các tăng sĩ trong GHAQ đă tổ chức Đại Hội Phật Giáo kỳ 7 để củng cố nội bộ và quay lại chống chính quyền. Nhưng CS đă ra tay. Trong cuộc lục soát chùa AQ của lực lượng an ninh CS vào đêm 6/4/1977, ông đă bị bắt giam cùng với một số tăng sĩ cao cấp khác. Ông đă bị truy tố và đưa ra Ṭa Án Nhân Dân tại Saigon xét xử ngày 8/12/1978. Ông bị phạt 2 năm tù treo.

Trong phiên ṭa nói trên, Viện Kiểm Sát CS có đọc lời tự thú của ông khi bị giam ở công an như sau :

"Từ trước đến nay, chủ trương chúng tôi là bất hợp tác với chính quyền. Chúng tôi xin xác nhận rằng, trong quá khứ cũng như từ sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, chúng tôi có những việc làm sai trái với đường lối, chính sách, luật pháp của chính quyền. Những tội lỗi này do chúng tôi gây ra".

 

Thật là đáng buồn. Trước 1975, không một chính quyền nào, kể cả chính quyền "độc tài gia đ́nh trị + tàn ác + bất nhân + kỳ thị tôn giáo + đàn áp dă man" của Ngô Đ́nh Diệm lại đang tâm bắt một vị sư phải nói lên những điều này, dù rằng "có những việc làm sai trái", "bất hợp tác với chính quyền".

Kế tiếp, tháng 11/1981, GHPGVN được thành lập và CS coi như GHAQ đă gia nhập vào giáo hội này, nhưng ông và một số tăng sĩ trong Viện Hoá Đạo đă chống lại việc sát nhập đó. Ông được cử làm Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Đạo thay thế HT Thích Trí Thủ đă di vào GHPGVN nên tháng 2/1982 ông bị bắt và bị chỉ định cư trú tại  chùa Hội Phước, xă Nghĩa Chánh trong thị xă Quảng Ngăi.

Văn là người (Le style, c'est l'homme). "Đơn cứu xét nhiều việc" đề ngày 25/6/1992 gởi nhà cầm quyền CS của ông đă được cắt xén và trau chuốt cả h́nh thức lẫn nội dung trước khi phổ biến.

Nhưng khi được bản sao toàn văn của đơn này đă làm cho một số nhân sĩ PG thất vọng, v́ qua đó người ta nhận ra kiến thức và sự hiểu biết của ông có giới hạn và từ đó đă đưa ông đến những nhận định sai lầm. Ông có tinh thần đố kỵ Công giáọ Bất cứ khi nào có cơ hội, ông đều đưa Công giáo ra để suy tỵ hay mĩa mai.

Trong "Đơn xin cứu xét nhiều việc", ông hỏi tại sao Nhà nước quốc doanh hóa PGAQ mà không quốc doanh hóa Giáo Hội Thiên Chúa Giáo ?

Phải chăng Nhà Nước đă "xem kẻ thù như quư khách" và xem PG là "con nhà nghèo" ?

Trong dịp lên tiếng tại chùa Linh Mụ ngày 3/5/1992 nhân đám tang HT Đôn Hậu, ông hỏi tại sao các linh mục Công giáo được tự do hành lễ, c̣n ông không được Ban Tổ Chức cho hành lễ ở Huế ?

Chính sự thiếu hiểu biết và ganh ghét này đă gây những phản ứng không thuận lợi cho cuộc đấu tranh mà ông đang phát động. Ḷng thù hận của ông đă bộc lộ một cách công khai khi viết cũng như khi nóị

Trong văn thư số 248 CV/TGCP ngày 25/7/1993 gởi HT Huyền Quang, Ban Tôn Giáo Chính Phủ của CSVN đă trả lời những điểm mà ông khiếu nại bằng những lời lẽ khá gay gắt, nhất là về điểm 1 liên quan tới việc HT Đôn Hậu và Trí Thủ đem GHAQ sát nhập vào GHPGVN. Ban Tôn Giáo kết luận :

"Yêu cầu ông nhận rơ lẽ phải và đạo lư, nhận rơ sai lầm khuyết điểm đối với đạo, đối với đất nước, đối với pháp luật để thành tâm sửa chữa và chuyên tâm tu hành v́ sự nghiệp cao cả phụng sự dân tộc và đạo pháp".

Ông đă gặp "thứ dữ".

HT Huyền Quang không phải là đảng viên CS. Trong quá khứ, ông chỉ tham gia các hoạt động ngoại vi của Đảng nên đă không hiểu nhiều về đường lối, chiến lược, chiến thuật và thủ đoạn của CS. Ông bị mang họa do sự thiếu hiểu biết này.

Herés is Thich Nhat Hanh's statement :

Statement of the Venerable Thich Nhat Hanh on the Vietnam National Day, November 1, 1966. This is a statement directly ađressed to my brothers in the National Liberation Front (NLF). This comes after my appeal to religious leaders, humanists, and intellectuals of all countries, asking them to denounce all intentions of the United States and the Communist bloc to extend the war in Vietnam. Vietnam National Day has the symbolic value of the co-operation of all Vietnamese, whether they are in the NLF or not, in the struggle against dictatorship, in the spirit of national revolution, in the will of selfđetermination.

I would like to take the opportunity to appeal for the co-operation of all patriotic Vietnamese, which is absolutely necessary in this struggle for peace and national independencẹ No Vietnamese will refuse this struggle for peace and independencẹ That is why there is no reason for brothers to kill each other.

THERE WERE VIETNAMESE WHO HAVE BEEN SUPPORTING THE NLF BECAUSE THEY ARE CONVINCED THAT THE FRONT IS FIGHTING FOR NATIONAL INDEPENDENCẸ THERE ARE MANY OTHER VIETNAMESE WHO DO NOT SUPPORT THE FRONT BECAUSE THEY SUSPECT THAT THE FRONT MAY BE DRIVING THE NATION TO COMMUNISM. THIS WORRY IS INCREASING EVERY DAY, BECAUSE, AS WAR GOES ON, AS THE US INCRESES ITS ARMY AND WEAPONS, THE FRONT HAS TO LEAN MORE AND MORE ON THE COMMUNIST BLOC TO BE ABLE TO COPE WITH THE US AND THUS BECOME MORE AND MORE AN INSTRUMENT OF THE COMMUNIST BLOC.I OPPOSE THE US BECAUSE OF ITS VIOLATION OF VIETNAMESE SOVEREIGNTY, AND ITS DIRECT ENGAGING IN THE KILLING OF VIETNAMESẸ I ALSO OPPOSE THE COMMUNIST INTENTION TO MAKE USE OF THE NATIONALISTIC FEELING OF THE VIETNAMESE PEOPLE TO SERVE THEIR IDEOLOGỴ BUT I RESPECT ALL PATRIOTIC VIETNAMESE WHO ARE

SINCERELY STRUGGLING FOR PEACE, INDEPENDENCE AND SELFĐETERMINATION ABOVE ALL ELSE.

I am calling for my brothers in the NLF to recognize the presence of patriotic, non-Front blocs of citizens who are anti-Communist, but who are also opposing US policy, and seek to establish as soon as possible dialogue, co-operation and unity, beyond ideology, for the common purpose of Vietnamese selfđetermination. Thus could the Vietnamese people become capable of preventing the manipulation of the Front by the Communist bloc, and effectively stop US interference in Vietnam affairs which violates the principle of selfđetermination.

That dialogue and co-operation between different groups in South Vietnam will certainly result in the establishment and guarantee of genuine neutrality in South Vietnam, eliminating all influences from the American and Communist blocs and realizing the peace that the people of Vietnam so desire.

We ask our brothers to act in order to avoid in time the threat of total destruction brought about by the US and the threat of Communism inflicted on us by the Communist bloc. ONLY THE CO-OPERATION BETWEEN NON-COMMUNIST GROUPS AND THE FRONT CAN LEAD VIETNAM OUT OF THIS DANGEROUS SITUATION.

I pray for love to be seen among brothers and for the realization by all Vietnamese that their future and survival does not depend on the US, the Soviet Union, or China, but on the co-operation of the Vietnamese themselves."

Năm 1967, Đại Đức Nhất hạnh cho xuất bản cuốn "Vietnam, Lotus in a Sea of Fire, a Buđhist Proposal for Peace" (Việt Nam, Hoa sen trong biển lửa, môt đề nghị ḥa b́nh của Phật giáo), nói về cuộc tranh đấu của PG từ 1963-1966 và những chết chóc tang thương do Hoa Kỳ và quân đội VNCH gây rạ Ông lên án Ngô Đ́nh Diệm đàn áp PG, Nguyễn Cao Kỳ độc tài quân phiệt và ca tụng HCM là anh hùng dân tộc. Ông tuyên bố MTGPMN do những người quốc gia chống chế độ Ngô Đ́nh Diệm lập ra chứ không phải do Hà Nội lập ra, nhưng v́ Mỹ đă đổ quân và vũ khí vào VN, nên họ "nghiêng theo khối CS, và càng ngày càng trở thành công cụ của khối CS", nhưng ở dưới ông lại trích dẫn lời của Lê Duẩn tuyên bố trong Đại hội đảng kỳ 3 (1960) xác nhận "Đảng ta" lănh đạo Mặt Trận.

Trong bộ Lịch Sử Đảng CSVN do Nhà xuất bản Sách Giáo khoa Mác-Lênin ở Hà Nội ấn hành, Hà Nội chính thức xác nhận rằng MTGPMN được thành lập do Nghị Quyết của Đại hội III của Đảng CSVN họp tại Hà Nội vào tháng 9/1960. Đại Đức Thích Nhất Hạnh biết rơ điều đó, nhưng khi làm công tác tuyên truyền cho VC, ông đă cố t́nh bóp méo sự thật để biện hộ cho sự xâm lăng của Hà Nội.

Năm 1968, khi ḥa đàm Paris bắt đầu họp, ông được cử làm phát ngôn viên chính thức của GHPG Ấn Quang ở hải ngoạị Đại Đức Nhất Hạnh đă ra hải ngoại năm 1964, thường trú tại Pháp. Nhưng chỉ sau 30/4/1975 một thời gian, tất cả những ai đồng quan điểm với lời kêu gọi của thầy Thích Nhất Hạnh đều thấy ḿnh bị lừa và đa số phải chịu trận, kẻ chết, người bị cầm tù. Thầy đă bắt đầu thối lui, không c̣n làm chính trị nữa, và từ đó lo tu đạo và chỉ lo hoằng dương đạo pháp từ nước Pháp. Đọc những bài ông viết sau 1977, người ta thấy lập trường chính trị của ông đă có nhiều thay đổi.

Thầy nói th́ hay lắm. Đạo Phật là đạo tu chứ không phải là đạo trị quốc. Đạo và đời đă bị nhập chung làm một, từ đó đem đến cảnh "nước mất nhà tan".

 

b) Thành lập Nhóm Ḥa Giải, sau đổi thành Lực Lượng Quốc Gia Tiến Bộ :

Sau Đại hội PG kỳ 3 của GHPG Ấn Quang tổ chức tại Saigon ngày 20/8/1968, luật sư Trần Ngọc Liễng tuyên bố thành lập Nhóm Ḥa Giải gồm 25 ngườị Nhóm này sau biến thành Lực Lượng Quốc Gia Tiến Bô.. Ngày 15/11/1969, LS Liễng đưa ra một tuyên bố khẳng định "hướng đi của dân tộc VN là ḥa b́nh trên cơ sở độc lập, tự do và dân chủ". Tiếp theo, ông kêu gọi thành lập một chính phủ ḥa giải để chấm dứt chiến tranh, triệt thoái quân đội ngoại lai ra khỏi miền Nam thật sớm. Các báo ở Saigon hỏi ông tại sao không nói ǵ về phía CS, ông không trả lờị Mục tiêu của bản tuyên bố này là yểm trợ cho các đ̣i hỏi của Bắc Việt tại ḥa đàm Paris.

c) Tuyên ngôn 6 điểm của Phái đoàn PG Ấn Quang :

Tháng 10/1970, TT Thích Thiện Minh cầm đầu một Phái đoàn PGVN qua Nhật Bản dự Hội Nghị Thế Giới về Tôn Giáo và Ḥa B́nh họp tại Tokyo từ 16-22/10/1970. Phái đoàn này gồm có TT Thích Thiện Minh, TT Thích Huyền Quang, TT Thích Ḿnh Tâm, Đại Đức Thích Nhất Hạnh (phát ngôn viên) và 2 cư sĩ Ngô Văn Giáo và Vĩnh B ửu. Tại hội nghị nói trên, phái đoàn đă đưa ra đề nghị 6 điểm của PGVN như sau :

- Các phe lâm chiến phải bắt đầu xuống thang ngay lập tức để đạt đến một cuộc ngưng bắn toàn diện vào lúc 18 giờ chiều 30 Tết Tân Hợi (tức 26/1/1971).

- LHQ sẽ chỉ dịnh một nhóm quốc gia trung lập để họp thành Ủy Hội Kiểm Soát Ngưng Bắn gồm cả đại diện của Quân đội VNCH và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam VN.

- Chính phủ VNCH phải phóng thích các tù nhân chính trị, sinh viên, trí thức, tu sĩ và tất cả những người đă bị tạm giam v́ tranh đấu cho ḥa b́nh và chủ quyền của dân tộc.

- Chính phủ Hoa Kỳ phải chấm dứt t́nh trạng thối nát, độc tài và bất lực ở miền Nam VN bằng cách để cho người Việt tự do chọn đại diện đa số dân chúng có bản chất ḥa giải dân tộc, không liên kết và có đủ khả năng để :

o Thương thuyết với chính phủ Hoa Kỳ về thời biểu triệt thoái mau chóng toàn thể quân lực Hoa Kỳ ở VN và những liên hệ ngoại giao, văn hóa và kinh tế giữa Hoa Kỳ và VN.

o Thương thuyết với Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam VN về những thể thức tổng tuyển cử để bầu lên một chính phủ đại diện cho mọi khuynh hướng chính trị ở Nam VN, một cuộc bầu cử hoàn toàn tự do dưới sự giám sát quốc tế, trong đó mọi người VN thuộc bất cứ khuynh hướng chính trị nào đều có thể tham dư..

- Các chính phủ Hoa Kỳ, Sô-viết, Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa và các quốc gia liên hệ khác cộng tác với nhau để chấm dứt đau khổ của người dân Việt bằng cách ủng hộ đề nghị này cho chính người Việt đề rạ

- Các phe lâm chiến tại VN, nhân dân ưa chuộng ḥa b́nh trên thế giới, các giáo hội tôn giáo và các nhà nhân bản cấp thời hành động để thúc đẩy các quốc gia có trách nhiệm về chiến tranh VN chấm dứt cuộc chiến tranh tại VN, Kampuchea và Lào.

Từ các danh từ và văn từ được xử dụng đến nội dung của bản tuyên bố đều giống hệt các bản tuyên bố của MTGPMN. Bản tuyên bố được viết với lối hành văn lập pháp hay quyết định thay v́ nhẹ nhàng của một đề nghị của một tổ chức quốc tế về tôn giáo và ḥa b́nh. Sau bản tuyên bố trên, GHPG đă làm mất cảm t́nh của hầu hết các quốc gia trên thế giớị Phái đoàn Đan Mạch đă vặn hỏi tại sao PGVN chỉ đ̣i quân đội Mỹ rút ra mà không đ̣i tất cả các quân đội ngoại nhập phải rút, trong đó có cả quân đội CS Bắc Việt, Phái đoàn PGVN không trả lời được.

5. Thành lập "chính phủ Phật Giáo" để giao cho VC :

Tạp chí Quê Mẹ số 125 & 126 tháng 10-11/1993 đă công bố bản tự thuật của HT Thích Đôn Hậu về cuộc gặp gỡ giữa ông và TT Phạm Văn Đồng năm 1976. Bản tự thuật cho biết vào tháng 4/1975, PG đă thành lập Chính Phủ Phật Giáo Dương Văn Minh để giao miền Nam cho CS Hà Nộị Sau đây là phần liên hệ đến vấn đề này được đề cập trong bản tự thuật của HT :

TT Phạm văn Đồng :

"- Đấy, theo Cụ biết, trong khi người Mỹ đi rồi, Thiệu xuống rồi, PG lại âm mưu lập chính phủ PG, đưa Dương Văn Minh lên làm TT. Lập làm ǵ vậy ? Lập chính phủ đó để đánh với Cách Mạng phải không ?

HT đáp :

- Chuyện ấy có, Phật Giáo chúng tôi có lập Chính Phủ. Nhưng thế nàỵ Thưa Thủ Tướng. Chúng tôi đă hỏi các vị trong Viện Hóa Đạọ Các vị cho biết như sau : HT nên nhớ rằng, PG chúng ta không ngu si đến độ lập CP Phật Giáo, sau khi Mỹ đă bỏ miền Nam, Thiệu vơ vét của cải đi rồị Của cải, thế lực ở miền Nam VN chẳng c̣n ǵ, mà Cách Mạng đă đến bên lưng. Ông DVM cũng không đến nỗi dại ǵ muốn lên làm TT lúc ấy.

Các vị ở Viện Hoá Đạo nói tiếp : PG chúng ta, con sâu con kiến cũng thương, huống ǵ con người ! Đă 30 năm chiến tranh, chết chóc đau thương chồng chất. Bây giờ đây nếu thả lỏng để ông già lụ khụ Trần Văn Hương tuyên bố :

"Đánh" ! Thử hỏi cả 2 bên tham chiến chết bao nhiêu người nữa ? Muốn hạn chế sự chết chóc và tài sản của đồng bào, nên PG chúng ta phải có chủ trương. Lúc bấy giờ, chẳng c̣n ai lo cho đất nước, ai cũng chạy trối chết, PG đâu thể ngồi như vậy mà nh́n ? Nên phải lập CP, đưa DVM lên làm TT. Nhưng không phải lập để đánh với Cách Mạng.

Thủ Tướng hỏi :

- Vậy tại sao DVM lên, tuyên bố giữ mảnh đất cuối cùng, nếu không phải để đánh với Cách Mạng th́ để làm ǵ ?

Tôi hỏi Thủ Tướng :

- Khi DVM tuyên bố như vậy, về sau có nổ phát súng nào không ?

- Không.

- Như vậy, DVM chỉ tuyên bố thôi, chứ không cốt đánh". Chính phủ PG nói trên, khi mới nhận chức vào ngày 29/4/1975,

Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu đă ra tuyên bố :

- Hoa Kỳ phải rút khỏi VN trong ṿng 24 giờ kể từ ngày 29/4/1975.

- Hoa Kỳ phải tôn trọng các quyền cơ bản của dân tộc VN, quyền tự quyết của nhân dân VN và chấm dứt mọi sự dính líu quân sự hoặc can thiệp vào nội bộ miền Nam VN.

 

* Vơ Đ́nh Cường, Nguyễn Trực và Tống Ḥa Cầm :

Vơ D́nh Cường sinh năm 1922 tại Sịa, xă Thạch B́nh, Quận Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Học lực trung học đệ nhất cấp, làm giáo viên trường Bồ Đề Huế và xuất bản sách báo PG.

Năm 1940, khi BS Lê Đ́nh Thám thành lập Đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục ở Huế th́ Vơ Đ́nh Cường là một trong các Phật tử đầu tiên gia nhập tổ chức nàỵ Cụ Đinh Văn Chấp và BS Lê Đ́nh Thám là những người hướng dẫn cho Đoàn. Năm 1944, BS Lê Đ́nh Thám thành lập tổ chức Gia Đ́nh Phật Hóa Phổ, Vơ Đ́nh Cường trở thành một Huynh trưởng Phật tử cốt cán trong tổ chức nàỵ Năm 1945, khi Việt Minh cướp chính quyền, Vơ Đ́nh Cường tham gia ngay Hội Phật Giáo Cứu Quốc cùng với một số đông tăng sĩ và Phật tử ṇng cốt trong Hội An Nam Phật Học. Hội Phật Giáo Cứu Quốc ở Huế do Thích Mật Thể làm Chủ ti.ch. Cuối năm 1946, Lê Đ́nh Thám tản cư về Liên Khu V của CS c̣n cụ Đinh Văn Chấp, thân phụ của Thích Minh Châu, về Liên Khu IV. Cả Đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục lẫn tổ chức Gia Đ́nh Phật Hóa Phổ đều giao cho Vơ Đ́nh Cường quán xuyến. Vơ Đ́nh Cường đă chịu ảnh hưởng lớn lao tư tưởng và cuộc đời của BS Lê  Đ́nh Thám và cụ Đinh Văn Chấp, cả 2 người này đều chủ trương dung hợp Phật Giáo với chủ nghĩa Mác-Lênin. Bác sĩ Lê Đ́nh Thám được cử làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Miền nam Trung Bộ c̣n cụ Đinh Văn Chấp làm Chủ Tịch Ủy Ban Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác-lê và sau đó làm Chủ Tịch Mặt Trận Liên Việt của CS Liên Khu IV. Vơ Đ́nh Cường quyết tâm đi theo con đường của 2 bậc trưởng thượng.

V́ t́nh trạng chiến tranh, các thành phần cốt cán trong Gia Đ́nh Phật Hóa Phổ tản cư mỗi người một nơi nên tổ chức này phải ngưng hoạt đ ộng. Đến cuối năm 1947, khi Pháp ổn định xong t́nh h́nh ở Huế, Hội Việt Nam Phật Học hoạt động trở lại và đặt trụ sở tại số 1b đường Nguyễn Hoàng ở Huế, Vơ Đ́nh Cường và Phan Cảnh Tú vận động tái lập Gia Đ́nh Phật Hóa Phổ và mượn trụ sở Hội An Nam Phật Học làm nơi sinh hoạt tạm thờị Ngày Chủ Nhật 18/1/1948, Vơ Đ́nh Cường chính thức làm lễ ra mắt tổ chức Gia Đ́nh Phật Hóa Phổ mới tại chùa Từ Đàm. Tham dự trong lễ ra mắt này người ta c̣n thấy những Phật tử nhiệt thành như sau : Tống Hồ Cầm, Hoàng Thị Kim Cúc, Cao Chánh Hựu, Văn Đ́nh Hy, Đặng Tống, Lê Văn Dũng, Phan Cảnh Tuân, Phan Xuân Sanh, v.v... Những người này về sau đều nằm trong Ban Cố Vấn Huynh Trưởng Gia Đ́nh Phật Tử và Vơ Đ́nh Cường trở thành người lănh đạọ Năm 1951, tổ chức Gia Đ́nh Phật Hóa Phổ được đổi thành Gia Đ́nh Phật Tử.

Vơ Đ́nh Cường cho xuất bản cuốn "Ánh Đạo Vàng" để phổ biến tin thần Phật Học trong giới Gia Đ́nh Phật Tử, nhưng không có ǵ sâu sắc v́ tŕnh dộ văn hóa tổng quát cũng như Phật học của ông chưa đủ. Đến năm 1950, nhóm học tăng trung học của Phật Học Đường Báo Quốc phải soạn tập "Phật Pháp" cho các thanh thiếu niên học. Nhóm này đều là học tṛ của BS Lê Đ́nh Tháng và cụ Đinh Văn Chấp trước đây, trong đó có Minh Châu, Đức Tâm, Trí Không, Thiện Ân và Chân Trí.

Sau khi TT Trí Quang từ Quảng B́nh trở lại chùa Từ Đàm, Vơ Đ́nh Cường đă hợp tác với TT Trí Quang phát triển tổ chức Gia Đ́nh Phật Tử, đi về từng xă thiết lập các Khuôn Hội Phật Giáọ Tinh thần của tổ chức này vẫn là tinh thần mà BS Lê Đ́nh Thám đưa ra : dung hợp Phật Giáo với chủ nghĩa Mác-lê, dùng cuốn "Phật giáo và nền dân chủ mới" của Phật Giáo Liên Khu V CS làm cẩm nang. Cả TT Trí Quang lẫn Vơ Đ́nh Cường luôn cổ vơ cho chủ nghĩa CS. Nhân vật thứ hai đứng bên Vơ Đ́nh Cường là Tống Hồ Cầm. Cầm làm nhà in nên đă giúp Vơ Đ́nh Cường kinh tài bằng cách in các sách về Phật Giáo và kinh Phật. Cả 2 đă sống bằng nguồn lợi tức nàỵ

Vơ Đ́nh Cường c̣n có một đồng chí là Tôn Thất Dương Kỵ, ông này cũng là một Phật tử cực đoan và thân Cô.ng. Tôn Thất Dương Kỵ cùng Phạm Văn Huyến và Cao Minh Chiếm giúp Thích Quảng Liên phát động phong trào ngụy ḥa để làm suy giảm tinh thần chống Cộng tại miền Nam VN nên đă bị chính phủ Phan Huy Quát tống xuất ra miền Bắc ngày 19/3/1965.

Sau khi hiệp định Geneva được kư kết, VC đă phái Nguyễn Trực đến phụ giúp Vơ Đ́nh Cường. Nguyễn Trực người Thừa Thiên, một đảng viên CS, mang quân hàm Trung úy, tuy học lực thấp nhất trong nhóm, nhưng làm Bí thư chi bộ, có nhiệm vụ thâu lượm tin tức và báo cáo t́nh h́nh cho Khu Ủy Tri.-Thiên-Huế, nhận lănh và thi hành các chỉ thị của cơ quan nàỵ Cơ quan t́nh báo cũng như Cảnh sát VNCH có đầy đủ hồ sơ của Nguyễn Trực. Dưới thời Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Trực đă bị công an bắt giam v́ hoạt dộng cho VC. Nhưng sau khi Ủy Ban Liên Bộ và Ủy Ban Liên Phái PG kư thông cáo chung, TT Trí Quang đă đ̣i thả Nguyễn Trực rạ Năm 1964, Nguyễn Trực bị cảnh sát bắt trở lại, nhưng TT Trí Quang đă điều đ́nh và bảo lănh về. Dưới thời TT Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Trực bị cơ quan An ninh Quân đội bắt một lần nữa v́ vẫn tiếp tục hoạt động cho VC, nhưng TT Trí Quang làm áp lực mạnh và xin bảo lănh, cơ quan An ninh Quân đội đành thả cho y về. Khi các cuộc đấu tranh miền Trung chấm dứt, bộ chỉ huy được chuyển vào chùa Ấn Quang ở Saigon, Nguyễn Trực vào điều khiển nhóm cán bộ nằm vùng tại Đại học Vạn Ha.nh. Vơ Đ́nh Cường cũng vào Saigon, ở đường Phan Thanh Giản, Quận 3, khu trước bệnh viện B́nh Dân. Ngày 30/4/1975, Nguyễn Trực xuất hiện với quân hàm Trung úy, súng K54 bên hông, đứng ra điều động Ban Giảng huấn và một số sinh viên Đại học Vạn Hạnh đi ra Ngă Tư Bảy Hiền đón "quân giải phóng". Sau đó Nguyễn Trực lên làm Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản Quận 3. Hầu hết Ban Giảng Huấn Đại học kể cả Thích Minh Châu, đều phải đến tŕnh diện Nguyễn Trực và được cấp giấy chứng nhận. Nguyễn Trực cũng là người tiếp thu Đại học Vạn Hạnh.

Nhưng năm 1981, Nguyễn Trực đứng ra tổ chức vượt biên để lấy tiền. Nội vụ bị bại lộ, Nguyễn Trực bị truy tố ra ṭa và bị phạt 4 năm tù và sau đó bị loại khỏi đảng. Sau khi Nguyễn Trực đă bị vào tù, một đứa con trai của Nguyễn Trực đă vượt biên lọt, định cư tại Californiạ Sau khi ra tù, Nguyễn Trực ở với 3 người con gái tại Saigon và chờ đứa con trai bảo lănh qua Hoa Kỳ.

 Trong các biến cố PG miền Trung gây ra từ 1963-1966, Vơ Đ́nh Cường và Nguyễn Trực đă hoạch định mọi kế hoạch và chiến thuật dưới sự chỉ đạo của Bộ Chỉ Huy VC ở Thừa Thiên và đẩy TT Trí Quang chạy theo.

Sau khi chế độ Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ, Vơ Đ́nh Cường đă cho biến các Khuôn Hội PG ở Thừa Thiên thành những chi bộ giống như tổ chức của Đảng CS. Vừa nắm quyền, vừa nắm quân, Vơ Đ́nh Cường đă không coi TT Trí Quang ra ǵ. Ông hoàn toàn bị nhóm Vơ Đ́nh Cường bao vâỵ Khi cơ quan chính quyền hay đoàn thể muốn lấy ư kiến hay thương lượng vấn đề ǵ với TT Trí Quang cũng như các kư giả muốn gặp ông, Vơ Đ́nh Cường đều kiểm soát trước và quyết định cho gặp hay không. Có lần Vơ Đ́nh Cường đă nói thẳng với các nhà báo :"Thích Trí Quang th́ cũng phải qua đây".

Đầu tháng 4/1975, khi VC đă chiếm Đà Nẵng, BS Trần Kim Tuyến và Tướng Nguyễn Cao Kỳ định làm đảo chánh lật đổ TT Thiệu để tổ chức lại quân độị BS Trần Kim Tuyến có bàn với TT Trí Quang th́ ông đồng ư ngay, với điều kiện sau khi lập chính phủ mới, phải lập Hội Đông Ḥa Giải Ḥa Hợp gồm 3 thành phần như Hiệp định Geneva đă quy đi.nh. Thành phần thứ nhất đại diện chính quyền VNCH, thành phần thứ hai đại diện Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và thành phần thứ ba là đại diện PG Ấn Quang. Nhưng khi Vơ Đ́nh Cường đến họp chung với một vài nhóm khác th́ Vơ Đ́nh Cường tuyên bố dứt khoát rằng sau khi đảo chánh phải lập ngay chính phủ liên hiệp 3 thành phần, tuyên bố trung lập và người Mỹ phải rút hết khỏi miền Nam. BS Tuyến có nhắc lại ư kiến của TT Trí Quang th́ Vơ Đ́nh Cường trả lời :"Tôi là người quyết định chớ không phải Thích Trí Quang". Vụ âm mưu đảo chánh này bất thành. Sau ngày 30/4/1975, Vơ Đ́nh Cường và TT Thích Minh Châu đứng lên lănh đạo khối PG Ấn Quang. Ngày 4/6/1977, công an xét chùa Ấn Quang, bắt Ḥa Thượng Thích Huyền Quang, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, và một số tăng sĩ chống đối, Vơ Đ́nh Cường đă đóng vai tṛ chủ lực trong Ban Vận Động Thống Nhất PG để đưa Giáo Hội PG Ấn Quang vào quốc doanh.

Vơ Đ́nh Cường được Mặt Trận Tổ Quốc giao cho làm Tổng Biên tập tạp chí Giác Ngô.. Ông đă dùng tờ báo này công kích các tăng sĩ chống lại sự khống chế PG của chính quyền, tấn công các tăng sĩ chống lại việc đưa Giáo Hội PG Ấn Quang gia nhập vào Giáo Hội quốc oanh. Tăng sĩ bị lên án nặng nhất trong vụ này là Ḥa Thượng Thích Trí Đô.. Tống Ḥa Cầm là Quản Lư của tạp chí nàỵ Dưới bút hiệu Tống Anh Nghị; Tống Ḥa Cầm đă viết rất nhiều bài yểm trợ nhà cầm quyền CS thành lập GHPGVN để gôm PG về một mốị Năm 1992, Vơ Đ́nh Cường được Đảng cho về hưu và đưa TT Thích Trí Quảng lên làm Tổng biên tập thay thế. Tống Ḥa Cầm vẫn tiếp tục làm Quản Lư, nhưng cũng đă cho một đứa con trai vượt biên qua định cư tại Hoa Kỳ để pḥng khi bị thất sủng...

Trong tờ Bông Sen số 18, ông Trần Tam Nguyên (tức sử gia PG Lư Khôi Việt) đă cho biết trong tang lễ của HT Thích Đức Nhuận, Pháp chủ Giáo hội quốc doanh, qua đời tại Hà Nội vào tháng 1/1994, Saigon có gởi một phái đoàn 26 người đến dự, trong đó có Vơ Đ́nh Cường. Trần Tam Nguyên có hỏi một người bạn "chuyên viên về PG" Saigon :"Tại sao có anh Cường mà không có Thầy Trí Quảng ?".

Anh này cười và đáp :"Điều này có nghĩa Thầy Trí Quảng không có uy tín bằng hay không được tin cậy bằng anh Cường, dưới con mắt Nhà N+ớc". Vơ Đ́nh Cường là một thành phần cuồng tín và cực đoan trên 3 phương diện : đề cao PG, phục vụ CS và chống Công giáo.

Tất cả hoạt động của Vơ Đ́nh Cường đều nhắm vào 3 mục đích nàỵ Những người thân tín nhất với Vơ Đ́nh Cường đă nói rằng từ năm 1945 đến nay, Vơ Đ́nh Cường vẫn tin rằng chỉ có Phật Giáo và CS mới có thể cứu dân tộc VN. Vơ Đ́nh Cường đă biến thuyết dung hợp PG với CS để cứu nước của BS Lê Đ́nh Thám thành thuyết liên hiệp PG với CS để hóa giải Công giáo.

Nhưng cũng như TT Trí Quang, tŕnh độ kiến thức và khả năng của Vơ Đ́nh Cường rất giới hạn, không thể hệ thống hóa được chủ thuyết muốn đưa ra để hướng dẫn hành động, nên đă đi từ cuồng vọng đến xuẩn động và thay v́ cứu PG và dân tộc, đă biến PG thành nạn nhân của chế độ CS và trở thành công cụ cho những mưu đồ đen tốị Phật tử chân chính, cũng như các tín đồ các tôn giáo khác, ngày nay sẽ không c̣n như xưa bị lôi kéo vào những mưu dồ chính trị như trong quá khứ khi người ta dùng tôn giáo để hướng họ qua những mục tiêu chính tri.. Hoằng dương đạo pháp để PG được trường tồn : đúng; dùng PG để làm chính trị : sai; đây cũng là lư do của bài báo nàỵ.

Tại miền Nam trước 30/4/1975, có một số tăng sĩ hoạt động ít nhiều liên hệ với CS như Thích Quảng Liên, Thích Hộ Giác, Thích Quảng Độ, Thích Bữu Phương, Thích Nhất Hạnh, Thích Mật Thể.... Số các tăng sĩ miền Bắc tham gia vào các hoạt động tương tợ như Thích Pháp Dơng, Thích Minh Nguyệt, Thích Huệ Phương, Thích Viên Minh, Thích Không Không, Thích Pháp Tràng, Thích Pháp Long, Thích Huệ Quang...trong các Ủy Ban PG Cứu Quốc ở miền Nam, hoặc các HT Thích Dức Nhuận (Pháp chủ Hội đồng Chứng Minh), Thích Kim Cương Tử (Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương), Thích Tâm Thông (Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương), Thích Tâm Tứ (Phó Tổng thư kư Văn pḥng Trung ương), Thích Tâm Tịnh (Trưởng Ban Trị sự)...trong Giáo Hội PG nhà nước hiện nay.

Ngoài ra c̣n vô số cán bộ CS nằm vùng đội lốt nhà sư mà người ta không biết được. Trường hợp TT Thích Quảng Liên, nguyên Ủy viên Giáo dục vụ trong Tổng Vụ Pháp Sự của GHPG Ấn Quang, là trường hợp cần được t́m hiểu kỹ hơn. Chính ông đă thành lập Phong Trào Tranh Đấu Bảo Vệ Ḥa B́nh và Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết, một tổ chức ngụy ḥa của VC tại miền Nam vào ngày 27/2/1965 và làm Chủ Tịch Phong Trào nàỵ Các thành viên của 2 tổ chức đó đă bị chính quyền miền Nam tống xuất ra Bắc hay đưa ra ṭa xét xử và tuyên án rất nặng, nhưng ông không hề bị liên lụy ǵ. GHPG Thống Nhất đă giao cho ông làm hiệu trưởng Trường Bồ Đề ở Saigon, nhưng khi GH này bể làm đôi, ông chiếm đoạt luôn tài sản của GH, không chịu giao cho bên nào.

Ông hợp tác với TT Minh Châu điều khiển GHPGVN (quốc doanh) ở miền Nam. Vào ngày 9/6/1993, nhân ngày húy của TT Quảng Đức, tại Tu viện Quán Âm ở Thủ Đức, ông tuyên bố sẵn sàng làm nhịp cầu để phe PG quốc doanh và chống quốc doanh bắt tay nhau.

 

 

 

(c̣n tiếp)

 

 

  1. Giấc mơ lănh tụ (1)

  2. Giấc mơ lănh tụ (2)

  3. Giấc mơ lănh tụ (3)

  4. Giấc mơ lănh tụ (4)

  5. Giấc mơ lănh tụ (5)

  6. Giấc mơ lănh tụ (6)

  7. Giấc mơ lănh tụ (7)

  8. Giấc mơ lănh tụ (8)

  9. Giấc mơ lănh tụ (9)

  10. Giấc mơ lănh tụ (10)