Trang Chủ . Kim Âu . Lưu Trữ. Báo Chí . RFI . RFA . Tác Giả . Chính Trị . Văn Nghệ . Khoa Học . Kỹ thuật . Mục Lục . Quảng Cáo . Photo . Photo 1. Tinh Hoa . Liên lạc

 

Một Trang Lịch Sử (tài liệu US Senate)

 

 

 

 

MINH THỊ

Bài trong trang này nhằm cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu tham khảo, điều nghiên của Người Việt Quốc Gia trong tinh thần "tri kỷ, tri bỉ", " biết ta, biết địch" để nhận rơ những âm mưu, quỷ kế, ngôn từ và hành động của kẻ thù và có phản ứng, đối sách kịp thời. V́ mục đích chiến đấu chống kẻ thù chung là Cộng Sản nên nhận được bài cùng lập trường là chúng tôi tiếp sức phổ biến. V́ thế có những tác gỉa chúng tôi đăng bài nhưng chưa liên lạc được. Nếu tác gỉa nào cảm thấy không hài ḷng xin liên lạc qua email, chúng tôi sẽ lấy bài của quư vị xuống trong ṿng 48 tiếng. 

US Senator John McCain , Kim Âu Hà văn Sơn

NT Kiên , UCV Bob Barr, Kim Âu Hà văn Sơn

 

 

 

 

 

Nguyễn Thái Kiên , Kim Âu Hà văn Sơn, Cố vấn an ninh đặc biệt của Reagan-Tỷ phú Ross Perot,Tŕnh A Sám

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giấc mơ lănh tụ      

                     

Phần 5

 

 

 

 

Xem xét tại hiện trường, các nạn nhân bị chết ngay sát góc cửa vào đài phát thanh.  Mặt khác, sau khi tai nạn xảy ra, Bửu Thắng, một công an viên gác đầu cầu Trường Tiền, ở phía dưới, gần sát đài phát thanh, có báo cáo rằng anh ta thấy một vệt sáng chạy dài từ sát gốc bên phải đài phát thanh, bay qua trên đầu những người đang tụ tập, xéo xuống trước cửa đài phát thanh, sau đó là một tiếng nổ lớn phát ra.  Khi các chuyên viên về vơ khí tới xem hiện trường th́ không lượm được mảnh chất nổ nào.  Ở dưới nền nhà, sát góc cửa, có một lổ thủng bằng cái chén.Các cửa kính của đài phát thanh đều bị vỡ, nhưng cửa gỗ vẫn c̣n nguyên vẹn.  Các chuyên viên kết luận rằng đây là một chất nổ bằng hơi có sức công phá mạnh.

Người đă giải phẫu và khám tử thi các nạn nhân cũng như những người bị thương trong đêm 8/5/1963 là BS Lê Khắc Quyến, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế, "đồng chí" của TT Trí Quang, đă ghi trong biên bản rằng không có vết đạn, vết đả thương hay xe cán,...trên cơ thể nạn nhân.Các nạn nhân bị chết hay bị thương do một chất nổ bằng hơi cực mạnh.  Ngày 11/7/1963, Ủy Ban Liên Bộ đă thông báo cho Ủy Ban Liên Phái PG kết quả cuộc khám nghiệm và nói rằng các nạn nhân có thể đă bị chết do chất nổ của VC.

Nhưng phía PG không chấp nhận lối kết luận này.  Trong phần ghi chú ở Chương XXXVIII của Bộ "Việt Nam Giáo Sử Luận", Tập III, Nguyễn Lang có nói rằng BS Lê Khắc Quyến bị ép buộc nên phải kư biên bản như trên.

Sau khi chính quyền Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ, Ṭa Án Cách Mạng được thành lập để xét xử vụ án Thiếu tá Đặng Sĩ.  Trong phiên xử kéo dài từ 2-8/6/1964, các chuyên viên về vũ khí đă xác nhận chất nổ được xử dụng trong đêm 8/5/1963 trước đài phát thanh Huế là một chất nổ bằng plastic cực mạnh, Quân lực VNCH chưa hề được cung cấp.  Thỉnh thoảng VC có xử dụng loại chất nổ này, nhưng chưa có loại nào có độ mạnh như vậỵ  Đồng thời BS Lê Khắc Quyến cũng xác nhận một lần nữa là những điều ông đă ghi trong y chứng thư lúc trước hoàn toàn đúng sự thật.  Lần này chắc không ai bắt BS Lê Khắc Quyến nói dối.

Ngày 25/10/1963, do lời yêu cầu của Đại Đức Thích Nhất Hạnh, một ủy ban Liên Hiệp Quốc đă đến Việt Nam điều tra về vụ PG.  Sau khi điều tra tại chỗ họ cũng xác định rằng các nạn nhân bị chết không phải do lựu đạn mà do một chất nổ plastic.

Như thế chỉ có Nguyễn Lang và HT Thích Tuệ Giác là những người nói dối.

Ngoài ra, các chuyên viên về chất nổ c̣n cho biết ngoài đặc công CS th́ CIA cũng xử dụng loại chất nổ này, nhưng chỉ trao cho các biệt kích trước khi lên đường ra Bắc để phá hoại các công sự và cơ sở quân sự của Bắc Việt mà thôị  Đây là loại vũ khí mà Mỹ chưa giao cho Quân lực VNCH xử dụng tại miền Nam.

Trong phiên ṭa xử vụ Đặng Sĩ, chính ông Đặng Phong, Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia Thừa Thiên, đă tiết lộ rằng cuộc điều tra của Cảnh sát sau vụ nổ cho thấy 2 nhân viên của cơ quan t́nh báo Hoa Kỳ là Scott (người điều hành cơ quan CIA tại Thừa Thiên lúc đó) và Bell (người tổ chức các chương tŕnh đưa biệt kích xâm nhập miền Bắc ở phía Bắc Trung Phần) có dính líu đến vụ cung cấp chất nổ này.  Ông Mullen, Phó Lănh sự Hoa Kỳ tại Huế, đă liên lạc thường xuyên với TT Trí Quang ở chùa Từ Đàm, c̣n ông Elble, Lănh sự Hoa Kỳ tại Huế, thường đi theo các cuộc biểu t́nh của PG và công khai chống Ngô Đ́nh Diệm.

Nếu Bửu Thắng nói sự thật th́ trái chất nổ bằng plastic đă được châm ng̣i rồi ném ṿng tṛn qua đầu đám biểu t́nh đang đứng trên bậc thềm, và rơi ngay góc cửa ra vào của đài phát thanh.  Nếu trái plastic rơi vào một khoảng trống th́ chỉ phát ra tiếng nổ chứ không gây tác hại nào cả.  Nhưng khi trái plastic kia rơi vào sát góc tường, xung quanh lại có người đứng chen chúc chật ních, tạo thành sức ép nên mới công phá mạnh như thế.

Các nhà phân tích đều tin rằng chính phủ NĐ, dù có loại chất nổ đó trong tay, cũng không ngu dại ǵ đem ra xử dụng trong trường hợp này để tự gây họa cho ḿnh. Trên thế giới, người ta chưa bao giờ thấy một cơ quan nào dùng chất nổ plastic để dẹp biểu t́nh.  Như thế ai gây ra vụ nổ để giáng tai họa cho chế độ NĐ?

Luật sư  Nguyễn Khắc Tân, người biện hộ cho Thiếu tá Đặng Sĩ, đă nghiên cứu hồ sơ vụ án Đặng Sĩ rất kỹ.   Đặng Sĩ đă nói rằng những điều ghi trong bản cáo trạng của Ṭa Án Cách Mạng là đúng sự thật.  Ông cho biết xe thiết giáp được xử dụng là xe thiết giáp bánh cao su chứ không phải xe thiết giáp bằng xích sắt.  Ông chỉ ra lệnh dùng ṿi xịt nước để giải tán cuộc biểu t́nh và dùng súng bắn bằng đạn mă tử gây tiếng nỗ để áp đảo tinh thần mà thôi.Không hề có chuyện dùng súng có đạn thật, lựu đạn nổ hay cho xe tăng cán nát đầu các nạn nhân như các tăng sĩ chùa Từ Đàm đă công bố.

Không kết tội được Thiếu tá Đặng Sĩ (v́ các hồ sơ, phỏng vấn tại phiên ṭa không có bằng chứng nào để buộc tội) th́ trong phiên ṭa ngày 8/6/1964, Tướng Nguyễn Khánh vẫn ra lệnh cho Ṭa Án Cách Mạng tuyên án Đặng Sĩ chung thân khổ sai và bồi thường cho gia đ́nh nạn nhân 1,300,000 $. Tuy nhiên, trước khi Ṭa Tuyên Án, Chuẩn tướng Albert Nguyễn Cao, đại diện Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng, có đến thông báo cho ĐGM Nguyễn văn B́nh, Linh mục Trần Tử Nhăn ở Ḍng Chúa Cứu Thế và gia đ́nh Đặng Sĩ biết đừng quan tâm đến bản án ṭa sẽ tuyên đọc. Ṭa chỉ tuyên đọc bản án để thỏa măn đ̣i hỏi của PG mà thôi.Ông cho biết thêm, trong thời gian ngắn, khi t́nh h́nh lắng dịu, Đặng Sĩ sẽ được trả tự do.  Nhưng Đặng Sĩ đă phải ngồi tù oan đến 3 năm, 8 tháng, 10 ngày mới được phóng thích, v́ đến năm 1967, phong trào PG miền Trung mới được dẹp tan.

Lời xác định trước sau như một của BS Lê Khắc Quyến cộng thêm lời xác nhận của chuyên viên chất nổ + Ủy ban điều tra LHQ và phiên ṭa của Ṭa Án Cách Mạng vẫn không đủ "nói lên sự thật".

Vậy sự thật nằm ở đâu?

Nó nằm trong 2 cuốn sách của HT Thích Tuệ Giác và của TT Thích Nhất Hạnh. "Khi chính trị đi vào pháp đ́nh th́ công lư ra đi" hay "Khi tôn giáo đi vào pháp đ́nh th́ công lư cũng bỏ chạy".

 

* Tuyên ngôn 5 điểm của PG : 

 

Sau biến cố đêm 8/5/1963 th́ PG liền phát động chiến dịch kích động quần chúng để đấu tranh.  Ngày 10/5/1963, các nhà lănh đạo  Phật Giáo ở Huế họp tại chùa Từ Đàm và ra một tuyên ngôn gồm 5 điểm như sau :

- Yêu cầu Chính phủ VNCH thu hồi vĩnh viễn công điện triệt giáo kỳ  Phật Giáo.

- Yêu cầu Phật Giáo phải được hưởng một chế độ đặc biêt như các Hội truyền giáo Thiên chúa giáo đă được ghi trong Dụ Số 10.

- Yêu cầu chính phủ chấm dứt t́nh trạng bắt bớ, khủng bố tín đồ  Phật Giáo.

- Yêu cầu cho tăng ni Phật Giáo tự do truyền đạo và hành đạọ

- Yêu cầu chính phủ bồi thường một cách xứng đáng cho những kẻ bị chết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải dền tội xứng đáng.

Tuyên ngôn này do 5 tông phái sau đây đứng tên : Tổng Hội  Phật Giáo VN, Giáo Hội Tăng Già Trung Phần, Hội  Phật Giáo tại Trung phần, GH Tăng Già Thừa Thiên và Tỉnh Hội PG Thừa Thiên.

Nh́n 5 nguyện vọng này của  Phật Giáo, ai cũng thấy việc giải quyết không có ǵ khó khăn:

- Quyết định hạn chế treo cờ tôn giáo ngoài cơ sở tôn giáo có thể được thu hồi hay sửa đổi lại dễ dàng.  Sau khi xảy ra vụ rối loạn ở Huế, TT Diệm có mời ông Mai Thọ Truyền và 1 linh mục đại diện Ṭa TGM Saigon đến họp tại Dinh Gia Long để thảo luận.TT Diệm nói rằng trong mọi trường hợp, cần phải dành cho quốc kỳ một vị thế xứng đáng.  Vậy phải quy định cách treo cờ như thế nào để quốc kỳ luôn được tôn trọng.  Linh mục đại diện Công giáo th́ đề nghị khi treo song song cờ tôn giáo với quốc kỳ th́ nên làm cờ tôn giáo nhỏ hơn chút.  Tổng Thống Diệm yêu cầu ông Mai Thọ Truyền cho ư kiến th́ ông MTT trả lời rằng bên Công giáo làm thế nào th́ bên Phật giáo cũng làm như vậỵ  Vấn đề kể như đă giải quyết xong.

- Dụ Số 10 ngày 6/8/1950 ấn định thể lệ lập hội do Bảo Đại ban hành chứ không do Chính Phủ NĐ.  Dụ này có dự liệu rằng sẽ có các thể lệ đặc biệt cho các hội truyền giáo TCG cùng các Hoa Kiều Lư Sự Hộị  Dụ này sở dĩ không đề cập đến các tôn giáo khác v́ tại VN, từ trước cho đến ngày ban hành Dụ đó, các tôn giáo khác không lập thành Giáo hộị  Đặc biệt, PG lại có rất nhiều tông phái, mỗi tông phái có một lối sinh hoạt riêng, rất khó tiến tới một giáo hội duy nhất.  Tổng Hội PGVN được thành lập ngày 6/5/1951 tại Huế sau Dụ Số 10 ban hành, cũng chỉ mới dự liệu sẽ thống nhất PG chia làm 2 giai đoạn, chứ chưa thống nhất thật sự..  Trong t́nh trạng như thế, Dụ Số 10 của Bảo Đại không đề cập đến PG v́ PG chưa thống nhất thành 1 giáo hộị  Riêng TCG đă lập thành 1 giáo hội từ lâu. Riêng GHCGVN được chia thành từng giáo phận, mỗi giáo phận lại được chia thành các giáo xứ có địa hạt rơ ràng.  Về phương diện tổ chức nội bộ, Giáo hội La Mă có một bộ giáo luật (canon) chung cho tổ chức  giáo hội trên toàn thế

giớị  Mỗi giáo phận lại có luật giáo phận (directory) dành cho địa phương theo mẫu hướng dẫn của ṭa thánh.  Các đơn vị tổ chức này có cơ cấu hành chánh và tài chánh chặt chẽ, nên cần có một quy chế pháp lư để việc điều hành không bị lạm dụng.  Các Hoa Kiều Lư Sự Hội cũng đă có cơ cấu tổ chức từ lâu.  Do đó, Dụ Số 10 dự liệu sẽ có 1 quy chế riêng cho TCG và các Hoa Kiều Lư Sự Hội.  Nếu PG lúc đó kết thành một giáo hội duy nhất th́ Dụ Số 10 cũng sẽ đề cập tới.

Tuy Dụ Số 10 có dự liệu như thế, nhưng thật ra 13 năm sau đó, quy chế này vẫn chưa được áp dụng cho TCG.  Đúng ra Ủy Ban Liên Phái PG chỉ nên đề nghị làm một quy chế chung cho mọi tôn giáo thay v́ chỉ làm riêng cho TCG như đă dự liệu trong Dụ Số 10 th́ hợp lư hơn, v́ PG cũng đang h́nh thành một giáo hộị

Mặt khác, quan niệm quy chế tôn giáo là một thứ "quyền lợi" cũng là một quan niệm sai lầm.  Kinh nghiệm cho thấy, sau khi chính phủ NĐ bị lật đổ, một số Giáo phái PG đă vội thành lập Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất, biểu quyết một Hiến Chương vào ngày 4/1/1964, rồi ép buộc Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng phải duyệt y Hiến Chương đó bằng một đạo luật, đó là Sắc Luật số 158-SL/CP ngày 14.5.1964.   GHPGVNTN tuyên bố đă được măn nguyện.  Nhưng xét về hiệu quả pháp lư, GHPGVNTN có được hưởng quyền lợi ǵ hơn Tổng Hội PGVN bị chi phối bởi Dụ Số 10 không?  Chắc chắn là không?  Trái lại, GHPGVNTN đă gặp rất nhiều khó khăn về pháp lư không giải quyết được do các văn kiện đó gây ra và cuối cùng bị vỡ ra làm 2.  Trong khi đó, quy chế dành riêng cho TCG dù chưa được ban hành nhưng họ không đ̣i hỏi ǵ cả.  Khi CS chiếm miền Nam th́ CS đă t́m cách đàn áp các tôn giáo, kể cả PG.  CS dùng thủ đoạn để phá vỡ các tổ chức tôn giáọ Đối với PG, CS đă lập riêng ra GHPGVN (quốc doanh) và dùng nó để nuốt trôi GHPGAQ.  Các vị sư tăng miền Trung phái Ấn Quang đă bị CS phản bộị  Kẻ thù của họ thật ra không phải là TCG mà chính là CS.

Hiện nay, ở VNCS đang có một quy chế chung cho các tôn giáo, đó là Nghị Định số 69-HDBT ngày 21/3/1991, nhưng các giáo hội không những không hưởng được "quyền lợi" ǵ do quy chế đó đem lại mà c̣n bị khốn khổ v́ nó.  Như vậy sự tồn vong và phát triển của một tôn giáo không tùy thuộc vào quy chế của "đời" ban hành mà chính là tín lư, tổ chức và ḷng tin của tín đồ.  Người ta đă đem tôn giáo ra làm công cụ của chính trị mà không lo tổ chức, lo hoành dương đạo pháp như thời Lư-Trần mà chỉ lo làm chính trị, lo biểu t́nh, thích bạo động, gây hận thù, cực đoan, cấu kết với CS trong khi ư thức chính trị c̣n quá yếu,...rốt cuộc đă làm cho một giáo hội phôi thai phải tan tác.  PG phải cần có một vị chân tu chuyên tâm lo phát dương Phật giáo khắp cả VN, biết tổ chức, thương chúng tăng, biết cởi mở để cùng các tôn giáo khác giúp dân tộc tiến tới chân lư, chớ không đưa họ vào ḷ lửạ  Vị thiền sư này đang ở đâu?

Tóm lại Dụ Số 10 do Bảo Đại ban hành năm 1950 không hề mang màu sắc kỳ thị tôn giáo và không gây ảnh hưởng ǵ tới sự phát triển và tồn vong của PG.  Như thế Dụ Số 10 chỉ là một h́nh thức, một quy chế pháp lư để việc điều hành không bị lạm dụng.  Trong vấn đề này, PG lại coi đó như là một văn kiện kỳ thị tôn giáọ

- Về 3 đ̣i hỏi sau cùng, ta thấy rằng vấn đề yêu cầu để các tăng ni tự do hành đạo và truyền đạo thiếu căn bản thực tế.  Trong 100 năm qua, ngoại trừ dưới chế độ CS, người ta chưa hề thấy bất cứ một chính phủ nào tại VN, kể cả dưới thời Pháp thuộc lại đi ngăn cản không cho PG hành đạo và truyền đạọ

Trong bài "Dân tộc và Phật giáo cuối thế kỷ 20" đăng trên Bông Sen số 17, sử gia Lư Khôi Việt đă nhận định :

"Chính trị VN suốt 100 năm nay, đă dành một số phận đen tối, khắc nghiệt nhất cho những đứa con VN ưu tú (ư nói PG) và dành một chỗ ngồi ưu đăi nhất cho những đưá con phản bội xấu xa (ư nói Công giáo)".

Thật là hết ư kiến.  Nhận định của ông không đúng với thực tế.  Trong cuốn "Việt Nam Phật Giáo Tranh Đấu Sử" do nhà xuất bản Hoa Nghiêm ấn hành tháng 10/1964, TT Thích Tuệ Giác đă liệt kê vô số thành quả của PGVN đă đạt được từ 1920-1964, và ông kết luận :

"Phải nói rằng từ năm 1920 đến hết năm 1956, PGVN thật là một thời kỳ hưng thịnh.  Số Phật tử càng ngày càng đông, các tổ chức thanh niên, sinh viên, học sinh Phật tử đều được sắp xếp quy củ.

"Các vị Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni đều là những vị có học vấn uyên bác, kinh sách đều được in ra rất nhiều, phổ biến rộng răi trong giới Phật tử và những người mộ đạo Phật".

Những thành quả mà PG đă đạt được từ thời Pháp thuộc tới nay đă được các sách vở và báo chí PG tán dương cho thấy sử gia Lư Khôi Việt nói láo.  Để t́m hiểu thêm, ta có thể đi sâu về vấn đề nàỵ

a) Sự phát triển của PG dưới thời Pháp thuộc :

Các tài liệu lịch sử cho thấy dưới thời Pháp thuộc, PG không gặp khó khăn nào trong việc thi hành Phật sự cũng như phát triển đạọ  Trái lại, chính quyền thuộc địa đă dành mọi sự dễ dàng cho việc phát triển PG đến mức giới nhà Nho phải nghi ngờ rằng Phong trào Chấn Hưng Phật Giáo là một âm mưu nham hiểm của Toàn quyền Pierre Pasquier nhằm mê hoặc quần chúng bằng đạo Phật.

Pierre Pasquier được cử làm Toàn Quyền Đông Dương vào ngày 4/10/1926, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, ông phải trở về Pháp vào ngày 16/5/1927.  Ngày 23/8/1928 ông được cử trở lại làm Toàn Quyền Đông Dương lần thứ haị Ông đến VN nhận chức ngày 26/12/1928.  Kể từ đó, ở Pháp cũng như ở VN, người ta bàn tán đến kế hoạch "Phục hưng Phật Giáo" của Pasquier.  Ng+ời Pháp cũng như nhà Nho tin rằng, để đối phó với phong trào chống Pháp do giới nhà Nho phát động khắp nơi, Pasquier đă khuyến khích Phong trào phục hưng Phật Giáo, giúp đạo Phật phát triển mạnh để thu hút dân chúng, nhất là giới trí thức, chú tâm vào việc nghiên cứu và tu luyện Thiền để họ đừng tham gia các phong trào chống Pháp của nhà Nho.  Sự bàn tán tăng lên khi một vài nhân vật trong

chính quyền thuộc địa bắt đầu được nhà cầm quyền Pháp giúp thành lập các hội PG như ông Trần Nguyên Chấn trong Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, ông Lê Dư trong Hội PG Bắc Kỳ, v.v...  Về sau, số sĩ phu và các viên chức cao cấp của chính quyền thuộc địa tham gia vào cà'c Hội Phật Học ngày càng đông, trong số này người ta thấy nhiều nhân vật danh tiếng như Ngô Văn Chương, Phạm Ngọc Vinh, Nguyễn văn Cần, Lê Đ́nh Thám, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Nguyễn Đỗ Mục, Dương Bá Trạc, Bùi Kỹ,...

Toàn quyền Pasquier chết trong một tai nạn máy bay vào ngày 15/1/1934.

Sự phát triển của PG nhờ sự giúp đở của các viên chức thuộc địa cũng đă được ghi nhận trong báo chí của PG. Tờ Tiếng Chuông Sớm của PG số 1 ra ngày 15/5/1935, khi ban` về t́nh h́nh PG trong nước cũng dă nh́n nhận :

"Hiện nay, nhờ thế lực của các quan đại thần và của các bậc thượng lưu, hội đă lan tràn ra khắp Bắc Kỳ, đâu đâu cũng có chi bộ...."

Trước sự phát triển vượt bực của PG, Đảng Cộng Sản Đông Dương vội vàng công kích việc phục hưng nàỵ  Nghị Quyết Chính trị của Đại Hội Đảng CS Đông Dưong lần thứ nhất, họp từ 27-31/3/1935 đă đề cập đến vấn đề này như sau :

"Cuộc vận động phổ biến và mở rộng tôn giáo như Đại Biểu Hội Nghị Chấn Hưng Phật Giáo ở Bắc Kỳ, lập trường dạy đạo Phật ở Cao Miên, cải lương đạo Phật...là những mưu đồ của đế quốc lấy mê tín che lấp tư tưởng giai cấp tranh đấu, để kéo quần chúng ra khỏi đường cách mạng tranh đấu".

Nghị Quyết của Ban Trung Ương Đảng trong phiên họp từ 6-8/11/1939 c̣n đả kích PG nặng nề hơn : "Đế quốc chủ nghĩa Pháp rất xảo quyệt, đă t́m cách lợi dụng những trào lưu tôn giáo để mê hoặc quần chúng.   Những hội chấn hưng PG ở Bắc-Nam -Trung do bọn hưu quan và địa chủ cầm đầu có kế hoạch của sở mật thám chính trị bày vẽ".

Trong cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Tập III, Nguyễn Lang đă ghi nhận nhiều phản ứng về sự phát triển nhanh của PG.

Cụ Phan Khôi đă nêu lại các nghi vấn về sự phát triển của đạo Phật đề cập trong tờ Tràng An :

"Chúng tôi không chuyên một tôn giáo nào hết.  Có người lo nếu PG thịnh th́ VN sẽ trở nên lười, cho nên Pierre Pasquier Toàn Quyền là nhà chính trị nham hiểm, kư tên cho mấy hội Phật ở Đông Dương, làm mê họ bằng Phật Giáọ  Chúng tôi không phải quan cố Toàn Quyền Pasquier, chúng tôi đâu biết được dụng ư của ngài".

Phan Khôi chưa tin vào dụng ư của Toàn Quyền Pierre Pasquier khi giúp đỡ phong trào Chấn Hưng Phật Giáo, nhưng ông than phiền Phật Giáo xứ ta không làm ǵ cả.

Cũng trong nỗi lo sợ đó, một số nhân sĩ và nhà báo đă lên tiếng cảnh giác.  Trên các số nguyệt san Pháp Am phát hành trong năm 1937, nhiều kư giả đă dặt nghi vấn về phong trào Phục Hưng Phật Giáo.  Kư giả Quốc Tri hỏi định phục hưng Phật Giáo để tạo thế lực ứng phó với thời cơ hay tạo thế lực cho bọn quen buôn thần bán thánh ?  Kư giả Đông Giao cho rằng Phật Giáo chỉ lo cho tương lai, chớ không lo cho hiện tại.Tờ Tràng An th́ lại cho rằng đạo Phật chỉ nên dành cho người già (!).

Dù sao đi nữa trong thời kỳ Toàn Quyền Pasquier, Pháp đă dành nhiều sự ưu đăi để giúp đạo Phật phát triển khiến cho giới Nho sĩ và cả CS cũng ghen tức và họ chỉ trích, dèm pha Phật Giáo như đă kể trên.

Trong khoảng thời gian này, các Hội Phật Học được thành lập khắp nơi và thực hiện được nhiều Phật sự quan trọng :

- Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học : do HT Thích Khánh Ḥa và một số cư sĩ thành lập năm 1931.  Hội này đă xây một thư viện Phật Học gọi là Pháp Bảo Phương và một Phật Học Đường.  Hội đi thỉnh Tục Tạng Kinh và Đại Tạng Kinh đem về thư viện.

- Long Xuyên Phật Giáo Liên Hữu Hội do các cư sĩ Trần Huệ Dinh, Nguyễn Văn Chân và Đặng Văn C̣n thành lập năm 1932.

- Hội An Nam Phật Học ở Huế do BS Lê Đ́nh Thám thành lập năm 1932 và ông là Hội Trưởng đầu tiên của hội nàỵ  Tại đây có một Trường An Nam Phât Học ở chùa Trúc Lâm do Lê Đ́nh Thám và Thích Mật Khế thành lập năm 1934, đă đào tạo nhiều tăng sĩ danh tiếng của PG như *Thích Trí Quang, *Thích Thiện Minh, Thích Trí Thủ, *Thích Mật Thể, Thích Thiện Ḥa, Thích Thiện Hoa, *Thích Huyền Quang, *Thich Minh Châu...các *HT Thích Trí Độ và *Thích Đôn Hậu đă từng làm giám đốc và giảng sư của Trường An Nam Phật Học.

* : Các tăng sĩ đă hoạt động cho CS hay có liên hệ ít nhiều với CS. Ta có thể dừng lại nơi đây để bàn về : 

 

 Sự tương quan giữa Phật Giáo và Cộng Sản Việt Nam.

 

V́ sao ? 

Sự liên hệ chặt chẽ giữa PG và CSVN được t́m thấy dễ dàng trong các tài liệu VC viết sau 30/4/1975, trong các bút kư của một số nhà lănh đạo PG hay sử gia miền Nam VN, trong các tài liệu của Hội nghị Thế giới về Tôn giáo và Ḥa b́nh (WCRP) và Hội nghị Á châu về Tôn giáo và Ḥa b́nh (ACRP), trong "Violations of Human Rights in The Socialist Republic of VN" của Aurora Foundation năm 1989 và trong các tài liệu của các tổ chức bảo vệ nhân quyền khác như Amnesty International,v.v...  Sự liên hệ này được t́m thấy ngay cả trên các sách báo của các tăng sĩ hay cư sĩ PGVN xuất bản.

Phủ Đặc Ủy Trung Ương T́nh Báo và Tổng Nha Cảnh Sát VNCH trước đây cũng có hồ sơ đầy đủ chi tiết về các tăng sĩ và cư sĩ PG đi theo hay hoạt động cho CS.  Riêng các tài liệu liên hệ đến TT Trí Quang và TT Minh Châu đă có lần được đem tŕnh bày cho một vài kư giả ngoại quốc và VN cũng như một số nghị sĩ và dân biểu thân chính quyền tại Quốc hội Saigon trong một buổi họp kín khi những người này nêu thắc mắc về hành động của chính phủ VNCH đối với những hoạt động của PG.  Được hỏi tại sao không bắt những người hoạt động cho VC, viên chức tiết lộ tài liệu đă nêu 2 lư do :

(1) Mọi hành động liên hệ đến tôn giáo đều phải được tính toán một cách thận trọng để tránh những phản ứng bất lợi về chính tri.. Chỉ khi nào quá cần mới bắt. 

(2) Duy tŕ t́nh trạng đó để theo dơi các hoạt động nội thành của CS nhất là trong khối PGAQ. Phá một đường dây th́ dễ nhưng móc nối lại để theo dơi th́ rất khó.

Thử t́m hiểu mánh khoé của HCM. 

Ngày 19/5/1941, tại Pác-Bó, Cao Bằng, HCM tuyên bố thành lập Mặt Trận Việt Minh (MTVM). Mặt trận này được thành lập căn cứ vào Nghị Quyết của Hội Nghị Trung Ương lần VIII của Đảng CS Đông Dương (CSĐ) họp vào đầu tháng 5/1941.  Theo Nghị Quyết này, MTVM sẽ quy tụ CÁC HỘI CỨU QUỐC.  Đảng CSĐ được coi là một đoàn thể cứu quốc nên là thành viên của Mặt Trận này và có trách nhiệm lănh đạo Mặt Trận.

Trong danh sách các hội cứu quốc của MTVM, người ta thấy có Hội Công Dân Cứu Quốc, Hội Nông Dân Cứu Quốc, Hội Thanh Niên Cứu Quốc, Hội Phụ Nữ Cứu Quốc, Hội Phụ Lăo Cứu Quốc, Hội Nhi Đồng Cứu Quốc,.v.v...  Về tôn giáo, người ta chỉ thấy có Hội Phật Giáo Cứu Quốc mà không thấy có Hội Cao Đài Cứu Quốc, Hội Phật Giáo Ḥa Hảo Cứu Quốc hay Hội Công Giáo Cứu Quốc.  Tại sao?  Sẽ bàn sau.

Tháng 8/1945, khi mới cướp được chính quyền, thế lực c̣n yếu, HCM đă t́m cách ve văn các tôn giáo để thu hút các tôn giáo đứng vào MTVM.  Nhân dịp lễ Giáng Sinh, lễ Phật Đản hay Rằm Tháng 7, HCM thường gởi thông điệp chúc mừng các tín đồ liên hê..

Mặc dầu được ve văn, các giáo sĩ Công giáo đă không tham gia MTVM v́ biết mặt trận này là của CS.  Trái lại, một số đông tăng sĩ PG đă gia nhập MTVM ngay từ khi mặt trận này thành lập và nhất là vào năm 1945 khi MTVM cướp chính quyền. Đa số các tăng sĩ gia nhập MTVM đều là người miền Trung, xuất thân từ Trường An Nam Phật Học ở Huế. Có lẽ họ đă chịu ảnh hưởng của 2 nhân vật quan trọng là HT Trí Độ (Giám đốc Trường An Nam Phật Học) và BS Lê Đ́nh Thám (Hội Trưởng Hội An Nam Phật Học).  Khi VM lên nắm chính quyền, HT Trí Độ được cử giữ chức Chủ Tịch Trung Ương Hội Phật Giáo Cứu Quốc, c̣n BS Lê Đ́nh Thám trở thành Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Miền Nam Trung Bô..  Một số tăng sĩ của 2 tổ chức trên đă vào chiến khu hoạt động cho VM.  Một số khác ở lại làm nội tuyến, thành lập những tổ chức ngoại vi nhằm giúp VC đánh bại phe Quốc gia và cùng với VC thiết lập chế độ CS.  Nhưng khi hoàn thành sự nghiệp "giải phóng dân tộc", CS đă quay lại thanh toán Phật Giáo.  Trong khi các tôn giáo khác đă nh́n ra dă tâm của CS ngay từ đầu th́ Phật Giáo lại không nh́n thấỵ

 

* Ḥa Thượng Thích Thiện Chiếu:

 

Không biết tên thật, sinh năm 1898 tại Rạch Giá (?), tu ở chùa Tam Bảo, Rạch Giá.  Ông là người có kiến thức rộng, ở trong Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học.  Chính ông là người đầu tiên đem Chủ Nghĩa CS vào PG và biến chùa Tam Bảo thành căn cứ địa của kháng chiến.  Năm 1940, ông đi theo phong trào Nam Kỳ Khởi Nghĩa của CS ở Hóc Môn, Gia Định.  Đến năm 1942, ông bị Pháp bắt và đày đi Côn Đảọ  Năm 1945, Pháp bị Nhật đuổi, VC cướp chính quyền, ông được đưa về làm Tỉnh Ủy G̣ Công.  Năm 1954, sau Hiệp định Geneva, ông theo VC ra Bắc.Củng cố xong miền bắc, HCM không dùng các thành phần tập kết ra Bắc nữa, ông được đưa vào Ủy Ban Xă Hội của Viện Triết Học rồi cho hưu trí.  Ông chết tại Hà Nội vào ngày 23/8/1974.

 

* Thượng Tọa Thích Mật Thể :

 

Ông có tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1921 tại làng Nguyệt Biều, Hương Thủy, Thừa Thiên.  Ông theo học HT Thích Giác Tiên ở chùa Trúc Lâm, Huế. Ông có soạn bộ "Việt Nam Phật Giáo Sử Lược". Ông thông thạo về Hán học. Về Tây học, ông học chưa tới nơi tới chốn, nhưng nhờ thông minh và chịu tự học, ông có kiến thức rất khá.

Năm 1945, ông gia nhập Hội Phật Giáo Cứu Quốc và làm Chủ Tịch Ủy Ban Phật Giáo Cứu Quốc Thừa Thiên.Ông theo HT Trí Độ hoạt động tích cực cho VM.  Nhờ ông và HT Trí Độ cổ vơ, rất nhiều tăng sĩ trong Hội An nam Phật Học đă gia nhập Hội PG Cứu Quốc.  V́ công trạng của ông, năm 1946 ông đă được CS bố trí làm Đại Biểu Quốc Hội khoá I.  Ông là viên chức cao cấp đầu tiên của PG tham gia chính quyền.

Khi quân Pháp trở lại chiếm Huế, ông theo VM tản cư ra Đồng Hới rối đến Vinh. Cùng đi với ông có Đại Đức Thích Thiện Mẫn.Trước khi đi, ông tập họp một số tăng sĩ tại chùa Thế Chí ở Đại Lộc, tỉnh Thừa Thiên, dặn ḍ những người này những công việc phải làm.Tham dự cuộc họp này có các Đại Đức Thích Đức Trạm, Thích Mẫn Giác, Thích Thiện Ân và 2 cư sĩ. Những người này sau đó đều trở về Huế.Trong thời gian chống Pháp, ông làm công tác hậu cần ở Liên Khu IV.  Sau Hiệp định Geneva, ông không được CS miền Bắc tin dùng, ông quay lại phê b́nh chế độ nên bị quản chế ở Nghệ An.  Nhiều người ở Nghệ An vào Nam cho biết ông phải lao động vất vả mới có ăn và chết năm 1961, lúc đó ông chỉ mới 49 tuổị Thích Mật Thể là người thông minh và ḥa nhă, không có tham vọng chính tri..  Ông bị VC lừa nên theo.  Khi ông khám phá ra sự gian dối của CS th́ đă muộn. Âu đó cũng là bài học làm cho ông ta gíac ngộ.

 

(c̣n tiếp)

 

 

  1. Giấc mơ lănh tụ (1)

  2. Giấc mơ lănh tụ (2)

  3. Giấc mơ lănh tụ (3)

  4. Giấc mơ lănh tụ (4)

  5. Giấc mơ lănh tụ (5)

  6. Giấc mơ lănh tụ (6)

  7. Giấc mơ lănh tụ (7)

  8. Giấc mơ lănh tụ (8)

  9. Giấc mơ lănh tụ (9)

  10. Giấc mơ lănh tụ (10)